- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
263,980

Hai Nhà Phê Bình Nghệ Thuật Bỉ Và Thụy Khuê Viết Về Họa Sĩ Phạm Tăng

30 Tháng Bảy 20181:48 CH(Xem: 17783)



TranhThienThai[5]
Thiên Thai - tranh Phạm Thăng

 

Hai nhà phê bình nghệ thuật Bỉ viết về họa sĩ  Phạm Tăng

 

 

 

Tháng 12/2008 hoạ sĩ Phạm Tăng nhờ tôi dịch hai bài viết của hai nhà phê bình nghệ thuật Bỉ, viết về ông, nhân dịp ông triển lãm tranh ở Bruxelles năm 1968. Sau đó, tôi không biết ông có đưa in hai bài này ở đâu chưa, hay chỉ giữ làm tài liệu cho mình và người thân. Khi tìm lại hồ sơ của ông sau khi ông mất ngày 9/1/2017, tôi thấy lại hai bài viết này và hôm nay, xin gửi đến độc giả để tưởng niệm hoạ sĩ Phạm Tăng và bởi, ngoài những nhận định giá trị của Paul de Swaef và Alain Germoz về nghệ thuật hội họa của Phạm Tăng, còn có những lời của chính hoạ sĩ nói về quan niệm giao hoà Đông Tây trong hội hoạ của mình.

Thụy Khuê
(30/07/2018)

 

 

Tác phẩm tuyệt vời của Phạm Tăng

Dưới những đổ vỡ của con người và xã hội tân tiến
là sự tìm kiếm một "ánh sáng nội tâm"


 

 Paul de Swaef

 

Tác phẩm của Phạm Tăng thật lạ lùng quyến rũ. Hội họa ư? Ta chỉ thấy những mảng khảm, cẩn, màu sắc và hình thái vô cùng khác biệt toát ra từ một phép luyện đan mê ảo của đất trời như những viên đá quý hoặc những tia phún thạch từ hoả sơn phun ra. Những sắc diện lấp lánh tia vân tựa như vô vàn dòng điện giao thoa này, khi đông đặc, đã đóng cứng cái trận đồ của những lực nguyên thuỷ như ta thường thấy trong rễ cây, trong nham thạch, trong vũ điệu của lửa.

Dấu ấn phi thường của cuộc đời, sự thạch hoá kỳ ảo của màu sắc, hài hoà cả đến những tế bào li ti, khiến sức quyến rũ của khối toàn bích này làm ta chóng mặt, tạo ra một thứ kinh hoàng không xác định nổi. Nói mãi cũng nhàm, chỉ cần nhìn những tựa đề : «Động mạch xanh», «Nẩy mầm», «Chẩy trong pha lê», «Hiển vi»... cũng đủ cho ta cái cảm giác sâu đậm về những bí mật của thiên nhiên.

 

Từ Hà Nội đến Sài Gòn, sang La Mã

Phạm Tăng gốc Hà Nội. Sau khi đã tích cực tham gia cuộc kháng Pháp dài, cuối cùng ông bỏ những người bạn cộng sản. Một nghệ sĩ làm sao có thể chấp nhận cái cứng rắn giáo điều và hậu quả khốc liệt của nó...

Nhưng ở Sàigòn, cũng không dễ dàng gì. Là nhà báo và vẽ hý họa chính trị dưới chế độ Ngô Đình Diệm, Phạm Tăng đã phải lìa xứ để trả giá cho sự tự do của mình. Từ hơn mười năm nay, ông sống ở La Mã, lập gia đình và có con. Tại đây, đã đâm chồi nẩy hạt tác phẩm của ông, thoát khỏi những thời thượng, những trường phái, làm khuynh đảo tất cả. Phạm Tăng tận dụng những kỹ thuật cổ truyền của quê hương: Sơn mài và đồ sứ góp phần sáng tạo tinh tế cái vũ trụ đến từ sâu thẳm trong tận cùng bản thể.

«Nghệ sĩ trước hết là nghệ nhân», Phạm Tăng vừa nói vừa bước mạnh trên những bức "toan" lạ lùng, cứng như đá.

 

Kinh nghiệm đạo Phật

Nếu phải gắn Phạm Tăng với một dòng tư tưởng, ông chọn Thiền trong Phật học, nhưng không chấp nhận nhãn hiệu bề ngoài. Ông cho rằng "Ở Tây phương, người ta thường quan niệm sai lầm rằng đạo Phật là một tôn giáo, thật ra đạo Phật chỉ là con đường tìm cách sống. Đức Phật nói: ta cũng không biết rõ hơn ngươi rằng ta từ đâu tới, tại sao ta lại ở đây. Đời là cuộc sang sông đầy sóng gió, chúng ta đang ở trên đò, phải tập cách chèo. Khi một người bị trúng tên, điều quan trọng không phải là hỏi ai ném, tại sao, mà là làm sao cho vết thương chóng lành. Chúng ta cũng phải tìm cách chữa lành những vết thương làm ta đớn đau, như thế.

"Đó là tư tưởng nền móng của đạo Phật. Những biến thể khác cũng chỉ là những cách làm lành vết thương khác nhau. Chủ nghiã Mac-xít cũng có thể là một phương pháp. Không ai giữ độc quyền trong việc tìm kiếm con đường minh triết".

 

Từ khước mất mình

Phạm Tăng nói tiếp: "Thiền là sự gặp gỡ giữa Phật và Lão. Giải pháp của đạo Lão khá thần bí. Đại khái là phải đạt tới cái lẽ "vạn vật huyền đồng". Nghệ sĩ Nhật Bản, Trung Hoa theo đạo Lão, thường tìm cách hoà đồng với với tất cả. Dù vẽ chim, vẽ núi, thì họ cũng đã là chim, là núi, như đã là chính họ. Cá thể chỉ là ngoại diện. Điều đó giải thích tại sao cái có cũng lại là cái không. Vì vậy, điểm quan trọng nhất trong nền hội hoạ này là cái không. Đạo Lão loại tất cả những lý thuyết chính trị. Lão chủ trương vô trị tuyệt đối theo đúng nguyên tắc: khi ta đã mở tất cả các cửa ra thì làm gì còn có kẻ cắp".

«Ý hướng lớn lao của họa sĩ là làm sao hoà mình với tạo vật, đạt tới niềm thanh lãng. Nhưng tôi thấy con đường này yếm thế, tiêu cực. Bởi nó dẫn đến cõi không, nó triệt tiêu ta. Tôi từ chối cái thống khoái trong sự mất mình. Khi vẽ đàn chim, sông hồ, đồi núi, ta cũng chỉ diễn tả cái sâu lắng trong tận cùng bản thể. Riêng tôi, dưới những đổ vỡ của con người và xã hội tân tiến, là cái nhân bên trong mà tôi muốn đạt, muốn tái tạo. Biết là mình chẳng biết gì, nhưng tôi vẫn cố gắng tìm hiểu, để chứng minh, trong hồng tâm của bản ngã vẫn có một thứ ánh sáng khuyếch tán, có khả năng cung cấp cho sự hiện hữu của mình một thứ cơ năng, và với tôi đó mới chính là liều thuốc công hiệu chữa những khổ đau và cô đơn của con người. Tôi tìm cách giao thoa những động tác của thiên nhiên mà không tự hoá mình với nó từ bên ngoài. Tôi không vẽ, tôi tạo. Hơn nữa, ở phương Đông nơi tôi sinh trưởng, không có khái niệm nghệ sĩ tạo hình, đã vẽ là kiêm cả cầm, kỳ, thi, họa.

"Anh bảo điều đáng chú ý trước tiên trong tranh tôi là nó đẹp. Nhưng tôi lại tin rằng không có lời giá trị nào mà không trau truốt. Mỗi lời mỗi câu của Phật, của Chúa là những lời châu ngọc. Nếu không châu ngọc thì người đời không nghe theo, không truyền tụng. Mọi quyến rũ đều phải trải qua cái đẹp. Nguyên khởi, bức tranh tự nó không thanh tĩnh, không sầu thảm. Nó hiện hữu, thế thôi. Như con bướm. Phải khám phá nó và quên kẻ đã tạo ra nó".

Có thể nghe Phạm Tăng nói trong nhiều giờ mà không chán. Nhưng lối tiếp cận kỳ thú với họa sĩ qua ngôn từ này vẫn chẳng giải thích được cái phép lạ hiển nhiên kỳ diệu mà mỗi tác phẩm của ông đem lại cho ta. Có thể chính ông cũng chẳng biết gì về cái tài năng thiên bẩm của mình, tại sao nó lại như thế. Cũng có thể bởi vì nghệ thuật là để diễn tả cái không thể diễn tả được.

Trái lại, điều rõ ràng là chúng ta đang đứng trước một trong những sáng tạo quan trọng nhất của thời này.

 Paul de Swaef (T.K dịch)

Báo Le Peuple, ngày 3/7/ 1968 (?) năm đề không rõ.


 

Một nghệ sĩ Việt giữa Bắc và Nam

 
 Alain Germoz


L
àm sao một nghệ sĩ Việt Nam có thể sống và sáng tác xa vùng đất mẹ?

Sự đối chọi giữa bạo lực chiến tranh và tế vi nghệ thuật có đủ để trả lời câu hỏi không?

Không đơn giản như thế.

Từ mười năm nay, họa sĩ Phạm Tăng sống ở La Mã. Tại đây, ông đã kiện toàn cái học của mình -sau khi đã theo nghành hội họa và kiến trúc ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội- Tại đây, ông vẽ và cũng từ đây, ông nổi tiếng ra nước ngoài. Hôm nay, ở Bruxelles, ông triển lãm lần đầu tiên tại Bỉ.

 

Thử thách thành công

Quan niệm, kỹ thuật và tinh thần Đông phương, nhưng tác phẩm của Phạm Tăng lại rất Tây phương ở tính hiện đại, ông đã thành công trong cuộc thử thách lạ lùng, giao hoà hai nền văn minh - hai độ mẫn cảm khác nhau. Ở chỗ mà người ta có thể trật đường và bị nghiền nát vì trọng lượng của cái không thể hàn gắn được, Phạm Tăng vượt qua dễ dàng đến độ làm ta sửng sốt. Và cũng chính vì thế ông đã trao một bài học khiêm tốn và mẫn cảm đến những người, ở phương Tây, thường nhắm vào cái bạo lực, cái thô thiển, cái vũ bão, bởi họ không còn tin vào hiệu lực của tế vi trong nghệ thuật. Thái độ tuyệt vọng ấy không xứng đáng với nền văn minh mà họ phải phản ánh, phải biểu trưng những nét tinh hoa. Khuynh hướng dẫn dắt người xem đóng góp tích cực vào tác phẩm của mình đã khiến họ dùng đến những xảo thuật như tạo ra các tác phẩm có chuyển động, có ánh sáng, có tiếng động, (sao không thêm cả mùi vị nữa?) hoặc các cách trình diễn được gọi là môi sinh, môi trường, như một thứ không gian tiêu khiển. Mà cũng chỉ có thể tiêu khiển được với điều kiện là nó hay, nó đẹp. Rất tiếc là trong nhiều trường hợp, người ta chỉ thấy sự đồng loã giữa con buôn và kẻ đầu cơ, chỉ thấy sự chối bỏ hoặc đặt lại khái niệm nghệ thuật. Tôi nói điều này ra chẳng vì hậu ý mà cũng chẳng vì thiên kiến. Dĩ nhiên là với kỹ thuật mới, chất liệu mới -nhất thiết phải- tạo ra những hình thái diễn đạt mới nằm ngoài những gì vẫn được gọi là hội họa và điêu khắc. Nhưng điều đó không có nghiã là hội họa và điêu khắc không còn dành cho chúng ta nhiều kinh ngạc nữa. Nghệ thuật chẳng có ích gì khi tự biến thành quốc tế trong cái nghiã san bằng, làm mất đi những tinh chất nguyên thủy. Hội họa của Phạm Tăng là một ví dụ. Nó không chối từ nguồn cội Đông phương.

 

Là bướm

Làm sao xây dựng một tác phẩm ? Trước hết tác phẩm là kết quả của sự kiên nhẫn lâu dài. Chậm rãi, tỷ mỉ, Phạm Tăng tạo một cấu trúc uyên bác tế vi với vô vàn mảnh nhỏ tích tạo thành một toàn cảnh gần như trừu tượng. Nhưng tất cả không chỉ giới hạn trong cái mà ta nhìn thấy. Nếu Phạm Tăng tìm cách giao cảm với vạn vật thì ông cũng không quên tìm cách giao cảm với người xem.

«Tôi muốn người xem và hoạ sĩ là một.

Đó là lý do của những bức tranh không đóng khung.

Tôi muốn người xem cảm thấy mình tự do. Khi không còn khung nữa, bức tranh trở thành một diện tích vô hạn. Người ta có thể vào bằng bất cứ cách nào, tự do di chuyển, góp phần trực tiếp sáng tạo một thế giới mới. Khó mường tượng một họa sĩ Tây phương vẽ ngựa. Nhưng tôi, tôi muốn người xem kề gần tranh tôi như một cánh bướm nhỏ ghé vào tâm hồn đoá hoa, hòn sỏi... »

Phạm Tăng nói với chúng tôi như thế. Và tác phẩm của ông ở đó thu hút, hớp hồn chúng tôi. Rồi họa sĩ biến mất. Người xem là bướm, thơ thẩn tìm đường, xà xuống, dính vào những mảng nhỏ của một thế giới không biết là thảo mộc, khoáng chất, hay vi phân. Trên hành trình này, sự đóng góp của người xem trở thành mặc tưởng. Nhưng Phạm Tăng cũng không coi thường những cách cảm thụ trực tiếp.

 

Ý nghiã của vô cùng

 Một bài trí lớn với chín bức trải hình thập tự trên nền đất. Cấu trúc có tính cách biến thể, nghiã là có thể đặt bức này cạnh bức kia theo bất cứ kiểu nào, các cạnh cũng đều ăn khít với nhau tạo thành một tổ hợp mới mà tính hài hoà không hề bị gián đoạn. Có thể nói đó là cách cấu trúc puzzle đẩy tới cùng. Tất nhiên phải hỏi: có bao nhiêu cách kết hợp như thế? Và Phạm Tăng đã tính trước: có 791.807.325.218.802.395.424.183.359.603.200.000.000 cách.

Tôi không kiểm lại.

Như vậy, ý nghiã của vô cùng có thể xẩy ra trong hội họa. Ở đây, nó làm cho ta chóng mặt vì những con số và vì tính cách tự do tuyệt đối của người biến đổi.

Lạ kỳ thay sự khác biệt giữa ngôn ngữ của một họa sĩ và những nhà chính trị. Nhưng làm sao có thể quên được những kẻ này trong khi số phận nước Việt từ nhiều năm nay nằm trong những cuộc thanh toán đẫm máu?

 

Cá mắc cạn

Có thể Phạm Tăng đoán được câu hỏi. Ít ra, ông đã dự đoán.

«Tôi nghĩ công việc lâu dài và cần thiết là xây dựng lại tinh thần dân tộc».

Ông nói thêm:

«Tôi không thích chém giết».

Nhưng Phạm Tăng đã trải qua chiến tranh. Ông đã tranh đấu trong 8 năm. Chống Nhật rồi chống Pháp. Xuất thân từ miền Bắc, ông đã chiến đấu bằng lý tưởng của tuổi trẻ. Sau bẩy năm, ông nhận thấy có những đổi thay trong hàng ngũ cộng sản. Sự chống lại đế quốc ngoại lai ban đầu được chêm vào một sự kiện mới: tình trạng đấu tranh giai cấp và ma lực thế quyền. Đấu tranh giai cấp đối với người Việt, chẳng có nghiã gì. Chỉ là việc áp dụng lý thuyết Mác-xít. Đáng buồn là những kẻ đã góp phần vào cuộc chiến chống đế quốc -Phật có, Khổng có, Chúa có, tất cả toàn dân đều đã góp phần vào- lại bị những người cộng sản coi là kẻ thù và phản động. Lòng nhân nhượng của người Việt nhường chỗ cho sự không khoan nhượng của cộng sản, ở miền Bắc và của đế quyền, ở trong Nam. Phạm Tăng, tham gia nghề báo trong 5 năm, thấy chính quyền không chấp nhận phê phán lẫn phản biện. Tự do ngôn luận bị đe dọa. Ông rời xứ.

«Tôi có cảm tưởng như mình là con cá mắc cạn. Nhưng thà mắc cạn còn hơn là bị cuốn theo bên này hay bên kia.»

 

Không khoan nhượng

Trung dung và cao nhã luôn luôn là vị trí của một người có văn hoá.

«Những nghệ sĩ, nhà văn, nhà tư tưởng đều làm cách mạng. Nhưng khi cách mạng thành công -tiến trình này ai cũng biết- gọng kìm khép lại bóp nghẹt những tiếng nói độc lập. Sự tranh giành quyền lực khiến những người cầm quyền thanh toán bạn đồng hành cũ bằng cách ép vào tội phản quốc».

Tình hình Việt Nam có hơi khác những gì ta nhìn thấy từ xa. Tối thiểu là hai triệu người bị loại bởi cả hai phiá, Bắc cũng như Nam. Ai quan tâm đến?

Những kẻ thương thuyết hoà bình -nếu thành công- có thể đem lại an lạc cho một dân tộc bị những ý thức hệ tàn phá với vô vàn thảm kịch.

 

 Công lý

Theo Phạm Tăng, phải chờ hai, ba mươi năm nữa mới có thể tìm lại sự yên bình. Ông, có bạn cả Nam lẫn Bắc, cho rằng cần phải có công lý. Công lý không phải là một thực thể luôn được chia sẻ đồng đều trong thế giới loài người. Nhưng có những việc quá rõ ràng. Phạm Tăng không tránh né khi nghe nói đến những kẻ đầy túi vì theo Mỹ. Đó là những kẻ phản quốc phải xử lý.

Ta thấy ngay rằng, bên này hay bên kia, đều có những kẻ phản quốc, phản động. Còn biết bao nhiêu trường hợp mà lương tâm phải giải quyết trước khi tìm lại niềm vui và sự êm dịu để sống - trong nhân nhượng. Để chính những người Việt Nam có thể thưởng thức được những giá trị tinh thần của một nghệ sĩ như Phạm Tăng.

Alain Germoz (TK dịch)

Vie/Spectacle, Bruxelles, ngày 4/12/1968


 

TranhVuTru[5]
Vũ Trụ - tranh Phạm Thăng



Lời từ tạ hoạ sĩ Phạm Tăng

 

 

Anh Phạm Tăng,

Trong gần một thế kỷ, ngoài gia đình, anh đã sống với: hội họa, thi ca và cô đơn.

Sự cô đơn ở anh, cũng là yếu tố xây dựng và xác định nghệ thuật của anh, mang ba lớp áo: Nỗi cô đơn của người nghệ sĩ, mà Nguyễn Tuân gọi là « pháp trường trắng », là nỗi cô đơn của nhà văn trước trang giấy trắng mà chữ không đến, của họa sĩ, trước giá vẽ, mà đường nét mầu sắc không hiển hiện. Đó là sự cô đơn siêu hình của bất lực, mà nghệ sĩ nào cũng trải qua. Lớp cô đơn thứ nhì, ở anh, là sự cô đơn của người lưu vong trên đất khách, không tìm thấy ở đâu một chỗ trọ cho tâm hồn. Và lớp áo thứ ba, là sự cô đơn của con người trước cuộc sống và cái chết: ta, cô đơn khi gia đình đoàn tụ, cô đơn giữa chợ, giữa lễ hội tưng bừng, bởi ta sinh ra một mình và ta chết cũng một mình, không một người thân nào có thể chia sẻ. Ở anh, ở tác phẩm của anh là sự hội tụ của ba niềm cô đơn tuyệt đối đó.

Rồi con đường anh đi, những mốc cuộc đời anh, vô tình hay hữu ý, đều gắn bó với những mốc lịch sử của đất nước.

Năm 1954, đất nước chia đôi. Ở tuổi 30, anh vào Nam để «xây dựng cuộc đời mới», nhưng bi kịch cá nhân đầu tiên đã xẩy đến: Tâm, người yêu, người vợ trẻ bé bỏng, ra đi trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát, anh phải trực diện lần đầu với cái chết, cái chết của người thân yêu nhất, cái chết của tình yêu, cái chết mà anh cho rằng mình có trách nhiệm. Nhưng anh đã gạt bi kịch sang một bên, anh lăn lộn làm báo. Đây là thời kỳ hoạt kê, biếm họa, tranh anh nhạo báng những trịch thượng, những xâm phạm tự do của một chế độ. Anh đã thành danh trong sự nổi loạn của người nghệ sĩ, chống lại tất cả những cấm đoán dù dưới hình thức nào. Những tiếng cười của anh thời đó, thực ra chỉ che nỗi đau bên trong của một niềm tiếc thương, sầu nhớ, hối hận khôn nguôi.     

Năm 1959, ở tuổi 34, anh sang Ý học thêm hội hoạ. Bắt đầu thời kỳ 15 năm mà anh goị là 15 năm lưu lạc của cô Kiều. Qua những năm trau dồi nghệ thuật, anh đã có những bằng cấp của viện Mỹ thuật Ý, anh đã đoạt những giải thưởng cao quý về hội họa; nhưng tất cả mọi nghệ sĩ chân chính đều biết bằng cấp và giải thưởng không bao giờ làm nên một họa sĩ tài năng.  

Tất cả phát xuất từ chính người nghệ sĩ, ở anh, ngoài tài năng, là nội lực và suy tư.

Ở trường ốc Ý, anh đã nắm bắt được kỹ năng của nghệ thuật trừu tượng, và từ đây, anh như cánh diều, bay bổng trên nền trời nghệ thuật với tất cả hành trang phải có của một nghệ sĩ thực thụ. Anh đã rời nghệ thuật hữu hình mà anh học từ trước, để tiến vào hội hoạ trừu tượng, vùng đất vô thể, vùng tự do mà anh có thể tung bay nòi bút, theo tư tưởng, theo cám xúc của riêng mình. Từ đây, anh một mình một cõi, anh đã tạo ra thế giới Phạm Tăng và thế giới này là xác thịt và tâm hồn anh. Chính thời gian này (1959-1975) anh sáng tác nhiều nhất, anh đã bôn ba mang tranh đi triển lãm khắp nơi, từ Ý, sang Hoà Lan, Bỉ, sang cả Brésil, Los Angeles... anh đã đọc được những bài báo của giới chuyên môn khâm phục tài năng của anh. Nhưng 15 năm này cũng là quãng đời cô đơn nhất của anh: anh vẽ một mình những bức tranh ngoại khổ, anh chất từng mảng tranh lên xe hơi đem đi triển lãm, một mình, đi ngày đêm trong gió mưa, băng giá của một Âu châu, không chú ý đến tài năng của một người da vàng nhược tiểu, và người Việt không rành hội họa, không xem tranh, không tham dự. Người Việt thường chỉ chú ý đến việc anh đoạt giải này giải nọ, họ ca tụng những giải thưởng anh đoạt ở trời Tây như một vinh hạnh, nhưng không thiết tha tìm hiểu nghệ thuật của anh. Đó là niềm đau thứ nhì trong nỗi cô đơn của anh.

- 1975, là ngõ quặt thứ hai của đời anh: Anh chuyển tù đất Ý sang đất Pháp, tất nhiên vì hoàn cảnh riêng tư, nhưng cũng chính từ hoàn cảnh riêng tư này, lại thoát ra sự lựa chọn cuộc sống của con người: Bi kịch đất nước đã dồn bao nhiêu con thuyền di tản dạt ra biển Thái bình, và có lẽ anh muốn chấm dứt quãng đời 15 năm lưu lạc, để tiến đến một quãng đời bình yên hon, gần gụi đồng bào anh, vừa bỏ nước ra đi, anh chọn đất Pháp. Có lẽ anh tin rằng đất Pháp sẽ là nơi đất lành chim đậu chăng? Nhưng sự thực không diễn ra như thế: có lẽ anh không ngờ đất  Pháp lại nhắc nhở cho anh quá nhiều kỷ niệm đau thương trong quá khứ, thời niên thiếu, anh đã thấy những đán áp đẫm máu của thực dân Pháp trong những vụ càn quét ở Yên Mô, Ninh Bình, quê hương anh. Quá khứ hiện về, đậm nét. Anh sống hàng ngày những ám ảnh ấy, như một cơn ác mộng, một niềm hoang tưởng. Vậy anh có thể sáng tác được chăng? Sáng tác gì ? Cho ai xem? Những câu hỏi khó đáp. Chưa kể còn phải chịu cảnh bon chen của một hoạ sỹ, khi phải «bán mình» cầu cạnh thế giới buôn tranh. Anh đã quyết định đoạn tuyệt, ngừng vẽ, và cũng từ đó, anh không dây dưa với người Pháp, không xin nhập tịch, không nhận trợ cấp y tế và bất cứ trợ cấp nào, anh về ẩn dật: «Xoá từ nay chữ Phạm Tăng; Cái danh vô nghiã làm thằng không tên».

 

Nhưng không vẽ, không có nghĩa là dứt bỏ nghệ thuật. Anh trở về với thơ. Nói « trở về» bởi vì có lẽ chưa bao giờ anh «dứt» thơ.

Không biết anh bắt đầu làm thơ từ bao giờ, nhưng rõ ràng là từ khi Tâm mất, anh mới có những câu thơ tuyệt vời, anh đã đục được vào bí mật của cái chết, anh biết rõ âm dương nối kết như thế nào. Anh tìm được đường đi lối về giữa sống và chết. Trong suốt thời kỳ sung mãn của hội hoạ, anh nuôi sống cảm hứng bằng tình yêu và cái chết, như thể tất cả những gì diễn trong hội họa, phát xuất từ Tâm thơ và tất cả những gì trong thơ phát xuất từ hội họa. Đối với anh thơ và họa không còn biên giới nữa, cũng như cõi tử, sinh, không hai, mà một. 

Anh để lại hai kiệt tác hội hoạ : một bức anh đặt tên là Vũ trụ. Anh vẽ càn khôn với hằng hà tinh thể đi từ vi mô đến vĩ mô. Anh vẽ anh, bởi anh với vũ trụ là một: «Vũ trụ và tôi một bất phân».

Bức tranh thứ nhì anh không đặt tên, mỗi nguời xem, mỗi lần xem, có thể đặt cho nó một tên:  sáng, nó là vũ trụ thiên thần, chiều, nó là vũ trụ mây mưa, trong mơ, nó là vũ trụ hằng nga khỏa thân trên cung Quảng...

Anh Phạm Tăng, hôm nay tiễn anh, em đặt tên nó là Thiên thai.

Chúc anh thuận gió bay về vũ trụ thiên thai mà anh đã sáng tạo và để lại cho đời.  

Thụy Khuê

Paris, 18/1/2017    

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Bảy 20216:30 CH(Xem: 4982)
Giữa những ngày nóng nực tháng 6 này, giữa cơn "địa chấn" của lòng người trước chủ quyền Đất Nước bị xâm phạm trắng trợn từ nhiều năm nay, tôi đã bỗng nhớ đến một bài thơ yêu nước Tây Ban Nha do chính nhà văn Lưu Trọng Lư đọc cho nghe, cách đây gần ba chục năm, trong căn buồng của nhà văn đối diện phía sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
30 Tháng Sáu 20211:14 SA(Xem: 5148)
Kết thúc ba ngày hội thảo từ 11 đến 13 tháng 6 vừa qua tại Cornwall thuộc miền nam Anh Quốc, Nhóm G7 – một tổ chức gồm bẩy nước dân chủ có nền kinh tế phát triển lớn nhất là Pháp, Đức, Ý, Nhật, Mỹ, Anh và Gia Nã Đại – cùng đồng ý tham gia vào một đề xướng đầy tham vọng, đó là hỗ trợ dự án giúp các quốc gia nghèo có nhu cầu phát triển xây dựng hạ tầng cơ sở trên toàn thế giới.
28 Tháng Sáu 202112:51 CH(Xem: 5193)
1957 một tạp chí có tên Bách Khoa do hai ôngHuỳnh Văn Lang, Hoàng Minh Tuynh sáng lập, xuất bản mỗi tháng hai kỳ, với quan niệm là: “Diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề Chính trị, Kinh tế, Văn hoá, Xã hội.” Nguồn tài chánh ban đầu của Bách Khoa là do đóng góp của một nhóm 30 người, gồm những nhà giáo, nhà báo, chuyên viên hay công tư chức cao cấp thời bấy giờ; mỗi người góp 1.000 đồng (lương tháng hàng giám đốc lúc đó khoảng 5.000 đồng) , tổng cộng được 29.500 đồng, một số tiền phải nói là khá lớn (theo TS Phạm Đỗ Chí, thì 1 US$ = 35 VN$ và số tiền ấy tương đương với hơn 20 lạng vàng theo thời giá 1957 lúc bấy giờ).
03 Tháng Sáu 202110:29 CH(Xem: 5330)
Kịch bản tuồng "Liệu đố" (chữa bệnh ghen) có thể nói là một kịch bản văn học khá kỳ lạ. Khoác cái vỏ lụng thụng của những điển tích cổ, thơ Đường, Kinh thi..., nhưng kịch bản được viết ra từ trên một thế kỷ này tận cốt lõi lại là sự sống dân gian Việt, và điều đặc biệt nhất là chứa đựng nhiều yếu tố hiện đại trong nội dung tâm lý cũng như về hình thức biểu hiện. Tôi xin mạn phép được minh chứng điều này bằng chính văn bản vở tuồng "Liệu đố" mà tôi có được trong tay nhờ các nhà nghiên cứu dịch thuật Hán Nôm của Trời Văn Bình Định (“Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ” - Nxb Sân khấu, 2011).
16 Tháng Năm 20219:48 CH(Xem: 5989)
Ngày 5/5, TAND tỉnh Hoà Bình đã tuyên án 16 năm tù cho chị Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Tư. Trước đó, người con trai khác của chị, Trịnh Bá Phương bị công an chuyển từ trại giam vào viện tâm thần. Sự đàn áp khắc nghiệt của lãnh đạo ĐCS đối với gia đình chị, vô tình lại giúp tôi cảm nhận được cái “sức sống mãnh liệt” của những nông dân này. Và như Ls Đặng Đình Mạnh, tôi cũng rơi nước mắt khi đọc những chia sẻ của anh:"Chứng kiến sự đanh thép, bất khuất ... của họ tại tòa, mất tự chủ, tôi chảy nước mắt vì xấu hổ".
15 Tháng Năm 20214:04 CH(Xem: 5851)
"Gần đây, qua bao nhiêu biến cố dồn dập trong cuộc đời Trần Hoài Thư, đã đến lúc không thể không có một bài viết về người bạn văn, như một tấm thiệp mừng 50 năm ngày cưới – 50th Gold anniversary của đôi vợ chồng Nguyễn Ngọc Yến – Trần Hoài Thư, một “đám cưới nhà binh” của thế kỷ, với rất nhiều hạnh phúc cùng với nhiều khổ đau khi cả hai sắp bước vào tuổi 80. Cũng nhân đây, có một gợi ý với các bạn trẻ trong và ngoài nước đang chuẩn bị luận án tiến sĩ văn học, thì chân dung văn hoá của Trần Hoài Thư cùng với nỗ lực phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam 1954 – 1975 là một đề tài vô cùng phong phú và hấp dẫn, rất xứng đáng để các bạn khám phá và dấn thân vào. Các bạn cũng không còn nhiều thời gian – nói theo cách ví von của nhà văn trẻ Trần Vũ, chiếc kim đồng hồ trên tay anh Trần Hoài Thư đã chỉ 12 giờ kém 5 phút sắp qua nửa đêm và chỉ sau năm phút phù du đó, khi Trần Hoài Thư trở thành “người của trăm năm cũ”, tất cả sẽ bị lớp bụi thời gian mau chóng phủ mờ." (NTV)
26 Tháng Tư 20215:05 CH(Xem: 6957)
Thế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư. {Bây giờ} Qua hai câu thơ đó Nguyên Sa đã diễn tả tâm trạng của thế hệ ông, thế hệ của những người trai trẻ ở miền Nam thời 1954-75, đã nuôi nhiều kỳ vọng cho tương lai đất nước, nhưng chẳng bao lâu đầy tuyệt vọng trong một quê hương khói lửa.
17 Tháng Tư 202112:36 SA(Xem: 5291)
Trong cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà, của Trần Mai Hạnh (đăng nhiều kỳ trên tuần báo Văn Nghệ từ số 12 ra ngày 18.3.2000), tác giả tưởng tượng ra cuộc đối thoại như sau giữa Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn 1 và viên Tổng lãnh sự Mỹ tại Đà nẵng: “An Phran-xít xộc vào giữa lúc Trưởng đang hối thúc đám tay chân thân tín tiêu hủy tài liệu. Thấy An Phran-xít, Trưởng không trịnh trọng bước tới bắt tay như mọi khi mà chỉ cất tiếng chào: - Xin chào Ngài Tổng lãnh sự! Tôi tưởng Ngài đã ra đi. - Sân bay hỗn loạn. Không một máy bay nào lên xuống được. Người của tôi đi chưa hết. Không một ai giúp tôi. Tôi phải can thiệp và tụi lính của ngài đã xông vào hành hung tôi.
15 Tháng Tư 202112:16 SA(Xem: 5094)
Trong số những «thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» ..., tất nhiên có cả ngày 30 tháng 4 năm 1975. Do đó, xác định lại nó như ngày thất bại chính trị văn hoá bi thảm nhất của lịch sử dân tộc, chính là góp phần giải ảo một huyền thoại nguy hại, thức tỉnh những ai còn chút lương tri để suy nghĩ một cách thực tế và trách nhiệm về tương lai đất nước. Đây không thể là một chiến thắng chính trị, vì sau đó đất nước trở lại mô hình Bắc thuộc tưởng đâu đã vĩnh viễn trôi qua, dân tộc bị phân hoá trầm trọng thành bao mảnh đối kháng (Bắc / Nam, cai trị / bị trị, trong nước / ngoài nước, trong đảng / ngoài đảng). Đây cũng không thể là một chiến thắng văn hoá khi kẻ cầm quyền đã tự tay tổ chức sự tụt hậu về mọi mặt của quốc gia (giáo dục, y tế...), phá hủy nền đạo lý cổ truyền thoát thai từ các đạo giáo toàn nhân loại mà không thay thế nổi bằng bất cứ chủ trương, chính sách giáo điều nào.
29 Tháng Ba 202111:52 CH(Xem: 6174)
JOHN STEINBECK, NOBEL VĂN CHƯƠNG 1962 Sinh ngày 27/02/1902 tại Salinas, miền trung California. Sống và lớn lên trong một vùng thung lũng đồng quê xanh tươi, còn được gọi là “Salad Bowl” với dòng sông Salinas. Xong trung học (1919), có ước vọng viết văn, Steinbeck ghi tên học môn Văn chương Anh và cả lớp Viết văn / Creative writings tại Đại học danh tiếng Stanford, Palo Alto. Năm 1923, Steinbeck ghi tên học thêm môn Sinh Học / Biology tại Hopkins Marine Station, tại đây Steinbeck quen biết với William E. Ritter và quan tâm nhiều hơn tới Môi sinh / Ecology. Do theo học thất thường, ông rời Stanford 6 năm sau (1925) và không có một học vị nào. Steinbeck quyết định sang New York lập nghiệp, ông làm đủ loại công việc lao động tay chân để kiếm sống và tập sự làm báo, viết văn nhưng không thành công, không nhà xuất bản nào nhận in cuốn sách đầu tay của ông.