- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

NGÔI TRƯỜNG NHỎ

29 Tháng Sáu 202512:48 CH(Xem: 16187)
truong dien tu dakao

NGÔI TRƯỜNG NHỎ

Truyện ngắn : Phan Tấn Uẩn

 

 **

Lời Tác Giả:

(*)“Ngôi Trường Nhỏ” thuộc thể loại cảm tác – một hình thức văn chương kết hợp giữa hồi ức và hư cấu nghệ thuật, nhằm khơi dậy những giá trị chân thực nhưng đã bị lãng quên. Truyện ghi lại hình ảnh một mái trường không bảng vàng thành tích, không tên tuổi trong hệ thống giáo dục chính quy, nhưng từng là nơi thắp sáng lại niềm tin và nhân cách cho những phận người sau biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975. (PTU)

 

 

 

 

Người ta thường nói nhiều về những trường trung học danh tiếng, những đại học uy nghi, những ngôi trường gắn với bảng vàng truyền thống và hào quang thành đạt.

 

Ngược lại, rất hiếm người nhắc đến những mái trường nhỏ bé, nơi học trò không tìm kiếm  bằng cấp danh giá, không bảng vàng thành tích, không diễn văn khai giảng, không có những kỳ thi náo động – chỉ có những giờ học thầm lặng giữa tiếng quạt máy và mùi nhựa cháy của board mạch. Học để sống, để làm một người thợ lương thiện giữa cuộc đời xô lệch. Trong ký ức ông , giữa muôn vàn lối rẽ của đời sống sau biến cố 1975, có một nơi như thế. Đó là Trường Điện Tử ĐaKao, ngôi trường không có tên trong hệ thống chính quy, nhưng từng là phao cứu sinh cho bao người trôi dạt giữa dòng đời hậu chiến.

 

Ngôi trường ấy nằm nép mình dưới chân Cầu Bông, dĩ nhiên không có cổng lớn, không cột cờ, không trống trường, càng không có bảng danh dự hay lễ khai giảng. Nhưng có lẽ chưa bao giờ ông thấy một không khí học tập nào khẩn thiết và nghiêm túc đến thế. Mỗi học viên đều coi mỗi giờ học là mỗi giờ giành lại tương lai với đôi bàn tay mình hướng về một tay nghề vững vàng . Người thầy sáng lập ra Trường Điện Tử ĐaKao không phải là một nhà giáo được đào tạo bài bản. Ông là cựu sĩ quan chế độ cũ, từng bị đày đọa trong các trại cải tạo. Sau nhiều năm biệt tích, ông trở về SaiGon tay trắng – không tiền, không nhà, không danh phận, chỉ còn lại một thứ không ai tịch thu được: trí nhớ và kiến thức điện tử học được từ Trường Cao Đẳng Bưu Điện Miền Nam những năm trước 1975.

 

Và từ chính đống tro tàn đó, ông bắt đầu thiết dựng một mái trường – bằng đôi tay và lòng kiên nhẫn. Ngôi trường nhỏ ra đời trong âm thầm, không lễ khai trương, không tuyên bố rầm rộ. Một tấm bảng treo trước mái hiên nhà viết bằng sơn trắng: “Trường Điện Tử ĐaKao – Dạy Lý Thuyết và Thực Hành – Nhận Học Viên Không Phân Biệt Trình Độ.”

 

Ông là hiệu trưởng, là thầy dạy, là người giữ sổ sách, là lao công quét lớp, là người thay bóng đèn néon nám cháy. Tối tối, ông cặm cụi đánh máy từng trang giáo trình, vẽ từng sơ đồ mạch điện bằng bút sắt trên giấy stencil  rồi tự tay quay ronéo để phát miễn phí cho học viên. Không ký tên tác giả . Không ai thấy ông đòi hỏi một lời cảm ơn.

 

Một lần, có người hỏi ông:

– Thầy không sợ người ta in lại rồi ghi tên người khác sao ?

 

Ông cười nhẹ:

 

– Tên tôi có đáng gì ? Quan trọng là mạch nguồn này, nếu làm đúng thì máy chạy, làm sai thì tụ hóa lọc điện nổ tung. Điện tử không nói dối. Không như miệng lưỡi con  người…

 

Ông nhớ mãi một buổi học bị cúp điện. Cả một khu phố ĐaKao tối đen như mực, chỉ còn ánh đèn dầu lập loè. Lẽ ra buổi học phải hoãn lại, nhưng ông bảo học viên ngồi yên và vào phòng trong lấy ra một radio Nhật đã tháo tung, và nói:

 

“Hôm nay học trong bóng tối, để biết người thợ không chỉ nhìn bằng mắt, mà còn phải nghe được tiếng máy, cảm được từng mạch điện trong trí nhớ. ”

 

Và trong ánh sáng lờ mờ ấy, ông thao tác từng bước một. Khi chiếc máy phát ra âm thanh trong trẻo, cả lớp ngồi lặng im nghe ông giải thích hư hỏng và cách sửa chữa. Học trò có người nhận ra đó không chỉ là âm thanh của radio, mà là tiếng nói của lòng kiên trì, của kỹ năng thực học, lên tiếng giữa đêm tối thời cuộc. Không ai tốt nghiệp Trường ĐaKao với một tấm bằng nhà nước. Nhưng nhiều người từ ngôi trường ấy đã ngẩng cao đầu làm thợ, làm chủ, làm người. Nhiều người qua Mỹ, làm kỹ thuật viên trong hãng Intel hoặc học tiếp lên Đại Học trở thành kỹ sư tiến sĩ điện tử… Có người mở tiệm sửa điện gần chợ Bà Chiểu. Có người về quê, truyền nghề cho thế hệ sau.

 

Ông còn nhớ học viên tên Chiến từng đi bán vé số ngoài bến xe miền Đông, dành dụm từng đồng để đóng học phí hai tháng một lần. Sau này, Chiến mở một tiệm sửa máy điện gia dụng, rồi làm chủ một gian hàng linh kiện nhỏ trong hội chợ công nghệ. Gặp lại ông, Chiến vẫn lễ phép:

 

– Nếu không có thầy và Trường ĐaKao, chắc giờ nầy em vẫn ngồi lóng ngóng bên lề đường bán chợ trời…

 

Ngày nay, tên trường đã mất dấu theo thời gian, người thầy ấy cũng đã đi xa. Không ai nhắc đến Trường Điện Tử ĐaKao trong những bài tổng kết giáo dục, càng không có tên trong danh mục trường tư thục hay công lập. Nhưng với những người từng bước qua cánh cửa khiêm tốn ấy, đó là nơi đã thắp lại hy vọng bằng kiến thức, bằng niềm tin vào đôi tay và trí óc…

 

Nếu một ngày nào đó có ai viết lại lịch sử giáo dục Việt Nam, ông không mong gì hơn ngoài một dòng nhỏ dành cho những nơi như Trường ĐaKao :

 

“Một ngôi trường không có bảng vàng, nhưng giá trị của nó còn quý hơn vàng ”

 

Một lần ông về thăm ĐaKao, nơi từng đặt tấm bảng "Trường Điện Tử ĐaKao" bằng sơn trắng ở đầu Cầu Bông. Căn nhà đã bị đập bỏ để cải tạo bờ kênh Nhiêu Lộc ,Không ai còn nhớ nơi đó từng là một lớp học có một người đôi mắt sáng lên khi nghe ai nói đến điện trở, tụ lọc và cuộn cảm...

 

Ông đứng thật lâu trên bờ kênh nay đã trở thành con đường lát nhựa  với những quán cà phê ngó mặt ra con kênh nước trong trôi lững lờ giữa bầu trời xanh, nghe tiếng xe vội vả lao theo nhịp đời hối hả. Có gì đó như một tiếng vọng vang lên từ quá khứ , một quá khứ của radio phát nhạc trữ tình, của tiếng giảng mạch bằng giọng trầm ấm hạnh phúc…

 

Ông muốn viết lại lịch sử Trường Điện Tử ĐaKao không phải để làm đẹp ký ức,nhưng để giữ lại hình ảnh đáng quý của một thời mà hôm nay hầu như đã biến mất . Đó là hình ảnh một người thầy vô danh với lòng tận tụy giúp ích cho đời , là thời người ta còn học nghề để làm thợ, để sống ngay thẳng và lương thiện….

   

Phan Tấn Uẩn
Tháng 12/2024

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1389)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2437)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2641)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2385)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
22 Tháng Chín 202610:08 CH(Xem: 2811)
Có một dòng sông đã hơn một lần chôn vùi giấc mộng xâm lăng của một đế chế phương Bắc hung hãn. Vâng, bạn biết không, không chỉ một, không chỉ hai, mà đến ba lần. Những đội quân hùng mạnh nhất châu Á. Các chiến binh dũng mãnh của các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên đã từng vùi xác nơi này bởi dòng nước, bởi bùn lầy, và trí tuệ con người. Dòng sông ấy mang tên Bạch Đằng Giang.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 5030)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 4398)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 4738)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 5091)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 6271)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.