HÀ NỘI NĂM TÔI MƯỜI SÁU
Truyện ngắn
NGUYỄN CÔNG KHANH
Viết cho một người lại nhớ một người.
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
Tối hôm đó tôi lấy cớ kêu mệt, muốn có một ngày nghỉ và có một chút thời giờ để đến thăm một người bạn cũ. Các con tôi bằng lòng, sáng hôm sau xe của hãng du lịch đến đón các con tôi sớm và tôi có một ngày sống riêng với một thành phố của một thời mới lớn. Tôi sửa soạn xong, mở tủ lạnh, định ăn qua loa một thứ gì trước khi đi. Cái tủ lạnh nhỏ đầy ứ những thức ăn và hoa quả. Mấy ngày trước, gặp cái gì gợi nhớ tôi cũng mua, rẻ quá, nên mua nhiều tưởng sẽ ăn hết. Tôi mua chục na, chục hồng, mấy kí cốm Vòng với chuối chín trứng cuốc và cả một mẻ sấu chín. Lại còn đủ các thứ bánh, ít nhất là mỗi thứ một cái. Những ngày nào nếu không đi du ngoạn, các con tôi ba bữa đều kéo tôi đi ăn bên ngoài, thành thử mọi thứ như vẫn còn nguyên. Tôi chợt nhớ ra tôi còn mấy thứ quà Hà-nội phải ăn trước khi rời thành phố này. Tôi đóng tủ lạnh và ra khỏi khách sạn.
Bây giờ là mùa Thu, trời hơi se lạnh, phố vẫn còn vắng, Sáng sớm, trong khu phố cổ, nhiều cửa hàng chưa mở, thỉnh thoảng có những người quang gánh, hay đội thúng trên đầu mang hàng lặng lẽ vội vàng đi cho kịp buổi chợ. Có lúc tôi đi ra gần giữa đường, đứng nhìn hai hàng cây Bàng hai bên đường, lá đã đổi mầu và đã có vài cái rụng trên lề đường mà nhớ tới những cây Bàng trong sân trường hồi nhỏ. Mùa Xuân, mùa Hè lá bàng xanh mát màu ngọc bích. Mùa Thu lá đổi sang màu đỏ tía rồi sang mầu vàng. Mùa Đông lá rụng đầy, mỗi khi có trận gió thổi, những lá bàng chạy theo nhau quanh sân trường. Chúng tôi thường nhặt những quả bàng khô, lấy đá đập cho vỡ để ăn cái hạt ở bên trong, thấy bùi bùi. Cho đến nay, mỗi khi nhớ đến những cây bàng thời thơ ấu vẫn thấy bồi hồi.
Tôi vào chợ Hàng Da, tìm một hàng bún ốc gọi một đĩa ốc hương, vỏ vàng óng, mùi lá chanh và nước mắm gừng làm sao không nhớ cho được. Tôi gọi thêm một tô bún ốc, những con ốc bóng mập trong tô riêu vàng óng mà nhớ đến tất cả những hàng quà năm xưa. Tôi ra thuê taxi, chạy đến các trường cũ. Trường Thanh Quan ở phố Hàng Cót, cổng trường ngay mặt đường, bên trong là một sân rộng, chung quanh là các lớp học hai tầng. Tôi đã thi Tiểu học ở đây, mà bài thuộc lòng tôi đã đọc thi là bài Gió Đầu Mùa của Thạch Lam. Tôi đi qua trường Trưng Vương, nhớ lại những năm đầu học tại đó mà nhớ đến những người bạn cũ, không hiểu họ ở đâu bây giờ. Xe chạy đến Hồ Gươm, tôi vào đền Ngọc Sơn, lúc đứng một mình trên cầu Thê Húc, tôi nhìn ra xa, Tháp Rùa mờ ảo, rặng liễu bên hồ vẫn còn xanh. Tôi nhìn về phía nhà Thủy Tạ, một thời đã là thư viện của thành phố, tôi đã ngồi vừa xem sách vừa nhìn ra măt hồ mơ màng. Phía chéo đối diện là quán Mụ Béo mà tôi có dịp theo các anh họ tôi ăn thịt bò khô ở đó, cay đến suýt soa. Tôi chưa nhìn thấy Mụ Béo béo đến nào mà mụ tự đặt tên quán của mình như thế. Tôi muốn quay lại đường Cổ Ngư một lần nữa, Hè đã qua, hoa phượng không còn nữa nhưng vẫn xôn xao gợi cho tôi những ngày nghỉ hè ở Hà Nội rộn ràng tiếng ve sầu. Tôi xuống đền Quan Thánh và nhớ đến mẹ tôi, mỗi tết đều dắt tôi đi lễ ở đó. Sau khi lễ xong là tôi có dịp đến đứng xoa những ngón chân tượng đồng đen của Thánh để lấy phước. Bây giờ thì tôi phải về thăm lại căn nhà cũ của tôi.
Khi gần đến căn nhà mà tôi ở những năm cuối ở Hà-Nội, tôi nói taxi đỗ lại ở đầu phố. Tôi bước xuống và từ từ đi dọc theo hè phố, hè phố này trước kia tôi đã đi ngày hai buổi đến trường. Hà-Nội năm tôi về thăm vẫn còn nghèo nàn, nhiều khu phố còn vắng người. Phố tôi ở không có gì thay đổi, chỉ thấy cũ đi với thời gian kể từ ngày tôi đi. Tôi đi qua nhà bác tôi, trước kia là lò bánh mì, nay không có bảng hiệu, chắc đã dẹp từ lâu. Tôi dừng lại trước căn nhà mà mẹ tôi và tôi thuê ở mấy chục năm trước, nhìn vào tối om, không trông thấy ai, tôi ngại không muốn vào. Tôi đứng tần ngần bên ngoài, nhìn đường phố xung quanh. Tự nhiên có một cái gì nhắc cho tôi, hình như ngôi nhà hai tầng góc phố ở bên cạnh kia mới là nơi gợi cho tôi những kỷ niệm sâu đậm mà trong bao nhiêu năm tôi đã quên hẳn. Tôi bước đến ngôi nhà đó, cái cửa sổ kia ngày trước lúc nào cũng mở như chờ đón tôi. Tôi đi qua đi lại nhiều lần, nhưng cái cửa ấy hình như đã đóng chặt im lìm. Một bà già đứng trong cổng sau, chắc đã nhìn thấy tôi khá lâu, bước ra hỏi tôi:
- Cô có phải là cô Tú không?
Tôi nhìn bà trả lời:
- Thưa bác, cháu đây ạ!
Bà nhìn lại tôi và nói:
- Trông cô vẫn thế, không thay đổi.
Tôi cũng nhìn lại bà và như reo lên:
- Thưa bác, bác có phải là bác Thìn không?
- Tôi đây.
Tôi vội đến ôm lấy bác rồi nói:
- Cháu vẫn nhận ra được bác, bác cũng không thay đổi.
Bác mời tôi vào nhà, và quay lại than với tôi:
- Vất vả lắm cô ơi, cô trông đây này nhà cửa từ khi các cô các cậu đi có được sơn phết lại gì đâu!
Rồi bác quay lại hỏi tôi:
- Thế còn cậu ấy đâu?
Tôi hỏi lại bác:
- Thưa bác, cậu nào ạ?
Bác lưỡng lự, trả lời không hết câu:
- Cậu ...
Tôi hiểu ý bác, bâng khuâng trả lời:
- Không đâu bác ạ!
Bác không nhìn tôi, trầm ngâm nói một mình:
- Thế mà tôi cứ tưởng!
Bác dẫn tôi vào một căn phòng mà tôi nghĩ rằng ngày trước không phải là nơi bác ở. Tôi hỏi bác:
- Cháu nhớ ngày trước bác ở trên gác mà!
- Đúng cô ạ, ngày trước tôi ở trên gác, sau này nhà nước phân chia lại hộ, tôi già rồi đi lên đi xuống cầu thang khó khăn, nên xin xuống tầng dưới.
Rồi bác nói thêm:
- Phòng này chính là phòng cậu ấy ở ngày trước.
Bác nói:
- Các cô cậu khác đều về thăm lại ngôi nhà này, chỉ có cậu ấy chưa thấy về!
Bác nói với tôi ngồi chơi, để bác đi đun nước pha trà mời tôi. Tôi có dịp ngồi lặng lẽ nhìn quanh gian phòng. Căn phòng khá lớn, thường để cho cả một gia đình ở. Căn phòng này tôi chưa có dịp vào lần nào, nhưng tôi nhớ rõ bàn học của anh kê ngay cửa sổ kia, trông ra đường. Tự nhiên tôi nhớ đến anh, nhớ đến những năm cuối cùng của Hà-Nội, của tôi và của anh.
Thật ra tôi sinh ra ở Hải-phòng, cha tôi mất sớm, để lại cho hai mẹ con tôi một ngôi nhà và vốn liếng sống cũng thong thả. Tôi còn nhớ ngôi nhà đó hai tầng, ở một khu phố mà nhà nào cũng có tường cao ngăn cách nhà này với nhà kia. Nhà ở cách xa đường, mặt trước có tường thấp phía trên là hàng rào song sắt, một vườn hoa nhỏ và lối đi vào rộng trải sỏi, mà mỗi lần đi qua là mỗi lần sỏi lún xuống kêu lạo sạo và cứ bị những viên sỏi nhỏ nghiến vào chân rất là khó chịu. Cái cửa sắt mỗi lần đi ra đi về là khóa lai. Tôi ở đó với mẹ tôi và một u già. Trong những năm đó tôi không có một người bạn nào, nên mẹ tôi và u già luôn luôn chiều tôi.
Tôi lớn dần, mẹ tôi nghe theo lời bác tôi, cho thuê ngôi nhà đó và dọn về Hà-Nội để mấy người anh họ có thể giúp trông nom tôi trong việc học hành. Mẹ tôi tháng tháng về Hải Phòng thu tiền nhà. Tôi làm quen được với cô bạn gái bằng tuổi tôi cạnh nhà, và tôi bắt đầu để ý đến anh, Gia đình anh cũng ở một căn trong khu nhà đó. Sau này tôi mới biết cô bạn đó là chị họ của anh. Anh hơn chúng tôi hai tuổi, dáng anh cao dong dỏng, trông hiền lành, và lặng lẽ. Thỉnh thoảng, tôi bất chợt thấy anh nhìn tôi, tôi cảm thấy giao động như thấy mình đã lớn. Tôi nhìn lại anh, tôi thấy trong ánh mắt của anh có một cái gì ngây ngây khác lạ. Tôi sang thăm cô bạn luôn, nhưng ít khi gặp được anh. Ngoài thời giờ ở trường, anh hay đạp xe đi rong chơi với các bạn. Thỉnh thoảng tôi gặp anh, anh và tôi đứng lại nói những chuyện bâng quơ. Nhiều hôm nhìn anh và các bạn anh họp nhau trước cửa nhà để đi chơi xa như Chùa Trầm , chùa Trăm Gian, hay lên Nghi Tàm, Quảng Bá để bơi lội. Tôi cũng háo hức thấy muốn theo anh. Hồi đó tôi bắt đầu mê đọc tiểu thuyết, tôi thường thuê ở một quán sách góc bên ngoài chợ Đồng Xuân. Trong những giấc mơ, tôi thấy anh và tôi giống như những nhân vật trong truyện.
Anh đánh đàn cũng khá hay, anh biết tôi thích mấy bài nổi tiếng thời đó như Dư Âm, Trăng Mờ Bên Suối và Ai Về Sông Tương nên anh thường hay đánh những bài này. Mỗi khi nghe tiếng đàn của anh từ nhà bên vọng sang là tôi biết anh đã về, và hình như mỗi lần như thế tôi đều nghĩ là anh muốn cho tôi biết là anh đã có mặt ở nhà. Tôi muốn thấy anh nên thường tìm cớ đi qua đi lại khung cửa sổ nơi anh đặt bàn học nhìn ra đường. Tôi nhìn qua song thấy anh, anh ngước mắt nhìn lại tôi mỉn cười lặng lẽ. Cứ như thế, nhưng chưa bao giờ tôi dám dừng lại bên cửa sổ để nói chuyện với anh.
Mùa Hè cuối cùng ở Hà-Nội, đất nước chia đôi. Mẹ tôi đem tôi về Hải phòng, tìm cách bán ngôi nhà đó để đi vào Nam. Ai cũng lo chạy, không có ai còn lòng nào mà mua nhà nữa. Gần hai tháng trời, không có bạn nói chuyện, tôi nhớ đến anh và tìm cớ nói với mẹ tôi để về Hà Nội thăm gia đình bác tôi. Tôi không ở nhà bác tôi, mà tôi lại tìm cách ở lại nhà người chị họ của anh, khiến bà bác anh nói xa nói gần cốt để cho tôi nghe: Con gái gì mà như thế! Tôi không để ý đến lời của bác anh, tôi chỉ muốn nhìn thấy anh, mà không có dịp vì anh bận rộn đi tiễn các bạn suốt ngày. Tôi thấy mọi người xung quanh đều sửa soạn hành lý để vào Nam mà gia đình anh không thấy động tĩnh gì cả. Về lại Hải Phòng, mẹ tôi bảo tôi phải sửa soạn ngay để tuần sau là phải theo gia đình bác tôi vào Nam. Ngôi nhà đành phài bỏ lại. Trước khi đi, tôi viết vội cho anh một lá thư, tặng anh một tấm hình của tôi và hẹn gặp anh ở Saigon. Sau này tôi biết được tin anh đã xuống Hải Phòng tìm tôi, nhưng tôi đã đi rồi.
Hai tháng sau khi Hà Nôi đóng cửa, anh tìm lại được tôi ở Saigon. Gia đình anh đã theo sở ra miền Trung, anh ở lại theo trường và ở với bà bác anh. Còn mẹ tôi và tôi ở chung với gia đình bác tôi. Lúc đầu anh hay đến thăm tôi, anh và tôi ngồi hàng giờ ở phòng khách nhỏ hẹp, vẫn nói những chuyện bâng quơ như ngày trước. Những lần sau anh thấy làm mọi người trong nhà khó chịu vì căn phòng chật chội, anh không đến nữa. Anh và tôi không ai nghĩ đến chuyện hẹn nhau ở một nơi nào đó để có thể được tự do hơn. Anh không đến thì tôi lại tìm cớ đến thăm cô bạn chị họ của anh, nhưng thỉnh thoảng mới găp được anh, anh vẫn có cái tính hay đi chơi với các bạn.
Lúc đó, bác tôi và mấy người anh chị họ của tôi luôn luôn lo lắng cho mẹ con tôi không biết làm gì để sống ở cái thành phố này. Mẹ tôi thì yếu đuối, suốt đời ở trong nhà, còn tôi thì là con nhà chiều. Vốn liếng còn lại cũng tiêu gần hết. Hè năm đó anh đỗ Tú Tài I, anh về thăm gia đình ở ngoài Trung. Cũng trong thời gian đó, một người anh họ của tôi tốt nghiệp trường võ bị Đà Lạt đem về một người bạn cùng khóa. Như một sự xếp đặt từ trước, tôi được giới thiệu với người đó. Lúc đó tôi đã mười tám tuổi. Tôi nhìn anh thấy anh ta nghiêm trang và trưởng thành trong bộ quân phục sĩ quan. Sau đó anh ta đến thăm tôi luôn, và cả nhà thường cố ý dành cho tôi và anh phòng khách để có chỗ nói chuyện riêng với nhau. Chỉ ít lâu sau, anh thưa chuyện với mẹ tôi và ngỏ lời xin cưới tôi trước khi nhận lệnh đến đơn vị mới. Dĩ nhiên là mẹ tôi ưng thuận. Tôi lấy chồng, mẹ tôi theo tôi cùng anh lên một tỉnh của vủng cao nguyên. Tôi sinh con, bận rộn việc gia đình. Năm này qua năm khác, tôi sống yên ổn với hạnh phúc mới, tôi quên luôn hẳn anh.
Thế rồi, không ngờ năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, chồng tôi bỏ mình trong một trận đánh, và thật là một sự lạ lùng tôi tìm được đường vượt biển để đưa được mấy đứa con đến Mỹ. Lần này các con tôi đưa tôi trở lại nơi chúng đã sinh ra, đến thăm mộ của chồng tôi ở Saigon, tôi đã khóc quá chừng, đứng dậy không nổi, các con tôi dỗ dành tôi mãi và sau cùng phải dìu tôi ra xe. Hôm nay, ở Hà Nội tôi lại có dịp tìm về quá khứ của tuổi học trò.
Tôi không hiểu cái tình của tôi đối với anh ngày tháng đó gọi là một cái tình như thế nào, chắc đó là mối tình học trò như bong bóng giữa mùa mưa tan lúc nào không hay, hay là tôi đã sống như những câu truyện trong những cuốn tiểu thuyết lãng mạn mà tôi đã đọc thời đó. Tôi không còn nghe thấy tiếng của bác Thìn mời tôi uống nước, chỉ nghe mơ hồ có tiếng hát ở đâu đó:
Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều
Hà-Nội ơi, nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai ven hồ, khua nước trong như ngày xưa
Tiếng hát lại tiếp theo, hình như có tiếng đàn của anh hòa nhịp theo:
Tôi xa Hà-Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian, tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi, ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng
Nay khói tơ duyên lìa tan.
Tiếng hát và tiếng đàn xa dần. Trong cái yên lặng của khung cảnh ngày xưa, tôi bỗng nhiên cảm thấy như mình trở lại thành một cô gái mười sáu của một Hà-Nội năm nào.
* Lời ca Nỗi Lòng Người Đi của nhạc sĩ Anh Bằng
NGUYỄN CÔNG KHANH
- Từ khóa :
- Nguyễn Công Khanh

