- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Hai Nhà Phê Bình Nghệ Thuật Bỉ Và Thụy Khuê Viết Về Họa Sĩ Phạm Tăng

30 Tháng Bảy 20181:48 CH(Xem: 48870)



TranhThienThai[5]
Thiên Thai - tranh Phạm Thăng

 

Hai nhà phê bình nghệ thuật Bỉ viết về họa sĩ  Phạm Tăng

 

 

 

Tháng 12/2008 hoạ sĩ Phạm Tăng nhờ tôi dịch hai bài viết của hai nhà phê bình nghệ thuật Bỉ, viết về ông, nhân dịp ông triển lãm tranh ở Bruxelles năm 1968. Sau đó, tôi không biết ông có đưa in hai bài này ở đâu chưa, hay chỉ giữ làm tài liệu cho mình và người thân. Khi tìm lại hồ sơ của ông sau khi ông mất ngày 9/1/2017, tôi thấy lại hai bài viết này và hôm nay, xin gửi đến độc giả để tưởng niệm hoạ sĩ Phạm Tăng và bởi, ngoài những nhận định giá trị của Paul de Swaef và Alain Germoz về nghệ thuật hội họa của Phạm Tăng, còn có những lời của chính hoạ sĩ nói về quan niệm giao hoà Đông Tây trong hội hoạ của mình.

Thụy Khuê
(30/07/2018)

 

 

Tác phẩm tuyệt vời của Phạm Tăng

Dưới những đổ vỡ của con người và xã hội tân tiến
là sự tìm kiếm một "ánh sáng nội tâm"


 

 Paul de Swaef

 

Tác phẩm của Phạm Tăng thật lạ lùng quyến rũ. Hội họa ư? Ta chỉ thấy những mảng khảm, cẩn, màu sắc và hình thái vô cùng khác biệt toát ra từ một phép luyện đan mê ảo của đất trời như những viên đá quý hoặc những tia phún thạch từ hoả sơn phun ra. Những sắc diện lấp lánh tia vân tựa như vô vàn dòng điện giao thoa này, khi đông đặc, đã đóng cứng cái trận đồ của những lực nguyên thuỷ như ta thường thấy trong rễ cây, trong nham thạch, trong vũ điệu của lửa.

Dấu ấn phi thường của cuộc đời, sự thạch hoá kỳ ảo của màu sắc, hài hoà cả đến những tế bào li ti, khiến sức quyến rũ của khối toàn bích này làm ta chóng mặt, tạo ra một thứ kinh hoàng không xác định nổi. Nói mãi cũng nhàm, chỉ cần nhìn những tựa đề : «Động mạch xanh», «Nẩy mầm», «Chẩy trong pha lê», «Hiển vi»... cũng đủ cho ta cái cảm giác sâu đậm về những bí mật của thiên nhiên.

 

Từ Hà Nội đến Sài Gòn, sang La Mã

Phạm Tăng gốc Hà Nội. Sau khi đã tích cực tham gia cuộc kháng Pháp dài, cuối cùng ông bỏ những người bạn cộng sản. Một nghệ sĩ làm sao có thể chấp nhận cái cứng rắn giáo điều và hậu quả khốc liệt của nó...

Nhưng ở Sàigòn, cũng không dễ dàng gì. Là nhà báo và vẽ hý họa chính trị dưới chế độ Ngô Đình Diệm, Phạm Tăng đã phải lìa xứ để trả giá cho sự tự do của mình. Từ hơn mười năm nay, ông sống ở La Mã, lập gia đình và có con. Tại đây, đã đâm chồi nẩy hạt tác phẩm của ông, thoát khỏi những thời thượng, những trường phái, làm khuynh đảo tất cả. Phạm Tăng tận dụng những kỹ thuật cổ truyền của quê hương: Sơn mài và đồ sứ góp phần sáng tạo tinh tế cái vũ trụ đến từ sâu thẳm trong tận cùng bản thể.

«Nghệ sĩ trước hết là nghệ nhân», Phạm Tăng vừa nói vừa bước mạnh trên những bức "toan" lạ lùng, cứng như đá.

 

Kinh nghiệm đạo Phật

Nếu phải gắn Phạm Tăng với một dòng tư tưởng, ông chọn Thiền trong Phật học, nhưng không chấp nhận nhãn hiệu bề ngoài. Ông cho rằng "Ở Tây phương, người ta thường quan niệm sai lầm rằng đạo Phật là một tôn giáo, thật ra đạo Phật chỉ là con đường tìm cách sống. Đức Phật nói: ta cũng không biết rõ hơn ngươi rằng ta từ đâu tới, tại sao ta lại ở đây. Đời là cuộc sang sông đầy sóng gió, chúng ta đang ở trên đò, phải tập cách chèo. Khi một người bị trúng tên, điều quan trọng không phải là hỏi ai ném, tại sao, mà là làm sao cho vết thương chóng lành. Chúng ta cũng phải tìm cách chữa lành những vết thương làm ta đớn đau, như thế.

"Đó là tư tưởng nền móng của đạo Phật. Những biến thể khác cũng chỉ là những cách làm lành vết thương khác nhau. Chủ nghiã Mac-xít cũng có thể là một phương pháp. Không ai giữ độc quyền trong việc tìm kiếm con đường minh triết".

 

Từ khước mất mình

Phạm Tăng nói tiếp: "Thiền là sự gặp gỡ giữa Phật và Lão. Giải pháp của đạo Lão khá thần bí. Đại khái là phải đạt tới cái lẽ "vạn vật huyền đồng". Nghệ sĩ Nhật Bản, Trung Hoa theo đạo Lão, thường tìm cách hoà đồng với với tất cả. Dù vẽ chim, vẽ núi, thì họ cũng đã là chim, là núi, như đã là chính họ. Cá thể chỉ là ngoại diện. Điều đó giải thích tại sao cái có cũng lại là cái không. Vì vậy, điểm quan trọng nhất trong nền hội hoạ này là cái không. Đạo Lão loại tất cả những lý thuyết chính trị. Lão chủ trương vô trị tuyệt đối theo đúng nguyên tắc: khi ta đã mở tất cả các cửa ra thì làm gì còn có kẻ cắp".

«Ý hướng lớn lao của họa sĩ là làm sao hoà mình với tạo vật, đạt tới niềm thanh lãng. Nhưng tôi thấy con đường này yếm thế, tiêu cực. Bởi nó dẫn đến cõi không, nó triệt tiêu ta. Tôi từ chối cái thống khoái trong sự mất mình. Khi vẽ đàn chim, sông hồ, đồi núi, ta cũng chỉ diễn tả cái sâu lắng trong tận cùng bản thể. Riêng tôi, dưới những đổ vỡ của con người và xã hội tân tiến, là cái nhân bên trong mà tôi muốn đạt, muốn tái tạo. Biết là mình chẳng biết gì, nhưng tôi vẫn cố gắng tìm hiểu, để chứng minh, trong hồng tâm của bản ngã vẫn có một thứ ánh sáng khuyếch tán, có khả năng cung cấp cho sự hiện hữu của mình một thứ cơ năng, và với tôi đó mới chính là liều thuốc công hiệu chữa những khổ đau và cô đơn của con người. Tôi tìm cách giao thoa những động tác của thiên nhiên mà không tự hoá mình với nó từ bên ngoài. Tôi không vẽ, tôi tạo. Hơn nữa, ở phương Đông nơi tôi sinh trưởng, không có khái niệm nghệ sĩ tạo hình, đã vẽ là kiêm cả cầm, kỳ, thi, họa.

"Anh bảo điều đáng chú ý trước tiên trong tranh tôi là nó đẹp. Nhưng tôi lại tin rằng không có lời giá trị nào mà không trau truốt. Mỗi lời mỗi câu của Phật, của Chúa là những lời châu ngọc. Nếu không châu ngọc thì người đời không nghe theo, không truyền tụng. Mọi quyến rũ đều phải trải qua cái đẹp. Nguyên khởi, bức tranh tự nó không thanh tĩnh, không sầu thảm. Nó hiện hữu, thế thôi. Như con bướm. Phải khám phá nó và quên kẻ đã tạo ra nó".

Có thể nghe Phạm Tăng nói trong nhiều giờ mà không chán. Nhưng lối tiếp cận kỳ thú với họa sĩ qua ngôn từ này vẫn chẳng giải thích được cái phép lạ hiển nhiên kỳ diệu mà mỗi tác phẩm của ông đem lại cho ta. Có thể chính ông cũng chẳng biết gì về cái tài năng thiên bẩm của mình, tại sao nó lại như thế. Cũng có thể bởi vì nghệ thuật là để diễn tả cái không thể diễn tả được.

Trái lại, điều rõ ràng là chúng ta đang đứng trước một trong những sáng tạo quan trọng nhất của thời này.

 Paul de Swaef (T.K dịch)

Báo Le Peuple, ngày 3/7/ 1968 (?) năm đề không rõ.


 

Một nghệ sĩ Việt giữa Bắc và Nam

 
 Alain Germoz


L
àm sao một nghệ sĩ Việt Nam có thể sống và sáng tác xa vùng đất mẹ?

Sự đối chọi giữa bạo lực chiến tranh và tế vi nghệ thuật có đủ để trả lời câu hỏi không?

Không đơn giản như thế.

Từ mười năm nay, họa sĩ Phạm Tăng sống ở La Mã. Tại đây, ông đã kiện toàn cái học của mình -sau khi đã theo nghành hội họa và kiến trúc ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội- Tại đây, ông vẽ và cũng từ đây, ông nổi tiếng ra nước ngoài. Hôm nay, ở Bruxelles, ông triển lãm lần đầu tiên tại Bỉ.

 

Thử thách thành công

Quan niệm, kỹ thuật và tinh thần Đông phương, nhưng tác phẩm của Phạm Tăng lại rất Tây phương ở tính hiện đại, ông đã thành công trong cuộc thử thách lạ lùng, giao hoà hai nền văn minh - hai độ mẫn cảm khác nhau. Ở chỗ mà người ta có thể trật đường và bị nghiền nát vì trọng lượng của cái không thể hàn gắn được, Phạm Tăng vượt qua dễ dàng đến độ làm ta sửng sốt. Và cũng chính vì thế ông đã trao một bài học khiêm tốn và mẫn cảm đến những người, ở phương Tây, thường nhắm vào cái bạo lực, cái thô thiển, cái vũ bão, bởi họ không còn tin vào hiệu lực của tế vi trong nghệ thuật. Thái độ tuyệt vọng ấy không xứng đáng với nền văn minh mà họ phải phản ánh, phải biểu trưng những nét tinh hoa. Khuynh hướng dẫn dắt người xem đóng góp tích cực vào tác phẩm của mình đã khiến họ dùng đến những xảo thuật như tạo ra các tác phẩm có chuyển động, có ánh sáng, có tiếng động, (sao không thêm cả mùi vị nữa?) hoặc các cách trình diễn được gọi là môi sinh, môi trường, như một thứ không gian tiêu khiển. Mà cũng chỉ có thể tiêu khiển được với điều kiện là nó hay, nó đẹp. Rất tiếc là trong nhiều trường hợp, người ta chỉ thấy sự đồng loã giữa con buôn và kẻ đầu cơ, chỉ thấy sự chối bỏ hoặc đặt lại khái niệm nghệ thuật. Tôi nói điều này ra chẳng vì hậu ý mà cũng chẳng vì thiên kiến. Dĩ nhiên là với kỹ thuật mới, chất liệu mới -nhất thiết phải- tạo ra những hình thái diễn đạt mới nằm ngoài những gì vẫn được gọi là hội họa và điêu khắc. Nhưng điều đó không có nghiã là hội họa và điêu khắc không còn dành cho chúng ta nhiều kinh ngạc nữa. Nghệ thuật chẳng có ích gì khi tự biến thành quốc tế trong cái nghiã san bằng, làm mất đi những tinh chất nguyên thủy. Hội họa của Phạm Tăng là một ví dụ. Nó không chối từ nguồn cội Đông phương.

 

Là bướm

Làm sao xây dựng một tác phẩm ? Trước hết tác phẩm là kết quả của sự kiên nhẫn lâu dài. Chậm rãi, tỷ mỉ, Phạm Tăng tạo một cấu trúc uyên bác tế vi với vô vàn mảnh nhỏ tích tạo thành một toàn cảnh gần như trừu tượng. Nhưng tất cả không chỉ giới hạn trong cái mà ta nhìn thấy. Nếu Phạm Tăng tìm cách giao cảm với vạn vật thì ông cũng không quên tìm cách giao cảm với người xem.

«Tôi muốn người xem và hoạ sĩ là một.

Đó là lý do của những bức tranh không đóng khung.

Tôi muốn người xem cảm thấy mình tự do. Khi không còn khung nữa, bức tranh trở thành một diện tích vô hạn. Người ta có thể vào bằng bất cứ cách nào, tự do di chuyển, góp phần trực tiếp sáng tạo một thế giới mới. Khó mường tượng một họa sĩ Tây phương vẽ ngựa. Nhưng tôi, tôi muốn người xem kề gần tranh tôi như một cánh bướm nhỏ ghé vào tâm hồn đoá hoa, hòn sỏi... »

Phạm Tăng nói với chúng tôi như thế. Và tác phẩm của ông ở đó thu hút, hớp hồn chúng tôi. Rồi họa sĩ biến mất. Người xem là bướm, thơ thẩn tìm đường, xà xuống, dính vào những mảng nhỏ của một thế giới không biết là thảo mộc, khoáng chất, hay vi phân. Trên hành trình này, sự đóng góp của người xem trở thành mặc tưởng. Nhưng Phạm Tăng cũng không coi thường những cách cảm thụ trực tiếp.

 

Ý nghiã của vô cùng

 Một bài trí lớn với chín bức trải hình thập tự trên nền đất. Cấu trúc có tính cách biến thể, nghiã là có thể đặt bức này cạnh bức kia theo bất cứ kiểu nào, các cạnh cũng đều ăn khít với nhau tạo thành một tổ hợp mới mà tính hài hoà không hề bị gián đoạn. Có thể nói đó là cách cấu trúc puzzle đẩy tới cùng. Tất nhiên phải hỏi: có bao nhiêu cách kết hợp như thế? Và Phạm Tăng đã tính trước: có 791.807.325.218.802.395.424.183.359.603.200.000.000 cách.

Tôi không kiểm lại.

Như vậy, ý nghiã của vô cùng có thể xẩy ra trong hội họa. Ở đây, nó làm cho ta chóng mặt vì những con số và vì tính cách tự do tuyệt đối của người biến đổi.

Lạ kỳ thay sự khác biệt giữa ngôn ngữ của một họa sĩ và những nhà chính trị. Nhưng làm sao có thể quên được những kẻ này trong khi số phận nước Việt từ nhiều năm nay nằm trong những cuộc thanh toán đẫm máu?

 

Cá mắc cạn

Có thể Phạm Tăng đoán được câu hỏi. Ít ra, ông đã dự đoán.

«Tôi nghĩ công việc lâu dài và cần thiết là xây dựng lại tinh thần dân tộc».

Ông nói thêm:

«Tôi không thích chém giết».

Nhưng Phạm Tăng đã trải qua chiến tranh. Ông đã tranh đấu trong 8 năm. Chống Nhật rồi chống Pháp. Xuất thân từ miền Bắc, ông đã chiến đấu bằng lý tưởng của tuổi trẻ. Sau bẩy năm, ông nhận thấy có những đổi thay trong hàng ngũ cộng sản. Sự chống lại đế quốc ngoại lai ban đầu được chêm vào một sự kiện mới: tình trạng đấu tranh giai cấp và ma lực thế quyền. Đấu tranh giai cấp đối với người Việt, chẳng có nghiã gì. Chỉ là việc áp dụng lý thuyết Mác-xít. Đáng buồn là những kẻ đã góp phần vào cuộc chiến chống đế quốc -Phật có, Khổng có, Chúa có, tất cả toàn dân đều đã góp phần vào- lại bị những người cộng sản coi là kẻ thù và phản động. Lòng nhân nhượng của người Việt nhường chỗ cho sự không khoan nhượng của cộng sản, ở miền Bắc và của đế quyền, ở trong Nam. Phạm Tăng, tham gia nghề báo trong 5 năm, thấy chính quyền không chấp nhận phê phán lẫn phản biện. Tự do ngôn luận bị đe dọa. Ông rời xứ.

«Tôi có cảm tưởng như mình là con cá mắc cạn. Nhưng thà mắc cạn còn hơn là bị cuốn theo bên này hay bên kia.»

 

Không khoan nhượng

Trung dung và cao nhã luôn luôn là vị trí của một người có văn hoá.

«Những nghệ sĩ, nhà văn, nhà tư tưởng đều làm cách mạng. Nhưng khi cách mạng thành công -tiến trình này ai cũng biết- gọng kìm khép lại bóp nghẹt những tiếng nói độc lập. Sự tranh giành quyền lực khiến những người cầm quyền thanh toán bạn đồng hành cũ bằng cách ép vào tội phản quốc».

Tình hình Việt Nam có hơi khác những gì ta nhìn thấy từ xa. Tối thiểu là hai triệu người bị loại bởi cả hai phiá, Bắc cũng như Nam. Ai quan tâm đến?

Những kẻ thương thuyết hoà bình -nếu thành công- có thể đem lại an lạc cho một dân tộc bị những ý thức hệ tàn phá với vô vàn thảm kịch.

 

 Công lý

Theo Phạm Tăng, phải chờ hai, ba mươi năm nữa mới có thể tìm lại sự yên bình. Ông, có bạn cả Nam lẫn Bắc, cho rằng cần phải có công lý. Công lý không phải là một thực thể luôn được chia sẻ đồng đều trong thế giới loài người. Nhưng có những việc quá rõ ràng. Phạm Tăng không tránh né khi nghe nói đến những kẻ đầy túi vì theo Mỹ. Đó là những kẻ phản quốc phải xử lý.

Ta thấy ngay rằng, bên này hay bên kia, đều có những kẻ phản quốc, phản động. Còn biết bao nhiêu trường hợp mà lương tâm phải giải quyết trước khi tìm lại niềm vui và sự êm dịu để sống - trong nhân nhượng. Để chính những người Việt Nam có thể thưởng thức được những giá trị tinh thần của một nghệ sĩ như Phạm Tăng.

Alain Germoz (TK dịch)

Vie/Spectacle, Bruxelles, ngày 4/12/1968


 

TranhVuTru[5]
Vũ Trụ - tranh Phạm Thăng



Lời từ tạ hoạ sĩ Phạm Tăng

 

 

Anh Phạm Tăng,

Trong gần một thế kỷ, ngoài gia đình, anh đã sống với: hội họa, thi ca và cô đơn.

Sự cô đơn ở anh, cũng là yếu tố xây dựng và xác định nghệ thuật của anh, mang ba lớp áo: Nỗi cô đơn của người nghệ sĩ, mà Nguyễn Tuân gọi là « pháp trường trắng », là nỗi cô đơn của nhà văn trước trang giấy trắng mà chữ không đến, của họa sĩ, trước giá vẽ, mà đường nét mầu sắc không hiển hiện. Đó là sự cô đơn siêu hình của bất lực, mà nghệ sĩ nào cũng trải qua. Lớp cô đơn thứ nhì, ở anh, là sự cô đơn của người lưu vong trên đất khách, không tìm thấy ở đâu một chỗ trọ cho tâm hồn. Và lớp áo thứ ba, là sự cô đơn của con người trước cuộc sống và cái chết: ta, cô đơn khi gia đình đoàn tụ, cô đơn giữa chợ, giữa lễ hội tưng bừng, bởi ta sinh ra một mình và ta chết cũng một mình, không một người thân nào có thể chia sẻ. Ở anh, ở tác phẩm của anh là sự hội tụ của ba niềm cô đơn tuyệt đối đó.

Rồi con đường anh đi, những mốc cuộc đời anh, vô tình hay hữu ý, đều gắn bó với những mốc lịch sử của đất nước.

Năm 1954, đất nước chia đôi. Ở tuổi 30, anh vào Nam để «xây dựng cuộc đời mới», nhưng bi kịch cá nhân đầu tiên đã xẩy đến: Tâm, người yêu, người vợ trẻ bé bỏng, ra đi trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát, anh phải trực diện lần đầu với cái chết, cái chết của người thân yêu nhất, cái chết của tình yêu, cái chết mà anh cho rằng mình có trách nhiệm. Nhưng anh đã gạt bi kịch sang một bên, anh lăn lộn làm báo. Đây là thời kỳ hoạt kê, biếm họa, tranh anh nhạo báng những trịch thượng, những xâm phạm tự do của một chế độ. Anh đã thành danh trong sự nổi loạn của người nghệ sĩ, chống lại tất cả những cấm đoán dù dưới hình thức nào. Những tiếng cười của anh thời đó, thực ra chỉ che nỗi đau bên trong của một niềm tiếc thương, sầu nhớ, hối hận khôn nguôi.     

Năm 1959, ở tuổi 34, anh sang Ý học thêm hội hoạ. Bắt đầu thời kỳ 15 năm mà anh goị là 15 năm lưu lạc của cô Kiều. Qua những năm trau dồi nghệ thuật, anh đã có những bằng cấp của viện Mỹ thuật Ý, anh đã đoạt những giải thưởng cao quý về hội họa; nhưng tất cả mọi nghệ sĩ chân chính đều biết bằng cấp và giải thưởng không bao giờ làm nên một họa sĩ tài năng.  

Tất cả phát xuất từ chính người nghệ sĩ, ở anh, ngoài tài năng, là nội lực và suy tư.

Ở trường ốc Ý, anh đã nắm bắt được kỹ năng của nghệ thuật trừu tượng, và từ đây, anh như cánh diều, bay bổng trên nền trời nghệ thuật với tất cả hành trang phải có của một nghệ sĩ thực thụ. Anh đã rời nghệ thuật hữu hình mà anh học từ trước, để tiến vào hội hoạ trừu tượng, vùng đất vô thể, vùng tự do mà anh có thể tung bay nòi bút, theo tư tưởng, theo cám xúc của riêng mình. Từ đây, anh một mình một cõi, anh đã tạo ra thế giới Phạm Tăng và thế giới này là xác thịt và tâm hồn anh. Chính thời gian này (1959-1975) anh sáng tác nhiều nhất, anh đã bôn ba mang tranh đi triển lãm khắp nơi, từ Ý, sang Hoà Lan, Bỉ, sang cả Brésil, Los Angeles... anh đã đọc được những bài báo của giới chuyên môn khâm phục tài năng của anh. Nhưng 15 năm này cũng là quãng đời cô đơn nhất của anh: anh vẽ một mình những bức tranh ngoại khổ, anh chất từng mảng tranh lên xe hơi đem đi triển lãm, một mình, đi ngày đêm trong gió mưa, băng giá của một Âu châu, không chú ý đến tài năng của một người da vàng nhược tiểu, và người Việt không rành hội họa, không xem tranh, không tham dự. Người Việt thường chỉ chú ý đến việc anh đoạt giải này giải nọ, họ ca tụng những giải thưởng anh đoạt ở trời Tây như một vinh hạnh, nhưng không thiết tha tìm hiểu nghệ thuật của anh. Đó là niềm đau thứ nhì trong nỗi cô đơn của anh.

- 1975, là ngõ quặt thứ hai của đời anh: Anh chuyển tù đất Ý sang đất Pháp, tất nhiên vì hoàn cảnh riêng tư, nhưng cũng chính từ hoàn cảnh riêng tư này, lại thoát ra sự lựa chọn cuộc sống của con người: Bi kịch đất nước đã dồn bao nhiêu con thuyền di tản dạt ra biển Thái bình, và có lẽ anh muốn chấm dứt quãng đời 15 năm lưu lạc, để tiến đến một quãng đời bình yên hon, gần gụi đồng bào anh, vừa bỏ nước ra đi, anh chọn đất Pháp. Có lẽ anh tin rằng đất Pháp sẽ là nơi đất lành chim đậu chăng? Nhưng sự thực không diễn ra như thế: có lẽ anh không ngờ đất  Pháp lại nhắc nhở cho anh quá nhiều kỷ niệm đau thương trong quá khứ, thời niên thiếu, anh đã thấy những đán áp đẫm máu của thực dân Pháp trong những vụ càn quét ở Yên Mô, Ninh Bình, quê hương anh. Quá khứ hiện về, đậm nét. Anh sống hàng ngày những ám ảnh ấy, như một cơn ác mộng, một niềm hoang tưởng. Vậy anh có thể sáng tác được chăng? Sáng tác gì ? Cho ai xem? Những câu hỏi khó đáp. Chưa kể còn phải chịu cảnh bon chen của một hoạ sỹ, khi phải «bán mình» cầu cạnh thế giới buôn tranh. Anh đã quyết định đoạn tuyệt, ngừng vẽ, và cũng từ đó, anh không dây dưa với người Pháp, không xin nhập tịch, không nhận trợ cấp y tế và bất cứ trợ cấp nào, anh về ẩn dật: «Xoá từ nay chữ Phạm Tăng; Cái danh vô nghiã làm thằng không tên».

 

Nhưng không vẽ, không có nghĩa là dứt bỏ nghệ thuật. Anh trở về với thơ. Nói « trở về» bởi vì có lẽ chưa bao giờ anh «dứt» thơ.

Không biết anh bắt đầu làm thơ từ bao giờ, nhưng rõ ràng là từ khi Tâm mất, anh mới có những câu thơ tuyệt vời, anh đã đục được vào bí mật của cái chết, anh biết rõ âm dương nối kết như thế nào. Anh tìm được đường đi lối về giữa sống và chết. Trong suốt thời kỳ sung mãn của hội hoạ, anh nuôi sống cảm hứng bằng tình yêu và cái chết, như thể tất cả những gì diễn trong hội họa, phát xuất từ Tâm thơ và tất cả những gì trong thơ phát xuất từ hội họa. Đối với anh thơ và họa không còn biên giới nữa, cũng như cõi tử, sinh, không hai, mà một. 

Anh để lại hai kiệt tác hội hoạ : một bức anh đặt tên là Vũ trụ. Anh vẽ càn khôn với hằng hà tinh thể đi từ vi mô đến vĩ mô. Anh vẽ anh, bởi anh với vũ trụ là một: «Vũ trụ và tôi một bất phân».

Bức tranh thứ nhì anh không đặt tên, mỗi nguời xem, mỗi lần xem, có thể đặt cho nó một tên:  sáng, nó là vũ trụ thiên thần, chiều, nó là vũ trụ mây mưa, trong mơ, nó là vũ trụ hằng nga khỏa thân trên cung Quảng...

Anh Phạm Tăng, hôm nay tiễn anh, em đặt tên nó là Thiên thai.

Chúc anh thuận gió bay về vũ trụ thiên thai mà anh đã sáng tạo và để lại cho đời.  

Thụy Khuê

Paris, 18/1/2017    

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1535)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1195)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1711)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1513)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1824)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1778)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1675)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1497)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2167)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2311)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9441)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16245)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15256)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15605)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1533)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1824)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2167)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4283)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6085)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5458)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6049)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1506)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1778)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1983)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1868)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1675)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1495)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1664)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1679)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12424)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28670)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35206)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35077)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9950)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12053)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1193)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2167)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2310)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2680)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7079)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6504)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8480)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.