- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,564,214

KỊCH BẢN TUỒNG "CHỮA BỆNH GHEN" - MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT TÂM LÝ HIỆN ĐẠI

03 Tháng Sáu 202110:29 CH(Xem: 923)

QuynhPhu

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

KỊCH BẢN TUỒNG "CHỮA BỆNH GHEN" -

MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT TÂM LÝ HIỆN ĐẠI

 

 

Kịch bản tuồng "Liệu đố" (chữa bệnh ghen) có thể nói là một kịch bản văn học khá kỳ lạ. Khoác cái vỏ lụng thụng của những điển tích cổ, thơ Đường, Kinh thi..., nhưng kịch bản được viết ra từ trên một thế kỷ này tận cốt lõi lại là sự sống dân gian Việt, và điều đặc biệt nhất là chứa đựng nhiều yếu tố hiện đại trong nội dung tâm lý cũng như về hình thức biểu hiện. Tôi xin mạn phép được minh chứng điều này bằng chính văn bản vở tuồng "Liệu đố" mà tôi có được trong tay nhờ các nhà nghiên cứu dịch thuật Hán Nôm của Trời Văn Bình Định (“Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ” - Nxb Sân khấu, 2011).

 

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, "Liệu đố thuộc dòng dân dã như các vở Trương Ngáo, Trương Đồ Nhục, Nghêu Sò Ốc Hến, Lưu Bình-Dương Lễ… không cân đai mũ mãng". Nghĩa là, nó không có xuất xứ từ một tích cổ từng ghi trong sử sách nào hết, tức không dính líu tới bất kỳ sự kiện lịch sử hoặc nhân vật có thực nào! Về nội dung, nó đề cập trực diện tới Cái Ghen. Xưa cũng như nay, chứng bệnh khó chữa này rất phổ biến, và thời hiện tại, có lẽ nó càng phát triển gay gắt. Còn trong văn chương nước nhà, cái ghen của một người đàn bà quý tộc khiến Truyện Kiều vốn đã lừng danh về quá nhiều phương diện phải lưu lại cho đời cái biểu tượng đặc sắc "Nhà Ghen Hoạn Thư"!...

 

"Liệu đố" bắt đầu bằng câu chuyện anh cử nhân Châu Anh cùng với vợ là Ngọc Mai bàn tính chuyện đến kinh dự thi Hội. Lúc này, Ngọc Mai đã chứng tỏ tính hay ghen của mình khi nhất quyết không cho chồng đi, vì sợ chồng lúc công thành danh toại (đắc lộ) thì sẽ "Kiếm hầu xinh hầu tốt...chốn thị thành kiếm năm bảy đứa hầu áo đỏ, quần tía...". Nhưng không thể cản nổi bước phong vân, Ngọc Mai đành căn dặn chồng kỹ lưỡng, bắt thề bồi, trao cho chồng vòng ngọc uyên ương làm tín chấp... Châu Anh cùng hề đồng trên đường đến kinh kỳ thì gặp bọn tướng cướp Hắc Sát, Bạch Hoạch dẫn lâu la đón đường cướp của. May nhờ có cha con Thạch Nghị - Kim Liên giỏi võ đánh bọn cướp cứu giúp. Thầy trò Châu Anh chạy vào nhà Thạch Nghị trốn, riêng Châu Anh tình cờ lọt vào buồng ngủ của Kim Liên...Trước đó, Kim Liên nằm chiêm bao thấy một con cọp chạy vào buồng ngủ của mình, giờ đây thấy người lạ trong buồng, nàng sợ quá đánh thức cha dậy nhờ đoán xem điềm lành- dữ. Cha nàng đoán định là điềm lành, con gái sẽ gặp đức ông chồng là trang hào kiệt. Khi hỏi kỹ nguyên do, ông biết được Châu Anh đã đậu cống sĩ khoa Nhâm Dần, cho là "Bà nguyệt đã se duyên", ông bèn đề nghị Châu Anh kết nghĩa Châu Trần với con gái mình, mặc dù Châu Anh nói thật là mình đã có vợ nhà. Kim Liên mới đầu phản đối cuộc hôn nhân mà theo cô là ""đem con đi biếu", nhưng trước "Lời cha nói xót xa", nàng cũng vâng lời. Còn Châu Anh cũng rơi vào cái thế buộc phải ưng thuận, bởi theo lời Thạch Nghị, "Giường con tôi ông đã đặt mình" làm nhơ danh con gái lão... Thế là Châu Anh mặc nhiên có thêm vợ hai, dù miệng nói "Đã phỉ nguyện non sông/ Lại bén duyên cầm sắt", nhưng trong lòng thì lại nhờn nhợt lo sợ sư tử Hà Đông ở quê nhà!

 

Châu Anh từ biệt vợ mới đến kinh kỳ dự Hội thí, được nhạc phụ Thạch Nghị tiễn chân một đoạn dài. Kim Liên đã lục lấy vòng ngọc của chồng để làm kỷ niệm. (Đó là một đạo cụ quan trọng liên quan đến sự phát triển kịch tính về sau).

 

Ngọc Mai ở nhà đang trong tâm trạng nhớ thương, lo lắng cho chồng thì có dì Bảy Nhạn tới chơi, cho biết Châu Anh đã "Mua một hầu tốt tựa tiên sa"... Trong đoạn này, chúng ta thấy tác giả rất khéo léo khi miêu tả sự phát triển và xung đột tâm lý giữa hai nhân vật. Trước hết, ta cần lưu ý cái lối nhẩn nha đưa chuyện của Bảy Nhạn: từ nỗi buồn của mình lân la sang nỗi buồn của Ngọc Mai, đến nhận xét chung về đàn ông ("Được phòng này, khuây phòng nọ/ Ăn miếng cá, nhả miếng cơm") làm cơ sở cho tin "đồn lởn vởn"; từ đó Bảy Nhạn bắt đầu tung hoành trí tưởng tượng thay cho Ngọc Mai về cuộc tình kia, lại có sự phán xét chắc nịch về thứ đàn ông đã coi vợ nhà như "ngựa già trâu mỏi bất dụng". Kết cục là Ngọc Mai nổi điên lên, túm tóc Bảy Nhạn cho một trận. Tâm trạng Ngọc Mai lúc đó được nữ đồng nói hộ: "Bởi tại dì nói lẻo/ Làm cho mệ sợ thầm".

 

Khi sang nhà ông bà Hương mục xin thang thuốc "hạ hỏa", trước lời khuyên "Xin đừng ghen bóng" thì Ngọc Mai đã lại như lửa đổ thêm dầu, nàng đã thốt lên những lời chửi rủa của dân gian đối với người vợ bé của chồng: "Mả mẹ", "Mồ cha"... Với chữ nhẫn của bà Hương mục, người hiểu phận "Thân con gái mười hai bến nước" và hiểu thói thường đàn ông qua chồng mình, và nhất là trước lời khuyên cần bình tĩnh ra tận ngoài đó để "gặng đục lóng trong" rồi hành sự cũng chưa muộn, Ngọc Mai đã nguôi dần. Trước mặt gia đình hàng xóm trí thức, nàng đã trở lại lịch thiệp với những câu chữ bóng bẩy: "Muốn biết tuổi vàng/ Phải nhờ sức đá"... Nhưng khi về tới nhà, nàng đã lộ nguyên hình là một Sư tử cái Hà Đông với tất cả cơn cuồng nộ, gọi đối phương là "con đĩ ngựa" và thề "Quyết không dung mạng nó"! Kịch tính đã được đẩy lên một cao trào mới trong lúc Ngọc Mai hờn giận và bất cần truyền lệnh cho gia đinh trông coi nhà cửa để ra đi tìm chồng, cùng những lời nguyền rủa đối phương thật cay độc; sau đó thì nàng mường tượng ra cảnh chồng mình đang "kề vai dựa vế" cùng vợ mới, tự độc thoại bằng cách than khóc với chồng... Ở đây có hai nấc thúc đẩy tâm trạng ghen với những sắc thái phong phú, bởi sự can thiệp của hai người đàn bà đã tác động sâu sắc tới Ngọc Mai.

 

Xin hãy nhớ lại trường đoạn miêu tả cái ghen của dũng tướng da đen trung thực Ô-ten-lô trong vở kịch cùng tên của U. Sêc-xpia đã được đẩy lên từng bước như thế nào qua những lời đưa đẩy nham hiểm của I-a-gô để dẫn tới án mạng khủng khiếp sau đó, sẽ nhận ra: ông đồ Tú Diêu với tư cách là một nghệ sĩ ngôn từ cũng thực đáo để trong lĩnh vực hiểu biết và vận dụng tâm lý con người cho nhân vật của mình!

 

 

"Ngày phục thù báo oán" của Ngọc Mai cũng là ngày bọn tướng cướp Hắc Sát - Bạch Hoạch trả thù riêng với Thạch Nghị ngay tại tư dinh, nhân lúc lão đi vắng. Kim Liên bị chúng bắt sau một cuộc giao chiến. Trong khi hai tên tướng cướp đang tỏ ra cao thượng nhường nhịn nhau "chiến lợi phẩm" là trang thục nữ để làm người "vầy duyên tơ tóc", Ngọc Mai vô tình lạc vào lãnh địa của chúng; và giữa lúc nàng còn đang hận đến độ muốn "móc tròng con mắt" đối phương thì bị sa vào tay bọn cướp. Ngọc Mai bị giam cùng với Kim Liên.

 

Trong ngục tối, Ngọc Mai đau khổ vật vã, được Kim Liên bình tĩnh an ủi. Tình cờ, Ngọc Mai nhìn thấy vòng ngọc của Kim Liên thì bật khóc, hỏi ra mới biết: "Ngọc đó tức là ngọc đây/ Chồng em tức là chồng chị". Sau khi nghe Kim Liên giải thích mọi nguồn cơn, Ngọc Mai đã trân trọng ơn nghĩa trời biển của cha con Kim Liên, và thừa nhận rằng mình đã nhất thời oán trách người vô tội... Còn Kim Liên không những tỏ ra là một phụ nữ biết điều khi cúi xin Ngọc Mai tha thứ cho sự vô tình của mình (dù là cái vô tình "thiên duyên" - duyên trời ban), nàng còn thể hiện là một nữ lưu sáng suốt, thông minh, dũng cảm: Kim Liên bày mưu cùng Ngọc Mai hạ độc tên Bạch Hoạch rồi rủ nhau trốn thoát. Hắc Sát dẫn lâu la truy đuổi hai người.

 

Trong hoạn nạn, tình chị em thân thiết đã gắn kết Ngọc Mai với Kim Liên. Suốt chặng dài chạy trốn, Kim Liên luôn động viên giúp đỡ Ngọc Mai, và họ đã phải đối diện với lưỡi gươm tanh máu của bọn cướp truy sát đến cùng... Giữa khi nguy cấp, Kim Liên phải vừa đỡ gươm giáo vừa cõng Ngọc Mai tìm cách thoát vòng vây, thì cha nàng là Thạch Nghị kịp tìm đến nơi. Hắc Sát bị Thạch lão giết chết trong cuộc giao chiến...

 

Tất cả trở về dinh cơ Thạch Nghị. Tại đó, Ngọc Mai chìm trong nỗi nhớ thương, uất hận đến độ chết ngất đi, lâm trọng bệnh. Hiểu rằng Ngọc Mai đã mắc bệnh nội thương do chính mình gây ra, Kim Liên rất xót xa, nàng nguyện mắc tội bất hiếu là cắt da thịt mình lấy máu hòa vào thuốc cho Ngọc Mai uống... Ngọc Mai tỉnh lại, lòng tràn đầy nghi hoặc: vì sao mình vẫn còn sống an toàn cho đến lúc này…

 

Hiểu được tâm sự ngổn ngang của Ngọc Mai - mà căn cốt của chúng là mối ghen tuông dày vò, thần Thổ địa đã đưa linh hồn mẹ Ngọc Mai là bà Kim Cảnh từ cõi âm về cõi dương mong giải tỏa được mối ghen tuông đó. Trong chiêm bao, nhờ những lời lẽ giàu lý nặng tình của mẹ, và nhất là khi được mẹ báo mộng cho biết: Kim Liên đã cắt thịt hòa huyết cho mình uống, Ngọc Mai đã đột nhiên tỉnh ngộ về cái ơn nghĩa sánh với "trời sinh đất dưỡng" kia...

 

Đúng vào lúc đó, Kim Liên sinh hạ được một bé trai. Trước niềm hạnh phúc của người mẹ trẻ cùng nỗi "cảm thương" cho đứa bé "chưa thấy mặt cha", trái tim Ngọc Mai mềm lại; và nàng như bật khóc trước tấm lòng của một người làm cha được làm ông, trước nỗi mừng mừng tủi tủi của ân nhân Thạch lão - người mà nàng đã tự nhiên thốt gọi là "thân phụ". Nàng đề nghị được đáp đền ơn nghĩa "Cho trọn vẹn cha đâu con đó". Từ giờ khắc ấy, dù chồng chung còn đang lận đận đâu đó với công danh, nhưng ở nơi này "Chị em hòa thuận phỉ nguyền cùng nhau"...

 

Cái kết "Cha con chồng vợ sum vầy ấm êm" theo triết lý "ở hiền gặp lành" phù hợp với tâm lý chờ mong của dân gian, và cũng xuất phát từ những tình huống tâm lý chân thực, không hề có chút gượng ép nào!

 

Cảnh thần Thổ Địa hiện về và giấc chiêm bao gặp mẹ của Ngọc Mai là yếu tố phi thực duy nhất của "Liệu đố". Nhưng, thần Thổ Địa trong kịch bản này thực ra chỉ là  hiện thân của lương tri dân gian- người phát ngôn cho những điều của đạo lý tồn tại vượt qua mọi dây nhợ trói buộc xã hội. Và hồn bà Kim Cảnh, xét cho cùng cũng chỉ là tiếng nói của đáy sâu tâm hồn Ngọc Mai! Nếu như Ngọc Mai không sẵn có một trái tim lương thiện, lại không trải qua bao đận gian nguy để có dịp thấu hiểu lòng người, thì dù có hàng ngàn lần hồn mẹ hiện về cũng không thể gỡ bỏ nổi cơn ghen khiến nàng "Ôm lòng chịu trăm đường tức tối"! Những lời giảng giải của mẹ về đạo nghĩa làm người trong chiêm bao thực ra đã sẵn có trong lòng Ngọc Mai, hơn thế, chúng đã được kiểm nghiệm, được soi sáng bằng thực tiễn khốc liệt đầy máu lửa! Mượn hồn ma để khắc họa & khai thác tâm lý nhân vật chính một cách thấm thía, rung cảm, đầy sức thuyết phục - phải nói đó là sự tìm tòi sáng tạo quý báu của tác giả. Và, cũng như ở những vở tuồng khác của cụ Tú Diêu- ví như "Ngũ hổ bình liêu", cảnh ngộ càng éo le nguy hiểm bao nhiêu thì tình cảm con người càng có điều kiện bộc lộ sự gắn kết bấy nhiêu. Phải chăng, đó cũng là một trong những bí mật của sức cuốn hút người xem trong các tác phẩm nghệ thuật lớn xưa nay - đặc biệt là kịch?

 

Sự kiện kịch ở đây dồn dập nhưng không hề che lấp diễn biến phức tạp của tâm lý; còn sức mạnh của tâm lý tình cảm nhân vật đã dẫn dắt câu chuyện kịch một cách tự nhiên và hấp dẫn! Đằng sau/ bên cạnh cái hồi hộp do tình tiết câu chuyện đem lại, là cái thổn thức âu lo, cái quặn đau xé lòng xé ruột, là nỗi chua xót đắng cay… trong nội tâm nhân vật do ngoại cảnh tác động, do những quan hệ mới, những khám phá sự thật mới nảy sinh bởi các tình huống xung đột. Ngược lại, nhiều tình huống xung đột được tạo ra lại xuất phát bởi chính tâm trạng và các động lực tâm lý! Ngoài ra, kịch bản "Liệu đố" xử dụng khá điệu nghệ những lời độc thoại nội tâm và những cơn mơ, những ảo giác, sự mê man  của thủ pháp điện ảnh hiện đại khiến cho tác phẩm càng có sức thấm sâu và bùng nổ trong lòng người đọc kịch bản/ người xem diễn (mà cuộc gặp của Kim Liên với mẹ ở Âm phủ hiện về là tiêu biểu...). Đó cũng là bài học khá sinh tử đối với nhiều người làm nghề Sân khấu & Điện ảnh hôm nay; và trong các khoa Văn hay các khoa của Nghệ thuật biểu diễn, vở "Liệu đố" có thể được đưa vào giảng dạy như một kiểu mẫu của bộ môn Kịch học! Ở góc độ điện ảnh, tôi cho rằng, nếu được chuyển thể, kịch bản "Liệu đố" chứa đựng khá đầy đủ những yếu tố để hứa hẹn trở thành một bộ phim ăn khách và có giá trị nghệ thuật…

 

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã có một nhận xét chí lý về căn bản nội dung nghệ thuật vở tuồng "Liệu đố": "Phương thang của Quỳnh Phủ tiên sinh chữa cái bệnh kinh niên này (bệnh ghen - MA NAT) là kêu gọi lương tri, lương năng của con người thông cảm, chia sẻ cho nhau những vui buồn; nhường nhịn thương yêu nhau những được mất mới giải quyết nổi một vấn đề xã hội thường xảy ra mà không ai muốn cả. Điều quan trọng trong phương thang là vị thuốc sống thật, là sự thật. Biết được sự thật thì con người có thể sướng khổ sống bên nhau." (Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ- Sđd). Tôi thiển nghĩ, đó cũng là nguyên do chính khiến cho vở "Liệu đố" mang hơi thở của cuộc sống hiện đại và có sức sống lâu bền qua thời gian.

                    

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười 20151:23 CH(Xem: 20826)
Lạc Long Quân được viết chữ Hán là 貉龍 君, trong đó, chữ 貉 (bộ trĩ) mà người Việt, theo truyền thống từ ngàn xưa đến nay vẫn đọc là “lạc”. Tiền nhân Việt dường như đã cố tình dùng chữ 貉 dành cho Lạc Long Quân và không đọc theo đúng phiên thiết từ thư Hán là hạc (thú giống như con cầy), mạch (tộc ở phương bắc Trung Quốc) nhưng nhất định là “lạc” chắc hẳn phải có một dụng ý sâu kín nào đó và cho đến nay vẫn còn là bí ẩn văn tự...
12 Tháng Chín 201510:14 CH(Xem: 32212)
Về những nhà văn quân đội nổi tiếng với những tác phẩm (thơ cũng như văn) của họ, có thể kể những tên tuổi về thơ, như có Tường Linh, Phạm văn Bình, hay Linh Phương... Cả hai nhà thơ sau, đều nổi tiếng nhờ có thơ được cố nhạc sĩ Phạm Duy soạn thành ca khúc. (Phạm Văn Bình với ca khúc “Chuyện tình buồn,” và “Mười hai tháng anh đi”; Linh Phương với “Kỷ vật cho em”) (1). Về văn có thể kể Văn Quang (lớp trước). Lớp sau vài năm, có thể kể tới Trần Hoài Thư, Đào Vũ Anh Hùng, Huỳnh Văn Phú... Nhưng, nổi bật hơn cả, theo tôi vẫn là Nguyên Vũ (truyện) và, Phan Nhật Nam (bút ký, phóng sự).
08 Tháng Chín 201511:47 SA(Xem: 19061)
"Đời sống bên này có cái thực tế khắc nghiệt là vậy. Càng khắc nghiệt tôi càng trầm tĩnh. Nghiệm ra một điều: hãy làm hết sức mình cho một công việc tốt, cũng có lúc bù đắp lại. Những tấm tranh cũng đã từng nuôi sống tôi, tôi không thể bỏ vẽ được". (Đinh Cường)
20 Tháng Tám 201512:50 SA(Xem: 18681)
Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội. Năm 1946 mới 10 tuổi Nhật Tiến đã phải theo gia đình rời Hà Nội đi tản cư qua những tỉnh như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hoá, Phú Thọ
02 Tháng Tám 20152:00 SA(Xem: 18523)
Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học
05 Tháng Bảy 20151:57 SA(Xem: 16843)
Linh Bảo là một tên tuổi văn học của Miền Nam từ những năm 1950s. Các tác phẩm của Linh Bảo được lần lượt xuất bản tại Miền Nam từ 1953 tới 1975. Chỉ có Mây Tần là tuyển tập đoản văn duy nhất được xuất bản ở hải ngoại (1981). Sau 1975, không có một tác phẩm nào của Linh Bảo được in ở trong nước.
21 Tháng Sáu 20151:37 SA(Xem: 17917)
Mặc Đỗ nhà văn, nhà báo, dịch giả là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975. Sau 1975, sang Mỹ tỵ nạn ở cái tuổi 58 còn tràn đầy sức sáng tạo nhưng anh đã chọn một cuộc sống quy ẩn, chữ của Mai Thảo. Mặc Đỗ gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại -- [biển ngoài, chữ của Mặc Đỗ], thái độ chọn lựa đó khiến tên tuổi anh hầu như rơi vào quên lãng.
23 Tháng Năm 20153:54 SA(Xem: 18384)
Nền văn chương minh họa và phải đạo bén rễ sau thời Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) kéo dài hơn hai mươi năm bỗng hóa thân vào thời đầu Đổi Mới năm 87- 89 với những tác phẩm vượt trội. Xin tri ân tướng Trần Độ. Xin cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc. Cả hai vị này đã phà duỡng khí hồi sinh vào thây ma của thứ văn chươngvô hồn rập khuôn chính sách văn hóa Liên-Xô đã tạo ra những Quần Đảo Ngục Tù ( goulag) rồi còn lại kẹp thêm tính Mao-nhiều &Mao-ít hậu phong kiến đội tên giả là xã hội chủ nghĩa.
22 Tháng Năm 20153:47 SA(Xem: 27310)
Xung quanh câu chuyện Nguyễn Thị Lộ (NTL) và mối hoạ chu di của dòng họ Nguyễn Trãi quả đã không ít giấy mực bàn cãi, kể cả lý luận, nghiên cứu cho đến văn , thơ, kịch... đã có đến hàng trăm bài viết. Nhìn chung các loại ý kiến chưa thật thống nhất và tính thuyết phục chưa thật cao (1)...Chúng tôi xin được bàn thêm đôi điều về nghi án này với quan điểm không để tình cảm, thiên kiến lấn át sự thật.
13 Tháng Năm 20155:54 CH(Xem: 17377)
Với Nguyên Ngọc và Văn đoàn Độc lập, vấn đề còn nguyên. Làm gì với tự do đã giành lại sau khai trừ rồi ly khai? Làm gì với mục đích độc lập tách rời ra khỏi Hội? Ra khơi, lên đường, hay lo ngại “phạm pháp” sẽ khiến nhòa nhòa trong vận hành của hệ thống? Tháng 5-1954, hai chữ “Độc lập” thét vang trong lồng ngực của năm mươi ngàn binh sĩ chiến thắng trận Điên Biên, để cuối cùng là một nền độc lập hà khắc trong toàn trị. Tháng 5-2015, “vì một nền văn học Việt Nam tự do, nhân bản” in đậm trên trang web của Văn đoàn Độc lập. Công chúng trông chờ câu trả lời.