- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

NHỮNG VA CHẠM HAI MẶT – XÉT TỪ CẢM THỨC THƠ HẬU HIỆN ĐẠI

12 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 121862)


hoangthuy_anh-content

 Hoàng Thuỵ Anh


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Hoàng Thuỵ Anh hiện sống và làm việc tại thành phố Đồng Hới. Chúng tôi trân trọng giới thiệu những bài viết của tác giả Hoàng Thuỵ Anh đến với quí văn hữu và bạn đọc của Hợp Lưu.

TCHL


Con đường thơ ca nhân loại ngày một dung nạp thêm nhiều giọng mới: thơ nữ quyền luận, thơ tân hình thức, thơ trình diễn, thơ thực hiện... Tự thân, nó đã thể hiện nhu cầu thay đổi, khác trước. Các khuynh hướng ấy, dù muốn hay không đã nằm trong guồng quay của cảm quan hậu hiện đại.

Hậu hiện đại đang còn là vấn đề nóng bỏng đối với các nhà nghiên cứu - phê bình trên thế giới. Việc cổ xúy hay bài xích nó chưa có hồi kết. Theo Nguyễn Văn Dân, các nhà nghiên cứu như: F. Lyotard, R. Ruland, B. Smith, L. Fiedler, I. Hassan, R. Stern... đều có ý kiến khác nhau về thời kì hậu hiện đại (xê dịch từ khoảng 1940 đến 1980), nhưng tương đồng về cách xác định đặc điểm hậu hiện đại trong nghệ thuật. Họ đều lấy chủ nghĩa hiện đại làm yếu tố quy chiếu để xác định cái gọi là chủ nghĩa hậu hiện đại. Xuất phát từ những kiến giải của mình, ông khẳng định: chỉ nên dùng khái niệm “hậu hiện đại” cho kiến trúc và hội họa, còn trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là trong văn học, thì không nên dùng nó, mà chỉ nên dùng khái niệm “[chủ nghĩa] hiện đại”, hoặc cùng lắm thì dùng khái niệm “[chủ nghĩa] tối [hoặc siêu] hiện đại”[1].

Tuy không đồng nhất về khái niệm hậu hiện đại, thời kì hiện đại, chủ nghĩa hiện đại giữa các nhà nghiên cứu phương Tây lẫn ở phương Đông, song vẫn cần có những đặc trưng để xác định các yếu tố trong thơ hậu hiện đại. Paul Hoover (Hoàng Hưng dịch) nêu ra một số đặc điểm của thơ hậu hiện đại Mỹ: hướng về một thứ thơ “hữu cơ”, hữu nhân cách (đầy cá tính, personal), thơ đọc miệng; khuyến khích một quan điểm “toàn thị” (panoptic) hay cái nhìn từ nhiều phía; ưa thích “những chữ rỗng” (empty words) hơn là “cái thụ nghĩa mang tính siêu nghiệm”, cái có thực hơn cái siêu hình; cái chết của Thượng Đế và tác giả, sự vay mượn trở thành một phương sách ngự trị; không có kết thúc nào để đi đến, câu chuyện kể lặp lại chính nó với sự chồng chéo và đôi khi là những phiên bản trái ngược; đào sâu sự lạ lùng, ưa thích cái phi lý tính và bộc phát hơn là cái lịch thiệp và trau chuốt; ngẫu hứng ngôn từ và cảm thức Jazz trong nhịp điệu; mang tính công chúng, trực tiếp, trình diễn, trần tục; ưa thích đối với lối nhại; giải phóng ngôn ngữ khỏi cú pháp; văn bản ở trong tình trạng bất định; câu trở thành một sự khuyếch trương của chính cơ thể... Đó là lí do để ông cho rằng: “thơ hậu hiện đại chống lại các giá trị mang tính trung dung của sự thống nhất, ý nghĩa, tuyến tính, tính biểu đạt, và một chân dung được tâng bốc thậm chí mang tính khoa trương của cái tôi trưởng giả và những bận tâm của nó” [2]. Từ những đặc điểm này, chúng ta có thể soi chiếu sự tác động của nó đến thơ hậu hiện đại Việt Nam.

Thơ hậu hiện đại bùng lên ở các nước phương Tây và ảnh hưởng kéo dài đến các nước phương Đông. Ở Việt Nam, những sáng tác của nhóm trường thơ Loạn, Xuân Thu Nhã Tập, Dạ Đài lúc bấy giờ ít nhiều đã có sắc thái hậu hiện đại. Nhưng phải từ khoảng những năm 1980 đến nay, sáng tác theo tâm thức thơ hậu hiện đại mới thực sự nở rộ: Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Nguyễn Đình Chính, Lê Vĩnh Tài, Mai Văn Phấn, Inrasara, Trần Quang Quý, Hoàng Vũ Thuật, Lê Xuân Đố, Trần Quang Đạo, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Đinh Thị Như Thúy, Ly Hoàng Ly, Trần Tuấn,... nhóm Mở Miệng, nhóm Ngựa Trời,... Sự góp mặt đông đảo của đội ngũ này đã mở rộng lãnh thổ thơ ca và đưa đến những cách nhìn mới, suy nghĩ mới, đánh giá mới trong tiến trình phát triển.

Va chạm thơ hậu hiện đại phương Tây, Nguyễn Quang Thiều đưa vào thơ muôn mặt rệu rã của cuộc sống qua tâm trạng vừa bất lực vừa khát khao của “gã” - một cái “tôi” khác của nhà thơ vào khoảnh khắc “Những chữ buổi trưa ngày 29/08”:

Gã chống lại những con chó đái ở góc phố

Gã chống lại những đồng tiền

Gã chống lại những chính trị gia

Gã chống lại một văn bản khác văn bản gã viết

Gã chống lại khu phố gã ở và uống bia suốt trưa

 ... 

Gã chống lại những cô gái bán dâm mà gã viết thơ tặng

Gã chống lại những người nhiều tiền mà gã bắt tay

Gã chống lại một chiếc xe hơi đi qua mà gã không sở hữu được

 

Nhưng gã lại không bao giờ chống được

Cái lưỡi thô tục và tham lam của gã

Đang cuống cuồng bò trong vòm miệng nhớp nháp của gã

 Nghệ sĩ, cái thiết yếu là phải sống với ngôn từ của mình. Ngôn từ biểu hiện cá tính sáng tạo của mỗi người. Nếu chống được sự “thô tục”, “tham lam”, chống lại được những rào cản thì lúc đó nhà thơ mới nói đúng giọng mình, đúng ngôn từ của mình. Khoảnh khắc ấy là bản lĩnh của nhà thơ. Nhưng cũng mở ra một con người khác của nhà thơ trước ngày 29/08: cạn kiệt, trống rỗng.

 Thanh Thảo là nhà thơ liên tục đổi mới bút lực của mình. Với quan niệm, làm thơ phải tìm kiếm trong cái đơn giản để hướng thơ mình đi vào cội rễ của bản chất đời sống: “tôi tiêu những ngày của mình như mưa xuống cát...// bây giờ tôi dè sẻn từng chiếc lá/ trên cành/ cái hộp diêm nhốt dế than tôi nhốt chút hơi ấm/ mùa đông chút gió mát mùa hè/ cái hộp diêm sờn mờ nhãn hiệu/ qua mặt tôi một đứa bé chống nạng tập đi lúc/ năm giờ sáng/ một chiếc xe tải xả khói đen vào thiên niên kỉ mới/ một người đàn bà mất trí nhớ chạy về ánh đèn đường/ phía sau lưng rạng đông/ những con thiêu thân tạm dừng cuộc kiếm tìm” (Khúc chậm 2000). Trước giờ khắc chuyển giao, nhà thơ nhận ra được những mặt trái của cái thế giới đang mở hoang hoác. Thế giới cũ đang qua đi và thế giới mới lại đến, ngỡ là đổi thay, nhưng cũng chỉ là hình thức chuyển giao từ chiếc lồng này sang chiếc lồng khác mà thôi:

bây giờ tôi biết
những thế giới khác
cũng thế thôi

 

như con chim tập yêu chiếc lồng của mình
nhưng không cần tập hót

 Cách nhìn về thế giới, về cuộc sống của Thanh Thảo đã thay đổi tâm thế thơ và hình thức thơ ông. Chính Mai Bá Ấn đã rất tinh tế nhận xét: Tư duy thơ Thanh Thảo “đã nghiêng hẳn về lối sáng tác của chủ nghĩa hậu hiện đại. Chính lối tư duy thơ này đã khiến Thanh Thảo cấu trúc tác phẩm thơ hoàn toàn mở, nhằm “rủ rê” sự tham gia của người tiếp nhận theo quan niệm "cái chết của tác giả" của chủ nghĩa hậu hiện đại” [3].

Bằng cách thể hiện khát vọng của kiểu “sống lùi”, Inrasara nhại chính cái thế giới mà mình đang sống: “Tôi sống trong cộng đồng mà mọi thứ/ đều lùi. Những đám cây mọc lùi nhỏ/ dần vào hạt mầm, tận kiếp trước hạt/ mầm.../ Những ý tưởng nghĩ lùi về// thời tiền sử, bản chép tay mọc thêm/ trang lật lùi như thể hết làm thất/ lạc. Ngôi nhà cô hàng xóm thuở bé/ thơ đổ nát được dựng trở lại...” (Sống lùi). Thế giới đã “băng hoại”, không còn giữ những giá trị xưa. Câu thơ vắt từ dòng này sang dòng khác, khổ này sang khổ khác, nhân lên khao khát sống lùi: sống lùi để những cái “đổ nát được dựng trở lại” và gieo mầm cho sự hồi sinh.

Xoáy vào tâm thức thơ hậu hiện đại, Nguyễn Đình Chính cũng hết sức táo bạo trong cách phát ngôn. Mi (zê) xuất hiện rất nhiều lần trong tập thơ Chẹc chẹc (Tân hình thức publishing club ấn hành, Hà Nội, 2010) của ông. Đó là sự phân thân của nhà thơ. Nhà thơ phân thân cái “mi” (zê) của mình để chất vấn, để bày tỏ một cách trung thực những phức tạp của cuộc sống. Nhờ vậy, cuộc sống hiện thực được phơi bày trần trụi, con người được tự do tuyên bố chính kiến của mình. Trước cái ngột ngạt, bất mãn của cuộc sống, mi (zê) bật lên tiếng chửi. Chửi một cách không thương tiếc khi tất cả mọi thứ trong thế giới đều bị cào bằng: “trí thức cụp tai uống trà chửi đổng/ trí thức cụp tai ngồi bàn nhân sự/ trí thức cụp tai xin phiếu bé ngoan// cục cứt mày cứ ngủ ngon/ sớm mai mới bị khai trừ (tống cổ) khỏi thơ// chẹc chẹc// trong cái thế giới bị là phẳng này hóa ra lại dễ chơi quá” (Giã biệt cứt). Lối viết táo bạo, pha sự giễu nhại, không che giấu, người đọc có thể có cảm giác khó chịu, nhưng cái khó chịu ấy sớm nhường chỗ cho sự bằng lòng với tư duy của nhà thơ. Nhà thơ “trực ngôn” mới nói hết cái oái oăm nhân thế (trí thức cụp tai) đang nhan nhãn trong xã hội.

Nếu Nguyễn Đình Chính “đùa giỡn” với tầng lớp trí thức thì Lê Xuân Đố lại chú tâm đến trò chơi ngôn từ và ngữ nghĩa. Với phong thái “giọng muối”, Lê Xuân Đố tháo rời các con chữ: phố Phái đội giấc mơ rêu tỉnh lại/ râu các bậc thức giả mọc rễ cổ thụ/ các khe hở quá khứ được ánh sáng tòa kính cao ốc mời gọi/ cắt giữa đường biên dự án lửng lơ// các tiến sĩ Quốc Tử Giám ở lại một mình ngẫm lại bia đá/ khoảng lặng cần thiết của lịch sử/ những con rùa đá vuột khỏi chân bia đi làm dịch vụ/ biểu diễn sương khói Tây Hồ. Gặp lại nhé. Những con chữ mở ra các mảnh ghép khác nhau nhờ sự nới lỏng, bỏ ngỏ bằng khoảng lặng ngoài văn bản:

đường lượn quanh Bờ Hồ là giải lụa mềm thiết tha buộc mở

vũ điệu ánh sáng đa sắc màu tiếng nói

đô thị màu nhiều ẩn ý

(Đô thị màu)

Xiếc chữ, tung hứng chữ bằng những câu thơ không vần điệu để nổi bật những gam màu khác nhau của Hà Nội: mơ-tỉnh; quá khứ-hiện tại... Do đó, thơ Lê Xuân Đố luôn có sự đối nghịch giữa hai bè giọng: bè trầm-quá khứ và bè cao-hiện tại. Chúng tạo nên tính đa thanh, tự giễu trong ngôn từ của nhà thơ.

Hoàng Vũ Thuật cũng đưa sự hỗn loạn, vô trật tự vào trong thơ bằng cái nhìn “lập thể”: “sương cài lên ngực màu thiên thanh/ vội vã không từ biệt/ cây cứ xanh ngoài lời/ trinh bạch vạn năm trước/ ngày cứ dài như cây// những buổi chiều lặng lẽ lên men/ bức tranh ảm đạm/ ai hát se se trong gió/ khúc du ca/ thăm thẳm tiếng người như tiếng ve// trong trái ổi thơm tho ửng đỏ/ cánh chim mơ hồ bay ra/ và/ cuốn sách bỏ quên/ đã tan thành tro bụi”. Bài thơ như một bức tranh lập thể. Nhà thơ ráp các chữ, các khổ với nhau một cách ngẫu nhiên. Cái nhìn đa điểm đưa đến sự bất định trong tâm trạng của nhà thơ khi “ngày cứ dài như cây”.

Trước luồng gió thơ hậu hiện đại, Đinh Thị Như Thúy phá ranh giới đường biên giữa các thể loại, nhờ vậy, thơ chị giàu chất văn xuôi: Giấc mơ nối tiếp giấc mơ rồi lại nối tiếp giấc mơ trong ngôi nhà màu bóng tối. Nơi ta buộc phải diễn vai và không thể tự kết thúc vai diễn của mình. Ta chờ đợi hay bị buộc phải chờ đợi phép màu giải thoát lóe lên không từ chiếc đũa thủy tinh mà từ tiếng chuông điện thoại hẹn giờ báo thức. Sự mệt mỏi ngấm ngầm vào từng rẻ xương vốn đã rã rời từ ngày rạng. Quẫy đạp trong thế giới này thật khó khăn xiết bao!...// Mơ và mơ, bóng tối và bóng tối hơn, đêm và hết đêm, ngày và ngày tàn chỉ là những mắc xích ta nắm rồi thả trong thời khắc diễn vai.// Kìa chuông reng!// ... Cám ơn bạn đã sử dụng dịch vụ này (Thời khắc diễn vai). Chỉ một thời khắc đời thường mà “ta” hội tụ bao dằn vặt, trở trăn. Những cảm giác “thèm nỗi đau rách toác thịt da, sợ trạng thái không nhức không tê không buồn không vui của một ngày đã quen như muôn ngày đã quen của cuộc sống mà như không sống” này đã xáo trộn thời gian, khiến “ta” vùi dập trong sự đứt đoạn của kí ức.

Các nhà thơ kể trên đều có ảnh hưởng cảm thức thơ hậu hiện đại phương Tây. Không phải tất cả sáng tác của họ đều là hậu hiện đại. Mỗi bài, mỗi tập thơ có những tiếp thu riêng. Yếu tố hậu hiện đại có khi rõ đường nét, có khi mờ ảo. Nhưng tựu trung, thơ của họ khác những mạch thơ mà nhiều người đã sa vào quá lâu, trở nên không thích ứng. Bên cạnh đó, việc tự do “đi về” giữa Tây và Đông, đoạn tuyệt với tư duy truyền thống, các nhà thơ tha hồ cày xới thoải mái trên các thửa ruộng mà không cần phải xuất trình giấy tờ để kiểm duyệt. Cuộc sống có thứ gì, trong thơ chưng lên thứ đó. Quan niệm “phi tâm hóa” cũng lẩy ra những giọng điệu mới lạ, sốc với người tiếp nhận: vấn đề sex nhất, tục nhất cũng “tuồn” vào thơ. Đọc thơ hôm nay, người đọc phải tỉnh táo, tỉnh táo để biết phân loại thơ, nhận định thơ, nếu không sẽ bị “lọt thỏm” vào những vòng xoáy trống mà cứ ngỡ kiến thức của mình quá “ít ỏi” nên không nhập vào được. Một số nhà thơ chú trọng đắp đổi con chữ, gián đoạn các con chữ để dấu đi sự rỗng triết lý cần và nên có trong thơ. Ma trận nhưng ngõ vào tuốt luột. Phương Lan (nhóm Ngựa trời) mang tâm thế nổi loạn để viết “Mùa căng”, thặng dư thơ ngầm, “căng” rồi “viên mãn” bằng sex:

Như con ngựa bất kham bị giam giữ suốt mùa đông

Tôi băng mình ra mông mênh thảo nguyên ngợp ngời cỏ non và ánh sáng

Mùa xuân nheo mắt vẫy gọi tôi

Hoang dại cuồng loạn réo gọi tôi

Như mũi tên đã bật cong trên dây cung

Tôi vút đi hân hoan đầy phấn khích…

Trong số các nhà thơ trẻ Việt, thơ Vi Thùy Linh thể hiện khá rõ sự bạo liệt với những vần thơ thấm chất sex. Sex đan cài trong trò chơi lắp ghép ngôn ngữ: “Thời gian ngưng lại/ Bỏ quên mọi u phiền đớn đau ngoài vũ trụ/ Buổi chiều sữa trào qua rèm cửa/ Trên ngực Anh, em thở/ Thu đầy thu nghìn trùng rút gọn/ Ngực áp ngực trái tim lên xuống/ Mũi tên thiêng ký tên giá thú/ Hơi thở dồn như muôn cơn gió/ Anh thấy như Anh nắng oi gọi bão/ Anh thấy như Anh chưa yêu lần nao/ Như đã yêu em suốt đêm ngọt ngào/ Suốt trong mảnh đời chạy theo tình yêu/ Yêu thật liều yêu hiểm nghèo yêu không tỉnh dậy/ Tai em áp chặt tim Anh, ngàn nhịp ân hoan từ thế giới tượng thanh Anh khởi tạo” (Trên ngực anh). Vi Thùy Linh cũng không ít lần chịu những đòn roi của dư luận về vấn đề sex. Thơ Linh sống động. Tuy nhiên, sex của Linh thuần bản năng, thiếu sự tiết chế của ý thức, cái đòi hỏi sống còn của nghệ thuật. Chính vì thế, nó thiếu đi tính triết lý.

Ở góc nhìn hậu hiện đại, các nhà thơ từ bỏ cái thế giới đóng khung, hướng đến cái thế giới rã rệu, lắp ghép, phân mảnh, đứt đoạn... bằng kĩ thuật xốc ngửa, lắp ráp từ, sử dụng chất humour, pha tạp thể loại... để chạm vào những vấn đề tinh tế và nhạy cảm mà hầu như thơ ca trước đây còn ngại ngùng. Họ đưa vào thơ những ngôn từ tục tĩu để giễu nhại chính vấn đề mà mình đề cập đến. Tuy nhiên, cái gì thái quá cũng có mặt hạn chế của nó. Ngôn ngữ gần với đời sống dễ làm cho thơ mất đi chất thơ của nó. Quá nhấn mạnh tính suồng sã, thơ sẽ đông cứng ngay khi mới chào đời. Đọc một số bài thơ của nhóm Mở Miệng như: Cái l... què, Vẫn làm chồng tốt, Vô địch... tôi tự hỏi liệu đây có phải là thơ thời thị trường? Viết như thế, chất thơ của thơ sẽ đi về đâu? Nếu câu chữ xoàng, tối, hỗn độn thì thơ, dưới hình thức nào, không thể sinh sản để duy trì nòi giống. Hậu hiện đại chấp nhận sự phỏng nhại, cắt dán nên một số người tuyên ngôn “đạo thơ” công khai để sinh hạ những nàng thơ “quảng cáo”: “Lactacyd FH, với công thức đặc biệt gồm hai thành phần tự nhiên là Acid lactic và Lactoserum (chiết suất từ sữa), không chỉ giúp rửa sạch, giảm ngứa, loại trừ vì khuẩn gây viêm nhiễm và mùi hôi, mà còn củng cố cơ chế bảo vệ tự nhiên của âm [dương] đạo [tặc]” (Lý do thích hạp cho mọi người trong việc tiêu [chảy] tiền [bạc] hay còn gọi là bài thơ có tên: "CHĂM SÓC BẠN GÁI HÀNG NGÀY" – Bùi Chát). Đọc những bài kiểu này, người đọc khó có thể chấp thuận.

Đổi mới thơ theo xu hướng phát triển của văn học là tất yếu, là cần thiết. Dù tiếp nhận muộn mằn nhưng tính lan tỏa của thơ hậu hiện đại đưa đến cho nền thơ ca Việt Nam những năm gần đây đầy sự táo bạo, tươi rói, khuấy đảo âm hưởng trầm lắng của thơ hiện đại. Nếu xem con đường sáng tác của thơ hậu hiện đại thể hiện sự bế tắc của thơ ca là không hoàn toàn đúng. Chúng ta có một Chẹc chẹc (Nguyễn Đình Chính) vứt bỏ vần điệu, nhạc tính để những sinh lực của thơ tự trào dâng; một Cây ánh sáng (Nguyễn Quang Thiều) “đứng riêng một cõi” (theo cách nói của Trần Sáng) bởi tính “ma quái” trên mọi phương diện: từ ngữ, cấu trúc, hình ảnh...; một Màu và Ngôi nhà cỏ (Hoàng Vũ Thuật) “trở thành thông điệp da diết về cõi người, kiếp đời vẫy gọi liên chủ thể tiếp nhận” [4]; một Và đột nhiên gió thổi (Mai Văn Phấn) đan xen giữa tính triết lí và tính trụi trần của cuộc sống; một Liên tưởng (Lê Vĩnh Tài) giản dị chất sống như phố núi Buôn Ma Thuột... Những tác phẩm ấy phần nào đã đánh dấu hướng đi cần thiết cho thơ Việt hôm nay. Tuy nhiên, bên cạnh những bài thơ, tập thơ gây ấn tượng, thể hiện những phong thái mới và mạnh, vẫn còn có một số tác phẩm thơ có phần quá đà, khiến thơ của họ chưa được đón nhận như một sản phẩm quý và lạ, làm nên sự đột biến. Tập thơ Dự báo phi thời tiết của nhóm Ngựa Trời là một ví dụ. Những tập thơ khác của nhóm Mở Miệng cũng đang xôn xao hai mặt trên thi đàn.

Thơ khuân vác mọi vấn đề của đời sống nên các nhà thơ mang cảm quan hậu hiện đại luôn rủng rẻng với các đề tài thơ của mình. Chính họ làm cho thơ ca phát triển, sinh nở. Nhưng nếu phóng ngôn từ một cách bừa bãi, không tự kiềm chế, không chọn lọc thơ sẽ đường cùng, tắc tị. Cần có cách tiếp nhận phù hợp xu thế thơ hậu hiện đại phương Tây. Tiếp nhận nhưng vẫn giữ được cốt lõi của thơ: tính thơ và chất triết lí. Và quan trọng, làm thơ chính là cách thể hiện tính văn hóa của mình. Vì thế, văn hóa sáng tạo trước hành trình thơ là thước đo tất yếu mọi giá trị.

Hậu hiện đại đang trên đà đi của nó. Dù manh nha rất sớm, nhưng hậu hiện đại đến nay vẫn còn mới mẻ và lạ lẫm, chưa được trình bày dưới một hệ thống lý thuyết đầy đủ và tin cậy. Tuy vậy, những rào cản nào trước sự phát triển của thơ hậu hiện đại đều có thể dẫn đến sai lầm. Thiết nghĩ, hãy để nó phát triển như bản chất tự nhiên chính nó. Bởi lẽ, chưa bao giờ cái thế giới thực tại bị dày xéo, lật tẩy đúng thực trạng như trong thơ hôm nay. Mặt khác, một tinh thần mới, ý nghĩ mới bao giờ cũng có không ít hạn chế. Chỉ cần ở mỗi nhà thơ sự tự ý thức không bị mất đi thì cánh cửa thơ Việt ngày một mở rộng, đa trị đa chiều.

 

Đồng Hới, ngày 19/12/2010

H.T.A


------------------------

[1]. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (biên soạn), Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lí thuyết, NXB Hội nhà văn & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2003, tr 146.

[2]. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (biên soạn), Sđd, tr 378.

[3]. Mai Bá Ấn, “1 2 3 của Thanh Thảo và ba bậc tư duy thơ trong quá trình hiện đại hóa thơ ca”, http://thinhanquangngai.wordpress.com.

[4]. Hồ Thế Hà, “Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật”, Thơ Hoàng Vũ Thuật-nhìn từ thi pháp học của Roman Jakobson, Hoàng Thụy Anh, NXB Thuận Hóa, 2010, tr 327.


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Hai 20259:06 CH(Xem: 16144)
Tom Fawthrop là nhà báo, nhà hoạt động môi sinh người Anh, người bạn đồng hành bấy lâu với Nhóm Bạn Cửu Long. Anh đã tường trình về sông Mekong trong 12 năm qua với tư cách là nhà nghiên cứu và diễn giả tại các đại học ở Singapore, Thái Lan, Cam Bốt, và Việt Nam. Các bài viết của anh về lưu vực này đã được phổ biến rộng rãi trên các tạp chí Economist, The Diplomat và The Guardian. Tom cũng là nhà sản xuất cuốn phim tài liệu “Where have All the Fish Gone” về thảm họa trên sông Mekong.
09 Tháng Hai 202512:27 SA(Xem: 17432)
Thơ của Nguyễn Chí Trung dâng lên như một dòng sông lũ, từ một vực thẳm sâu không thể nghĩ bàn và không thể dò thấu, theo lời của Filomena Ciavarella[iii]. Sự hấp dẫn tương tự của sông Hằng, biểu tượng của phương Đông, hòa quyện vào tâm hồn Trung. Nguồn gốc của bài Thơ “Khi Tôi Bước Xuống” - As I Step Down (sau đây gọi là AISD), một bài thơ gồm mười từ khúc theo cấu trúc nhịp "Lục Bát", có mối liên hệ chặt chẽ và lãng mạn với dòng sông linh thiêng đó: "Tôi đã mơ một lần trong đời đến đứng bên bờ sông và trẩy thuyền qua đó"[iv]. Giống như một hình ảnh trong giấc mơ, tất cả đã trở thành sự thật vào mùa đông năm 2015/16.
05 Tháng Hai 20252:37 CH(Xem: 22119)
With an inconsistent and always “pivoting” policy, with a negligible total investment, over the past 50 years since 1975, the United States has made almost no positive and effective moves to prevent China’s expansion and encroachment – not only in the Mekong River basin – but also in the East Sea. To be able to counterbalance Beijing, of course, Washington needs to have a strategic vision, accepting a commensurate price to pay in order to restore its long-standing influence on the Mekong River Chessboard. NGO THE VINH
31 Tháng Giêng 202511:51 CH(Xem: 20116)
Với chính sách thiếu nhất quán và luôn “xoay trục”, với tổng số đầu tư không đáng kể, trong suốt 50 năm qua kể từ sau 1975, Hoa Kỳ gần như không có động thái tích cực và hiệu quả nào ngăn chặn sự bành trướng lấn lướt của Trung Quốc – không chỉ trên lưu vực sông Mekong – mà cả Biển Đông. Để có thể đối trọng với Bắc Kinh, dĩ nhiên, Washington cần có một tầm nhìn chiến lược, chấp nhận một cái giá tương xứng phải trả hầu có thể phục hồi ảnh hưởng đã có bấy lâu trên Bàn cờ Sông Mekong. "NGÔ THẾ VINH"
28 Tháng Giêng 20259:42 SA(Xem: 21667)
Nguyen Chi Trung’s poetry rises like a river in flood, from a deep unthinkable and unfathomable abyss, in Filomena Ciavarella’s words[iii]. The same fascination held by the Ganges, a symbol of the East, blending itself into Trung’s soul. The genesis of As I Step Down (henceforth, AISD), a poem of ten stanzas following the “Sixth-Eight” words metrical pattern, is closely and Romantically linked to that holy river: “I dreamed to come one time in my life to its border and to boatflow over it”[iv]. Like a vision in a dream, it all came true in winter 2015/16.
21 Tháng Giêng 202510:14 CH(Xem: 24377)
Người sinh ra và lớn lên ở Huế cũng như khách thăm Huế đều có cùng cảm nhận tương tự về tầm nhỏ nhắn, cảnh quang núi sông thơ mộng, điệu sống êm đềm trầm mặc của xứ nầy; nhưng khác nhau là tâm lý đòi đoạn (Emotional Fragmentation in Psychology) mà chỉ có những người Huế rặt chân quê mới trải nghiệm “nắng cháy da cháy thịt, mưa héo úa tâm hồn” của vùng đất quê huơng độc ngự cảm quan từ thời thơ ấu. Nguồn tâm lý nầy là khởi điểm của dòng cảm nhận: “Huế là quê hương đi để mà nhớ; chứ không phải ở để mà thương”!
09 Tháng Giêng 202511:36 SA(Xem: 19144)
Tháng 5 năm 1990, chúng tôi sang Quận Cam, nhà văn Mai Thảo dẫn đến thăm và giới thiệu với một họa sĩ, mà chúng tôi chưa quen: Khánh Trường. Mai Thảo cho biết Khánh Trường dự định ra một tập san văn học, đăng những tác phẩm ở trong và ngoài nước, và cần được giúp đỡ. Đó chính là Mai Thảo: ông ghét cộng sản, vì cái chết của Vũ Hoàng Chương và bản thân ông bị truy lùng trong gần hai năm, trước khi vượt biển, thoát. Ông không đọc tác phẩm trong nước, nhưng «đứa nào» làm chuyện hòa giải, giao lưu, ông ủng hộ; «đứa nào» bị đánh, ông tận tình bênh vực và giúp đỡ. Ở Mai Thảo là hai chữ Tự do đúng nghiã mà nhiều người Việt không hiểu, dù họ sang Mỹ để tìm «tự do». Bên cạnh Mai Thảo, Nhật Tiến cũng công khai ủng hộ Khánh Trường. Lập trường giao lưu của Nhật Tiến ai cũng rõ. Đó là hai nhà văn đàn anh, đứng đằng sau Hợp Lưu, trụ đỡ Khánh Trường trong những ngày sóng gió. Phía chống Hợp Lưu, cũng không thiếu những cây đa cây đề. Mai Thảo sang Paris cùng với Khánh Trường, để ra mắt Hợp Lưu số 1.
23 Tháng Chín 20241:01 SA(Xem: 24490)
Lời giới thiệu: Thủ tướng Hun Manet với hậu thuẫn của cha ông, người đã đề xướng ra công trình kênh Funan Techo như một Đại vận hà của dân tộc Khmer, đồng thời là di sản triều đại của cha con họ. Về địa chính trị, tuyến đường thủy vận này cho họ phương tiện chuyển hàng hóa từ Phnom Penh ra biển, không còn phải theo tuyến đi trên Sông Tiền hay Sông Hậu, sẽ giải thoát họ khỏi sự phụ thuộc vào Việt Nam. Cha con Hun đã được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của dân chúng khi đặt cho dự án này dưới tên Funan, khơi động lên tinh thần dân tộc bài Việt, và soi sáng lại lịch sử Đế chế Funan của họ. Theo giới chuyên gia quốc tế, và phân tích trên Viet Ecology Foundation, lợi ích kinh tế của công trình này chắc chắn không khả thi, tác động nặng trên môi sinh cho Cam Bốt và xuyên biên giới xuống Việt Nam nhưng đã bị chính quyền Phnom Penh giảm thiểu hóa và gạt bỏ. Phnom Penh không giải trình toàn bộ chi phí và việc di dời đền bù cho người dân họ như thế nào. Họ cung cấp thông tin bất nhất và sai lệch ...
12 Tháng Chín 20246:15 CH(Xem: 29177)
Bài thơ GIÓ đã được thi sĩ Đức gốc Việt Nguyễn Chí Trung trình bày từ năm 2004 tại nhiều Đại Hội Thi Ca Quốc Tế (International Poetry Festival) trong các buổi đọc Thơ trước công chúng. Bài thơ được viết bằng tiếng Đức vào mùa Thu năm 1993 và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng cũng như xuất bản ở nhiều quốc gia Âu châu (Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha …).
31 Tháng Tám 20249:48 CH(Xem: 33071)
-Phim “Mai” chiếu từ dịp Tết, tôi được nghe đủ lời khen chê - khen nhiều hơn chê, và được cô con gái sinh viên năm thứ hai sau khi rủ bạn xem về bảo: “Phim xúc động ạ. Nhưng ồn ào quá, khiến con đau đầu”. / "Cu li không bao giờ khóc" của đạo diễn Phạm Ngọc Lân, biên kịch Nghiêm Quỳnh Trang đã thắng giải "Phim đầu tay xuất sắc" LHP Berlin vào sáng 25/2, và hiện tham dự giải cánh Diều Vàng 2024 của Hội Điện ảnh VN./ “Đóa hoa mong manh” đương tham dự Giải Cánh Diều Vàng của Hội ĐAVN với tâm lý hồi hộp, mong đợi, có phần lo lắng cho bạn đồng nghiệp… / và có hai bộ phim gây ấn tượng mạnh nhất đối với tôi - một khán giả đang làm nghề - hai bộ phim mang “vị muối” đích thực của Đời có khả năng chạm vào đáy sâu cảm xúc của hàng triệu khán giả, đó là HAI MUỐI và SÁNG ĐÈN!