- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KỊCH BẢN TUỒNG "CHỮA BỆNH GHEN" - MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT TÂM LÝ HIỆN ĐẠI

03 Tháng Sáu 202110:29 CH(Xem: 35314)

QuynhPhu

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

KỊCH BẢN TUỒNG "CHỮA BỆNH GHEN" -

MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT TÂM LÝ HIỆN ĐẠI

 

 

Kịch bản tuồng "Liệu đố" (chữa bệnh ghen) có thể nói là một kịch bản văn học khá kỳ lạ. Khoác cái vỏ lụng thụng của những điển tích cổ, thơ Đường, Kinh thi..., nhưng kịch bản được viết ra từ trên một thế kỷ này tận cốt lõi lại là sự sống dân gian Việt, và điều đặc biệt nhất là chứa đựng nhiều yếu tố hiện đại trong nội dung tâm lý cũng như về hình thức biểu hiện. Tôi xin mạn phép được minh chứng điều này bằng chính văn bản vở tuồng "Liệu đố" mà tôi có được trong tay nhờ các nhà nghiên cứu dịch thuật Hán Nôm của Trời Văn Bình Định (“Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ” - Nxb Sân khấu, 2011).

 

Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, "Liệu đố thuộc dòng dân dã như các vở Trương Ngáo, Trương Đồ Nhục, Nghêu Sò Ốc Hến, Lưu Bình-Dương Lễ… không cân đai mũ mãng". Nghĩa là, nó không có xuất xứ từ một tích cổ từng ghi trong sử sách nào hết, tức không dính líu tới bất kỳ sự kiện lịch sử hoặc nhân vật có thực nào! Về nội dung, nó đề cập trực diện tới Cái Ghen. Xưa cũng như nay, chứng bệnh khó chữa này rất phổ biến, và thời hiện tại, có lẽ nó càng phát triển gay gắt. Còn trong văn chương nước nhà, cái ghen của một người đàn bà quý tộc khiến Truyện Kiều vốn đã lừng danh về quá nhiều phương diện phải lưu lại cho đời cái biểu tượng đặc sắc "Nhà Ghen Hoạn Thư"!...

 

"Liệu đố" bắt đầu bằng câu chuyện anh cử nhân Châu Anh cùng với vợ là Ngọc Mai bàn tính chuyện đến kinh dự thi Hội. Lúc này, Ngọc Mai đã chứng tỏ tính hay ghen của mình khi nhất quyết không cho chồng đi, vì sợ chồng lúc công thành danh toại (đắc lộ) thì sẽ "Kiếm hầu xinh hầu tốt...chốn thị thành kiếm năm bảy đứa hầu áo đỏ, quần tía...". Nhưng không thể cản nổi bước phong vân, Ngọc Mai đành căn dặn chồng kỹ lưỡng, bắt thề bồi, trao cho chồng vòng ngọc uyên ương làm tín chấp... Châu Anh cùng hề đồng trên đường đến kinh kỳ thì gặp bọn tướng cướp Hắc Sát, Bạch Hoạch dẫn lâu la đón đường cướp của. May nhờ có cha con Thạch Nghị - Kim Liên giỏi võ đánh bọn cướp cứu giúp. Thầy trò Châu Anh chạy vào nhà Thạch Nghị trốn, riêng Châu Anh tình cờ lọt vào buồng ngủ của Kim Liên...Trước đó, Kim Liên nằm chiêm bao thấy một con cọp chạy vào buồng ngủ của mình, giờ đây thấy người lạ trong buồng, nàng sợ quá đánh thức cha dậy nhờ đoán xem điềm lành- dữ. Cha nàng đoán định là điềm lành, con gái sẽ gặp đức ông chồng là trang hào kiệt. Khi hỏi kỹ nguyên do, ông biết được Châu Anh đã đậu cống sĩ khoa Nhâm Dần, cho là "Bà nguyệt đã se duyên", ông bèn đề nghị Châu Anh kết nghĩa Châu Trần với con gái mình, mặc dù Châu Anh nói thật là mình đã có vợ nhà. Kim Liên mới đầu phản đối cuộc hôn nhân mà theo cô là ""đem con đi biếu", nhưng trước "Lời cha nói xót xa", nàng cũng vâng lời. Còn Châu Anh cũng rơi vào cái thế buộc phải ưng thuận, bởi theo lời Thạch Nghị, "Giường con tôi ông đã đặt mình" làm nhơ danh con gái lão... Thế là Châu Anh mặc nhiên có thêm vợ hai, dù miệng nói "Đã phỉ nguyện non sông/ Lại bén duyên cầm sắt", nhưng trong lòng thì lại nhờn nhợt lo sợ sư tử Hà Đông ở quê nhà!

 

Châu Anh từ biệt vợ mới đến kinh kỳ dự Hội thí, được nhạc phụ Thạch Nghị tiễn chân một đoạn dài. Kim Liên đã lục lấy vòng ngọc của chồng để làm kỷ niệm. (Đó là một đạo cụ quan trọng liên quan đến sự phát triển kịch tính về sau).

 

Ngọc Mai ở nhà đang trong tâm trạng nhớ thương, lo lắng cho chồng thì có dì Bảy Nhạn tới chơi, cho biết Châu Anh đã "Mua một hầu tốt tựa tiên sa"... Trong đoạn này, chúng ta thấy tác giả rất khéo léo khi miêu tả sự phát triển và xung đột tâm lý giữa hai nhân vật. Trước hết, ta cần lưu ý cái lối nhẩn nha đưa chuyện của Bảy Nhạn: từ nỗi buồn của mình lân la sang nỗi buồn của Ngọc Mai, đến nhận xét chung về đàn ông ("Được phòng này, khuây phòng nọ/ Ăn miếng cá, nhả miếng cơm") làm cơ sở cho tin "đồn lởn vởn"; từ đó Bảy Nhạn bắt đầu tung hoành trí tưởng tượng thay cho Ngọc Mai về cuộc tình kia, lại có sự phán xét chắc nịch về thứ đàn ông đã coi vợ nhà như "ngựa già trâu mỏi bất dụng". Kết cục là Ngọc Mai nổi điên lên, túm tóc Bảy Nhạn cho một trận. Tâm trạng Ngọc Mai lúc đó được nữ đồng nói hộ: "Bởi tại dì nói lẻo/ Làm cho mệ sợ thầm".

 

Khi sang nhà ông bà Hương mục xin thang thuốc "hạ hỏa", trước lời khuyên "Xin đừng ghen bóng" thì Ngọc Mai đã lại như lửa đổ thêm dầu, nàng đã thốt lên những lời chửi rủa của dân gian đối với người vợ bé của chồng: "Mả mẹ", "Mồ cha"... Với chữ nhẫn của bà Hương mục, người hiểu phận "Thân con gái mười hai bến nước" và hiểu thói thường đàn ông qua chồng mình, và nhất là trước lời khuyên cần bình tĩnh ra tận ngoài đó để "gặng đục lóng trong" rồi hành sự cũng chưa muộn, Ngọc Mai đã nguôi dần. Trước mặt gia đình hàng xóm trí thức, nàng đã trở lại lịch thiệp với những câu chữ bóng bẩy: "Muốn biết tuổi vàng/ Phải nhờ sức đá"... Nhưng khi về tới nhà, nàng đã lộ nguyên hình là một Sư tử cái Hà Đông với tất cả cơn cuồng nộ, gọi đối phương là "con đĩ ngựa" và thề "Quyết không dung mạng nó"! Kịch tính đã được đẩy lên một cao trào mới trong lúc Ngọc Mai hờn giận và bất cần truyền lệnh cho gia đinh trông coi nhà cửa để ra đi tìm chồng, cùng những lời nguyền rủa đối phương thật cay độc; sau đó thì nàng mường tượng ra cảnh chồng mình đang "kề vai dựa vế" cùng vợ mới, tự độc thoại bằng cách than khóc với chồng... Ở đây có hai nấc thúc đẩy tâm trạng ghen với những sắc thái phong phú, bởi sự can thiệp của hai người đàn bà đã tác động sâu sắc tới Ngọc Mai.

 

Xin hãy nhớ lại trường đoạn miêu tả cái ghen của dũng tướng da đen trung thực Ô-ten-lô trong vở kịch cùng tên của U. Sêc-xpia đã được đẩy lên từng bước như thế nào qua những lời đưa đẩy nham hiểm của I-a-gô để dẫn tới án mạng khủng khiếp sau đó, sẽ nhận ra: ông đồ Tú Diêu với tư cách là một nghệ sĩ ngôn từ cũng thực đáo để trong lĩnh vực hiểu biết và vận dụng tâm lý con người cho nhân vật của mình!

 

 

"Ngày phục thù báo oán" của Ngọc Mai cũng là ngày bọn tướng cướp Hắc Sát - Bạch Hoạch trả thù riêng với Thạch Nghị ngay tại tư dinh, nhân lúc lão đi vắng. Kim Liên bị chúng bắt sau một cuộc giao chiến. Trong khi hai tên tướng cướp đang tỏ ra cao thượng nhường nhịn nhau "chiến lợi phẩm" là trang thục nữ để làm người "vầy duyên tơ tóc", Ngọc Mai vô tình lạc vào lãnh địa của chúng; và giữa lúc nàng còn đang hận đến độ muốn "móc tròng con mắt" đối phương thì bị sa vào tay bọn cướp. Ngọc Mai bị giam cùng với Kim Liên.

 

Trong ngục tối, Ngọc Mai đau khổ vật vã, được Kim Liên bình tĩnh an ủi. Tình cờ, Ngọc Mai nhìn thấy vòng ngọc của Kim Liên thì bật khóc, hỏi ra mới biết: "Ngọc đó tức là ngọc đây/ Chồng em tức là chồng chị". Sau khi nghe Kim Liên giải thích mọi nguồn cơn, Ngọc Mai đã trân trọng ơn nghĩa trời biển của cha con Kim Liên, và thừa nhận rằng mình đã nhất thời oán trách người vô tội... Còn Kim Liên không những tỏ ra là một phụ nữ biết điều khi cúi xin Ngọc Mai tha thứ cho sự vô tình của mình (dù là cái vô tình "thiên duyên" - duyên trời ban), nàng còn thể hiện là một nữ lưu sáng suốt, thông minh, dũng cảm: Kim Liên bày mưu cùng Ngọc Mai hạ độc tên Bạch Hoạch rồi rủ nhau trốn thoát. Hắc Sát dẫn lâu la truy đuổi hai người.

 

Trong hoạn nạn, tình chị em thân thiết đã gắn kết Ngọc Mai với Kim Liên. Suốt chặng dài chạy trốn, Kim Liên luôn động viên giúp đỡ Ngọc Mai, và họ đã phải đối diện với lưỡi gươm tanh máu của bọn cướp truy sát đến cùng... Giữa khi nguy cấp, Kim Liên phải vừa đỡ gươm giáo vừa cõng Ngọc Mai tìm cách thoát vòng vây, thì cha nàng là Thạch Nghị kịp tìm đến nơi. Hắc Sát bị Thạch lão giết chết trong cuộc giao chiến...

 

Tất cả trở về dinh cơ Thạch Nghị. Tại đó, Ngọc Mai chìm trong nỗi nhớ thương, uất hận đến độ chết ngất đi, lâm trọng bệnh. Hiểu rằng Ngọc Mai đã mắc bệnh nội thương do chính mình gây ra, Kim Liên rất xót xa, nàng nguyện mắc tội bất hiếu là cắt da thịt mình lấy máu hòa vào thuốc cho Ngọc Mai uống... Ngọc Mai tỉnh lại, lòng tràn đầy nghi hoặc: vì sao mình vẫn còn sống an toàn cho đến lúc này…

 

Hiểu được tâm sự ngổn ngang của Ngọc Mai - mà căn cốt của chúng là mối ghen tuông dày vò, thần Thổ địa đã đưa linh hồn mẹ Ngọc Mai là bà Kim Cảnh từ cõi âm về cõi dương mong giải tỏa được mối ghen tuông đó. Trong chiêm bao, nhờ những lời lẽ giàu lý nặng tình của mẹ, và nhất là khi được mẹ báo mộng cho biết: Kim Liên đã cắt thịt hòa huyết cho mình uống, Ngọc Mai đã đột nhiên tỉnh ngộ về cái ơn nghĩa sánh với "trời sinh đất dưỡng" kia...

 

Đúng vào lúc đó, Kim Liên sinh hạ được một bé trai. Trước niềm hạnh phúc của người mẹ trẻ cùng nỗi "cảm thương" cho đứa bé "chưa thấy mặt cha", trái tim Ngọc Mai mềm lại; và nàng như bật khóc trước tấm lòng của một người làm cha được làm ông, trước nỗi mừng mừng tủi tủi của ân nhân Thạch lão - người mà nàng đã tự nhiên thốt gọi là "thân phụ". Nàng đề nghị được đáp đền ơn nghĩa "Cho trọn vẹn cha đâu con đó". Từ giờ khắc ấy, dù chồng chung còn đang lận đận đâu đó với công danh, nhưng ở nơi này "Chị em hòa thuận phỉ nguyền cùng nhau"...

 

Cái kết "Cha con chồng vợ sum vầy ấm êm" theo triết lý "ở hiền gặp lành" phù hợp với tâm lý chờ mong của dân gian, và cũng xuất phát từ những tình huống tâm lý chân thực, không hề có chút gượng ép nào!

 

Cảnh thần Thổ Địa hiện về và giấc chiêm bao gặp mẹ của Ngọc Mai là yếu tố phi thực duy nhất của "Liệu đố". Nhưng, thần Thổ Địa trong kịch bản này thực ra chỉ là  hiện thân của lương tri dân gian- người phát ngôn cho những điều của đạo lý tồn tại vượt qua mọi dây nhợ trói buộc xã hội. Và hồn bà Kim Cảnh, xét cho cùng cũng chỉ là tiếng nói của đáy sâu tâm hồn Ngọc Mai! Nếu như Ngọc Mai không sẵn có một trái tim lương thiện, lại không trải qua bao đận gian nguy để có dịp thấu hiểu lòng người, thì dù có hàng ngàn lần hồn mẹ hiện về cũng không thể gỡ bỏ nổi cơn ghen khiến nàng "Ôm lòng chịu trăm đường tức tối"! Những lời giảng giải của mẹ về đạo nghĩa làm người trong chiêm bao thực ra đã sẵn có trong lòng Ngọc Mai, hơn thế, chúng đã được kiểm nghiệm, được soi sáng bằng thực tiễn khốc liệt đầy máu lửa! Mượn hồn ma để khắc họa & khai thác tâm lý nhân vật chính một cách thấm thía, rung cảm, đầy sức thuyết phục - phải nói đó là sự tìm tòi sáng tạo quý báu của tác giả. Và, cũng như ở những vở tuồng khác của cụ Tú Diêu- ví như "Ngũ hổ bình liêu", cảnh ngộ càng éo le nguy hiểm bao nhiêu thì tình cảm con người càng có điều kiện bộc lộ sự gắn kết bấy nhiêu. Phải chăng, đó cũng là một trong những bí mật của sức cuốn hút người xem trong các tác phẩm nghệ thuật lớn xưa nay - đặc biệt là kịch?

 

Sự kiện kịch ở đây dồn dập nhưng không hề che lấp diễn biến phức tạp của tâm lý; còn sức mạnh của tâm lý tình cảm nhân vật đã dẫn dắt câu chuyện kịch một cách tự nhiên và hấp dẫn! Đằng sau/ bên cạnh cái hồi hộp do tình tiết câu chuyện đem lại, là cái thổn thức âu lo, cái quặn đau xé lòng xé ruột, là nỗi chua xót đắng cay… trong nội tâm nhân vật do ngoại cảnh tác động, do những quan hệ mới, những khám phá sự thật mới nảy sinh bởi các tình huống xung đột. Ngược lại, nhiều tình huống xung đột được tạo ra lại xuất phát bởi chính tâm trạng và các động lực tâm lý! Ngoài ra, kịch bản "Liệu đố" xử dụng khá điệu nghệ những lời độc thoại nội tâm và những cơn mơ, những ảo giác, sự mê man  của thủ pháp điện ảnh hiện đại khiến cho tác phẩm càng có sức thấm sâu và bùng nổ trong lòng người đọc kịch bản/ người xem diễn (mà cuộc gặp của Kim Liên với mẹ ở Âm phủ hiện về là tiêu biểu...). Đó cũng là bài học khá sinh tử đối với nhiều người làm nghề Sân khấu & Điện ảnh hôm nay; và trong các khoa Văn hay các khoa của Nghệ thuật biểu diễn, vở "Liệu đố" có thể được đưa vào giảng dạy như một kiểu mẫu của bộ môn Kịch học! Ở góc độ điện ảnh, tôi cho rằng, nếu được chuyển thể, kịch bản "Liệu đố" chứa đựng khá đầy đủ những yếu tố để hứa hẹn trở thành một bộ phim ăn khách và có giá trị nghệ thuật…

 

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã có một nhận xét chí lý về căn bản nội dung nghệ thuật vở tuồng "Liệu đố": "Phương thang của Quỳnh Phủ tiên sinh chữa cái bệnh kinh niên này (bệnh ghen - MA NAT) là kêu gọi lương tri, lương năng của con người thông cảm, chia sẻ cho nhau những vui buồn; nhường nhịn thương yêu nhau những được mất mới giải quyết nổi một vấn đề xã hội thường xảy ra mà không ai muốn cả. Điều quan trọng trong phương thang là vị thuốc sống thật, là sự thật. Biết được sự thật thì con người có thể sướng khổ sống bên nhau." (Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ- Sđd). Tôi thiển nghĩ, đó cũng là nguyên do chính khiến cho vở "Liệu đố" mang hơi thở của cuộc sống hiện đại và có sức sống lâu bền qua thời gian.

                    

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 208)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 174)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 325)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 274)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 385)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 557)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1016)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1082)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1684)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1980)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 557)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11054)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17688)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16756)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 325)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 385)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1980)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2527)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 274)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2413)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2183)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2771)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1016)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1082)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1622)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2400)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 208)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 174)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1684)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2246)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3079)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14404)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30478)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36754)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12177)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13518)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3943)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5962)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5449)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6010)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6658)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8986)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11226)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.