- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

“NHẤT TƯỚNG CÔNG THÀNH VẠN CỐT KHÔ” (Một cảm nghĩ về phim “Mưa Đỏ”)

Thursday, September 11, 202510:04 PM(View: 14629)
MUA DO - NAT
MƯA ĐỎ


Trần Thuận Thanh

“NHẤT TƯỚNG CÔNG THÀNH VẠN CỐT KHÔ”

(Một cảm nghĩ về phim “Mưa Đỏ”)

 

Hơn hai tuần qua, bộ phim “Mưa Đỏ” đã tạo nên một hiệu ứng truyền thông chưa từng có trong lịch sử Điện ảnh Việt - vượt rất xa phim “Địa đạo - mặt trời trong lòng đất” từng làm mưa làm gió phòng vé mấy tháng trước, và tạo nên một đợt sóng dư luận mới - trong đó, khen nhiều hơn chê, chủ yếu là khen ăn theo dư luận; và cái “Khen” chủ yếu dựa trên một định đề quen thuộc nằm trong “chiến lược truyền thông” chính thống lâu nay ăn vào não trạng phần đông dân Việt: “Cần mô tả, ca ngợi sự hy sinh mất mát to lớn để hiểu cái giá của Hòa Bình, Độc lập - Tự do”…

Nhưng cho đến giờ này, giới chuyên môn bên Điện ảnh vẫn chưa có một tiếng nói chính thức nào về phim “Mưa Đỏ”. Mới xuất hiện ngày một nhiều ý kiến của người “trong cuộc” từng tham gia cuộc chiến Thành Quảng Trị vạch rõ sự sai lệch, xuyên tạc về lịch sử của tiểu thuyết “Mưa Đỏ” và phim ăn theo tiểu thuyết. Và giữa “Cơn sốt phòng vé” chưa hạ nhiệt, đã có những tiếng nói khá chuyên nghiệp phân tích chí lý về sự non kém nghề nghiệp của một nữ đạo diễn quân đội xuất hiện như một “ánh sao băng chói lọi” nhưng trước đó chẳng ai biết đến tên tuổi (trong hệ thống phim Nhà nước tài trợ “khủng” chủ yếu dành cho con cháu các “công thần”, như “Truyền thuyết Quán Tiên” (của đạo diễn mới ra trường là con cháu lãnh đạo cao cấp), “Bình Minh đỏ” (đạo diễn là NSND, con của một NSND là “thủ lĩnh” cũ của ngành phim truyện VN, v.v.). Và nữ nghệ sĩ mang hàm thượng tá này với tư cách đạo diễn của một bộ phim thực chất là “minh họa” một cách công phu, cầu kỳ, tốn kém cho tư tưởng “Chiến thắng bằng mọi giá” của những người ở “đẳng cấp” tự cho mình mang sứ mệnh “Người lính Tiên phong của Tiền đồn XHCN” (Vui gì hơn làm người lính đi đầu - Tố Hữu)…

Ở góc độ một khán giả bình thường đang làm công tác giáo dục & nghiên cứu văn hóa, tôi chỉ xin gợi ra chút ít về điều này: Bộ phim “Mưa Đỏ” được làm ra để làm gì, có ý nghĩa gì trong giai đoạn người ta vẫn gọi là “tiếp tục hằn gắn vết thương chiến tranh” và “hòa hợp hòa giải dân tộc thực sự”? Nhất là bộ phim (và tiểu thuyết) đã rơi vào quỹ đạo là tuyên truyền cho cái điều hàng thập kỷ nay thiên hạ phản bác, ghê sợ: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà nhà thơ Nguyễn Khôi trước đây từng nhắc lại qua bài thơ thời Đường là “Kỷ Hợi tuế” (Tào Tùng):

Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ,

Sinh dân hà kế lạc tiều tô.

Bằng quân mạc thoại phong hầu sự,

Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

( Dịch nghĩa:

Xứ có nhiều sông hồ rơi vào cơn chiến loạn,

Dân đen làm sao có thể yên vui sinh sống?

Các ông đừng có nói về chuyện phong hầu nữa,

Vì một tướng vinh danh thì có vạn xương khô vì loạn lạc).

và ông Nguyễn Khôi dịch thơ:

Năm Kỷ Hợi :

Giang Nam cuộc chiến đã bùng

Dân đen nào biết đến vùng nào yên?

"Phong hầu" thôi, chớ rùm beng

Một anh nên Tướng, vạn tên rơi đầu.

Rồi nhà thơ giải thích sơ qua nhưng gói gọn hồn cốt của một bài thơ nói lên sự thật: Bài thơ của Tào Tùng là vịnh sự việc vào năm Kỷ Hợi Tuế (879), Trấn Hải Tiết Độ Sứ là Cao Biền cầm quân giết hại tàn khốc quân khởi nghĩa Hoàng Sào… Người kiếm cỏ (Tiều Tô) nơi yên hàn đã nói với Bằng quân: "Xin anh chớ nói chuyện phong hầu" bởi vì điều đó thật đáng sợ - đó là thứ "giãi thây trăm họ làm công một người" - Đó là câu thơ cảnh báo "vạn cốt khô" là tội ác của chiến tranh. Chữ "cốt" là nhỡn tự "chữ mắt" thật rợn người… (Theo: thivien.net).

Chỉ cần đọc lại, đọc thêm một vài tư liệu lịch sử đáng tin cậy thì ta nhận ra ngay cái ý chí & kết quả của tinh thần phi nhân “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” nói trên, và nó đã vô tình được minh họa, rồi được quảng bá rầm rộ trong một phim “bom tấn” xét cho cùng là loại phim “Cúng cụ” mang tên “Mưa Đỏ” ra sao:

“TRẬN CHIẾN Ở THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ"

Giáo sư K. W. Taylor viết:  “Vào mùa Xuân năm 1972, Hà Nội huy động toàn bộ tiềm năng quân sự để mở một cuộc tổng tấn công ở miền Nam với hy vọng giành chiến thắng ngay tức khắc. Quân lực Việt Nam Cộng hoà đã đánh bại cuộc tấn công của bộ đội miền Bắc với sự hỗ trợ về hậu cần và sự yểm trợ của Không quân Mỹ” (A History Of The Vietnamese).

Trong tác phẩm Vietnam - A History (1983), nhà báo Stanley Karnow đã viết về cuộc chiến mùa Hè năm 1972 và trận chiến ở Thành cổ Quảng Trị: “Những người Cộng sản có nhiều lý do khi chuẩn bị cuộc tấn công vào đầu năm 1972. Họ hy vọng có thể ảnh hưởng tới chiến dịch tranh cử Tổng thống ở Mỹ và khi đã khởi đầu chiến dịch quân sự, họ hy vọng sẽ được Trung Quốc và Liên Xô tiếp tục hỗ trợ khi họ đã chứng minh khả năng chiến đấu của mình.

Nhưng trên tất cả, động lực mới liên quan tới một vấn đề cốt yếu: thế quân bình lực lượng giữa hai phía sẽ ảnh hưởng ra sao tới những cuộc đàm phán với Mỹ.

Và một lần nữa, nó lại cho thấy niềm tin của những người Cộng sản rằng chiến thắng quân sự quyết định thành công trong ngoại giao. Nếu họ giáng được một đòn trí mạng cho quân đội Sài Gòn, họ sẽ cho thấy sự thất bại của chủ trương Việt Nam hoá Chiến tranh và thuyết phục Mỹ tin rằng chỉ có thỏa thuận đạt được theo những điều kiện họ đưa ra là lối thoát duy nhất để chấm dứt cuộc chiến.

Báo Tiền Phong khẳng định rằng những chiến thắng trên chiến trường là ‘chìa khoá để đạt được sự dàn xếp về chính trị. Khi cái đầu qua được thì cái đuôi sẽ lọt’.

Vào ngày 30.3.1972, những người Cộng sản mở 3 đợt tấn công liên tiếp, huy động 120.000 bộ đội chính quy miền Bắc và mấy ngàn binh lính Mặt trận Giải phóng miền Nam để tiến hành cuộc tổng tấn công:

Đợt tấn công thứ nhất nhắm vào các tỉnh phía Bắc của miền Nam Việt Nam; đợt tấn công thứ hai nhắm vào các tỉnh cao nguyên và vùng duyên hải; đợt tấn công thứ ba nhắm vào Saigon và các vùng phụ cận.

Dù đã có nhiều thông tin tình báo, các chỉ huy Mỹ và Nam Việt Nam thật sự sửng sốt trước mức độ ác liệt và sự dài lâu của các cuộc tấn công, và cú sốc này lan tới cả các viên chức cao cấp ở Washington. 5 tuần trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird nói với các  dân biểu Hạ viện Mỹ rằng ‘những cuộc tấn công của Bắc Việt và Việt Cộng trên khắp miền Nam là điều bất khả’. Những trận đánh ác liệt chưa từng thấy ở một số nơi sẽ kéo dài tới tháng 6, gây ra thương vong rất lớn cho binh lính hai phía và các thường dân.

Quân đội Bắc Việt tập trung nỗ lực tấn công mạnh mẽ ở tỉnh phía Bắc của miền Nam Việt Nam.

Được trang bị trọng pháo của Liên Xô, rốc-két và xe tăng, 15.000 binh lính Bắc Việt tấn công từ 3 mũi: phía Đông từ Lào, từ Cambodia qua thung lũng Ashau và từ phía Bắc qua vùng phi quân sự. Sĩ quan chỉ huy vùng này là Trung tướng Hoàng Xuân Lãm - một sĩ quan kém năng lực đã rút lui thảm hại hồi năm ngoái trong chiến dịch Hạ Lào, được Tổng thống Thiệu giao quyền chỉ huy vì lòng trung thành với ông.

Tổng thống Thiệu miễn cưỡng thay tướng Hoàng Xuân Lãm bằng một sĩ quan chỉ huy có năng lực hơn là Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Tuy nhiên tướng Trưởng không tập hợp được binh lính của một trong hai sư đoàn của ông kinh hãi trước cuộc tấn công ác liệt của bộ đội Bắc Việt.

Bộ đội Bắc Việt chiếm được thành cổ Quảng Trị vào ngày 1 tháng 5 và giữ được cho tới tháng 9. Họ không muốn tiến về phía thành phố Huế, một phần vì hậu cần không cho phép họ thực hiện điều này và một phần cũng vì cuộc tấn công của họ chỉ nhằm mục đích chính trị.

Con đường ven biển từ Quảng Trị đi về phía Nam được gọi là ‘Đại lộ Kinh hoàng’ vì trọng pháo của bộ đội Bắc Việt và các tàu chiến của Mỹ ngoài khơi và máy bay đã giết chết hơn 2.000 thường dân và binh lính của quân đội Sài Gòn.

Dưới sự chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Quân đoàn 1 được tăng cường Lực lượng Tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được yểm trợ từ xa bởi Đệ thất Hạm đội của Mỹ ở ngoài khơi và Không quân Mỹ đã đẩy lui quân đội Bắc Việt, tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và các phần đất ở phía Nam sông Thạch Hãn.

Tổng thống Nixon đã viết: ‘Vấn đề thật sự là Bắc Việt sẵn sàng hy sinh để giành chiến thắng trong khi miền Nam Việt Nam không muốn trả một cái giá quá cao như vậy để tránh thất bại’. Điều Nixon nói cũng là điều ám ảnh người Mỹ từ khi bắt đầu can thiệp ở Việt Nam. Những người Cộng sản sẵn sàng chịu thương vong rất lớn để giành những thắng lợi rất nhỏ nhoi. Số thương vong của quân đội Bắc Việt trong cuộc tổng tấn công năm 1972 là 50.000 người chết và khoảng 50.000 người bị thương” (Vietnam - A History, tr. 639, 640, 642)

Tài liệu tổng kết Chiến dịch Mùa hè 1972 của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam (mã số KHTM/1972-BQP) cho biết: “Chúng ta đã thiệt hại nặng nề nhất kể từ sau Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968 mà cần phải một thời gian chừng 4 năm nữa mới có thể khôi phục lại”.

Ước chừng 225 xe tăng cùng pháo hạng nặng bị phá hủy. Theo Sổ tay Tác chiến: “Ta hy sinh 10.767, mất tích 1.550, bị bắt 98, bị thương 27.573, đào lạc ngũ 5.957, hàng 136. Tổng cộng là 46.081. Thiệt hại binh lực có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến"…

“Chiến sĩ hầu hết là sinh viên học sinh các trường đại học. Rất nhiều sinh viên Thủ đô Hà Nội xung phong vào chiến trường” (số liệu theo FB Tạ Ngọc Vinh).

(FB Huỳnh Duy Lộc).

 

Xin đọc thêm một số ý kiến khách quan & công tâm về phim “Mưa Đỏ”:

-       https://www.facebook.com/100004289162781/posts/3334705313349075/?rdid=ieGfmCPAhDsxBJip#

-       https://www.facebook.com/61561107727129/posts/122176806122370257/?rdid=HQpQCT3O7RvIYVNC#

-       https://www.facebook.com/100004427675316/posts/3304634699694087/?rdid=aG7kkNiGonOvMoJL#

-       https://www.facebook.com/61561107727129/posts/122177129690370257/?rdid=FOg5PLLatnkdq8Sz#
v.v.

Hà Nội, đầu tháng 9.2025

Trần Thuận Thanh

Send comment
Your Name
Your email address
Wednesday, June 30, 20211:14 AM(View: 33390)
Kết thúc ba ngày hội thảo từ 11 đến 13 tháng 6 vừa qua tại Cornwall thuộc miền nam Anh Quốc, Nhóm G7 – một tổ chức gồm bẩy nước dân chủ có nền kinh tế phát triển lớn nhất là Pháp, Đức, Ý, Nhật, Mỹ, Anh và Gia Nã Đại – cùng đồng ý tham gia vào một đề xướng đầy tham vọng, đó là hỗ trợ dự án giúp các quốc gia nghèo có nhu cầu phát triển xây dựng hạ tầng cơ sở trên toàn thế giới.
Monday, June 28, 202112:51 PM(View: 39348)
1957 một tạp chí có tên Bách Khoa do hai ôngHuỳnh Văn Lang, Hoàng Minh Tuynh sáng lập, xuất bản mỗi tháng hai kỳ, với quan niệm là: “Diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề Chính trị, Kinh tế, Văn hoá, Xã hội.” Nguồn tài chánh ban đầu của Bách Khoa là do đóng góp của một nhóm 30 người, gồm những nhà giáo, nhà báo, chuyên viên hay công tư chức cao cấp thời bấy giờ; mỗi người góp 1.000 đồng (lương tháng hàng giám đốc lúc đó khoảng 5.000 đồng) , tổng cộng được 29.500 đồng, một số tiền phải nói là khá lớn (theo TS Phạm Đỗ Chí, thì 1 US$ = 35 VN$ và số tiền ấy tương đương với hơn 20 lạng vàng theo thời giá 1957 lúc bấy giờ).
Thursday, June 3, 202110:29 PM(View: 36658)
Kịch bản tuồng "Liệu đố" (chữa bệnh ghen) có thể nói là một kịch bản văn học khá kỳ lạ. Khoác cái vỏ lụng thụng của những điển tích cổ, thơ Đường, Kinh thi..., nhưng kịch bản được viết ra từ trên một thế kỷ này tận cốt lõi lại là sự sống dân gian Việt, và điều đặc biệt nhất là chứa đựng nhiều yếu tố hiện đại trong nội dung tâm lý cũng như về hình thức biểu hiện. Tôi xin mạn phép được minh chứng điều này bằng chính văn bản vở tuồng "Liệu đố" mà tôi có được trong tay nhờ các nhà nghiên cứu dịch thuật Hán Nôm của Trời Văn Bình Định (“Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ” - Nxb Sân khấu, 2011).
Sunday, May 16, 20219:48 PM(View: 37431)
Ngày 5/5, TAND tỉnh Hoà Bình đã tuyên án 16 năm tù cho chị Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Tư. Trước đó, người con trai khác của chị, Trịnh Bá Phương bị công an chuyển từ trại giam vào viện tâm thần. Sự đàn áp khắc nghiệt của lãnh đạo ĐCS đối với gia đình chị, vô tình lại giúp tôi cảm nhận được cái “sức sống mãnh liệt” của những nông dân này. Và như Ls Đặng Đình Mạnh, tôi cũng rơi nước mắt khi đọc những chia sẻ của anh:"Chứng kiến sự đanh thép, bất khuất ... của họ tại tòa, mất tự chủ, tôi chảy nước mắt vì xấu hổ".
Saturday, May 15, 20214:04 PM(View: 40169)
"Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ." (NTV)
Monday, April 26, 20215:05 PM(View: 40410)
Thế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư. {Bây giờ} Qua hai câu thơ đó Nguyên Sa đã diễn tả tâm trạng của thế hệ ông, thế hệ của những người trai trẻ ở miền Nam thời 1954-75, đã nuôi nhiều kỳ vọng cho tương lai đất nước, nhưng chẳng bao lâu đầy tuyệt vọng trong một quê hương khói lửa.
Saturday, April 17, 202112:36 AM(View: 34913)
Trong cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà, của Trần Mai Hạnh (đăng nhiều kỳ trên tuần báo Văn Nghệ từ số 12 ra ngày 18.3.2000), tác giả tưởng tượng ra cuộc đối thoại như sau giữa Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn 1 và viên Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà nẵng: “An Phran-xít xộc vào giữa lúc Trưởng đang hối thúc đám tay chân thân tín tiêu hủy tài liệu. Thấy An Phran-xít, Trưởng không trịnh trọng bước tới bắt tay như mọi khi mà chỉ cất tiếng chào: - Xin chào Ngài Tổng lãnh sự! Tôi tưởng Ngài đã ra đi. - Sân bay hỗn loạn. Không một máy bay nào lên xuống được. Người của tôi đi chưa hết. Không một ai giúp tôi. Tôi phải can thiệp và tụi lính của ngài đã xông vào hành hung tôi.
Thursday, April 15, 202112:16 AM(View: 35997)
Trong số những «thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» ..., tất nhiên có cả ngày 30 tháng 4 năm 1975. Do đó, xác định lại nó như ngày thất bại chính trị văn hoá bi thảm nhất của lịch sử dân tộc, chính là góp phần giải ảo một huyền thoại nguy hại, thức tỉnh những ai còn chút lương tri để suy nghĩ một cách thực tế và trách nhiệm về tương lai đất nước. Đây không thể là một chiến thắng chính trị, vì sau đó đất nước trở lại mô hình Bắc thuộc tưởng đâu đã vĩnh viễn trôi qua, dân tộc bị phân hoá trầm trọng thành bao mảnh đối kháng (Bắc / Nam, cai trị / bị trị, trong nước / ngoài nước, trong đảng / ngoài đảng). Đây cũng không thể là một chiến thắng văn hoá khi kẻ cầm quyền đã tự tay tổ chức sự tụt hậu về mọi mặt của quốc gia (giáo dục, y tế...), phá hủy nền đạo lý cổ truyền thoát thai từ các đạo giáo toàn nhân loại mà không thay thế nổi bằng bất cứ chủ trương, chính sách giáo điều nào.
Monday, March 29, 202111:52 PM(View: 38036)
JOHN STEINBECK, NOBEL VĂN CHƯƠNG 1962 Sinh ngày 27/02/1902 tại Salinas, miền trung California. Sống và lớn lên trong một vùng thung lũng đồng quê xanh tươi, còn được gọi là “Salad Bowl” với dòng sông Salinas. Xong trung học (1919), có ước vọng viết văn, Steinbeck ghi tên học môn Văn chương Anh và cả lớp Viết văn / Creative writings tại Đại học danh tiếng Stanford, Palo Alto. Năm 1923, Steinbeck ghi tên học thêm môn Sinh Học / Biology tại Hopkins Marine Station, tại đây Steinbeck quen biết với William E. Ritter và quan tâm nhiều hơn tới Môi sinh / Ecology. Do theo học thất thường, ông rời Stanford 6 năm sau (1925) và không có một học vị nào. Steinbeck quyết định sang New York lập nghiệp, ông làm đủ loại công việc lao động tay chân để kiếm sống và tập sự làm báo, viết văn nhưng không thành công, không nhà xuất bản nào nhận in cuốn sách đầu tay của ông.
Thursday, March 25, 202110:32 PM(View: 34635)
Cách đây hơn hai chục năm, tôi có được xem một bộ phim tài liệu nghệ thuật (nhựa màu 3 cuốn) về chân dung nhạc sĩ Văn Cao, và có một tình tiết khiến tôi bị ám ảnh mãi - không phải vì sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, mà bởi sự thiếu "sang trọng" rất phản cảm của nó: những người làm phim đã buộc nhạc sĩ ngồi bên cây đàn piano, giơ cả hai khuỷu tay đập mạnh vào phím đàn như một người mất trí, hoặc căm hận ai đó, và không chỉ một lần! Người nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng tôn trọng phương tiện nghệ thuật của mình, trong thực tế không ai làm như vậy!