- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

“ Để dỏ”

28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 7940)

TRAN THANH CANH
Chân dung Nhà văn Trần Thanh Cảnh



                                “ Để dỏ”

                                                                  Truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh

 




     Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê.

Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra…

    Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.

***

     Khu phố Lợi Giang xưa, chính là làng Lợi Giang ven sông Thiên Đức nổi tiếng. Làng văn hiến cổ đã mấy ngàn năm. Làng có mấy chục xóm với cả trên chục ngàn nhân khẩu. Làng xưa dân đông ruộng ít nên dân xoay làm thêm đủ nghề: thày đồ thày lang, hàng xáo hàng mã, thợ mộc thợ nề, chạy chợ tóc rối đổi kẹo… Gọi là “bách nghệ”! Thêm vài sào ruộng mỗi nhà, đời sống cũng ổn. Đời nọ nói tiếp đời kia, mỗi đời chắt bóp xây đắp thêm một tí, rồi cũng ra cái làng quy củ, có đủ đình chùa miếu mạo, đường xá cổng ngõ khang trang. Đến thời “hợp tác xã là nhà xã viên là chủ”, bỗng nhiên phá ráo. Đình chùa thành kho chứa phân bón, thành nơi nuôi lợn. Cổng làng cổng ngõ bị phá lấy gạch xây trụ sở. Đến cây đa to tướng đầu làng cũng bị hạ xuống làm củi nung ngói. Làng Lợi Giang tàn tệ xơ xác dần đi. Đói kém. Dân làng bảo nhau, cứ đà này cả làng đến kéo nhau lên “mạn ngược” mà sống! May sang thời đổi mới thoát đói. Rồi đến thời công nghiệp hoá, đô thị hoá dân hết ruộng vì nhà nước lấy làm khu công nghiệp. Làng hoá phố. Đất đai bỗng đắt như vàng.

    Nhà ông Thọ ở mãi cuối ngõ, khi làng lên phố, nhân cơn sốt đất, ông xẻ nửa bán xây được cái nhà năm tầng khang trang rộng rãi, có cả thang máy. Cũng gọi là được “nở mày nở mặt” với xóm giềng. Nhà ông có hai trai ba gái. Gái lấy chồng ăn phận nhà chồng. Hai con trai học hành cũng không đâu vào đâu, nhưng thời buổi này cũng chẳng cần chữ nghĩa gì nhiều: thằng Phúc là lớn, học xong cấp ba theo ông chú họ làm gara ô tô cũng ổn. Cưới vợ về ở một tầng. Thằng bé là Lộc đi học nghề điện rồi xin vào công ty trong khu công nghiệp làm cũng ổn. Nó gặp và đòi cưới ngay một cô nàng “hơi có vấn đề”, khiến cho cả nhà nháo nhào mãi. Nhưng rồi một hôm hai đứa dắt tay nhau về nhà, không nói không rằng ném ngay cái que thử thai “quickstick” hiện hai vạch đỏ rực xuống bàn nước, trước mặt ông Thọ: “Ông liệu mà tính đi, có nhận cháu nội không thì bảo?”

     Đến nước này thì đất không chịu giời thì giời đành chịu đất! Thằng Lộc cưới vợ về ngự một tầng. Kể nhà có năm tầng cũng thoải mái. Tầng một làm chỗ sinh hoạt chung, cơm nước. Tầng hai vợ chồng già. Tầng ba vợ chồng tay Phúc con lớn ỏ. Tầng bốn vợ chồng trẻ tha hồ vùng vẫy. Còn tầng năm để làm nơi dự phòng khách khứa, thờ cúng, chứa đồ linh tinh. Cơm nước ăn uống thì bổ đầu đóng góp theo tháng, vui vẻ. Thế cũng được gọi là “an cư”, chỉ còn việc làm việc ăn. Mà thời buổi kinh tế thị trường nở rộ, giàu thì khó chứ làm đủ ăn đủ tiêu đơn giản. Chỉ cần có sức khoẻ và chăm chỉ là mọi sự ổn.

     Nhưng sự đời lại không ổn mãi như người ta nghĩ. Một ông tổ sư nào đấy đã phán, cuộc sống là sự vận động biến đổi không ngừng. Nó cứ tuần hoàn ổn- bất ổn, rồi lại ổn…xoay vần như đất trời sáng tối. Cái mầm mống của sự bất ổn nó vốn manh nha ngay từ trong cái sự ổn. Ở đây bắt đầu là trường hợp cô Thu, con dâu thứ hai, vợ Lộc. Cô này hơn Lộc vài tuổi, nghe dân phố nói vụng là cave hoàn lương. Thu ở đâu đó về thuê một gian nhà nhỏ trong khu phố làm nghề cắt tóc gội đầu thư giãn. Tay Lộc thanh niên chưa vợ, thỉnh thoảng ghé vào “thư giãn” tí. Lâu ngày bỗng như cụ Tố Như xưa viết: “Trước là trăng gió sau ra đá vàng”! Lộc yêu Thu thật, một hai đòi cưới. Bố mẹ nghe tiếng tăm phản đối, anh trai cũng phản đối, Lộc bơ tất, chơi trò “sự đã rồi”, thế là cả nhà bó tay! Cưới rồi, Thu đóng cửa hàng đẻ liền hai đứa, ở nhà chăm con nội trợ, bán hàng online.

      Chuyện bắt đầu từ cái chỗ “hơi có vấn đề” của Thu.

Cô này có lịch sử bản thân xa xưa thế nào không biết, nhưng từ ngày về khu phố Lợi Giang thuê nhà mở cái quán “gội đầu thư giãn” thì, trở thành cái gai trong mắt các bà các cô, vốn là những nhà “đạo đức” trong khu phố. Dĩ nhiên không tính đám đàn ông con trai, vì Thu tuy gọi là hết date nhưng vẫn còn ngon chán, nhất là so với mấy bà vợ già đã lên chùa tụng kinh hàng đêm và mấy mụ vợ nái sề đẻ vài lứa, vú dài đến rốn. Hàng ngày, hè cũng như đông, Thu diện một cái quần đùi phô cặp đùi thon trắng nuột nà. Áo hai dây không lót, cặp vú to nảy tưng tưng mỗi khi di chuyển. Mùa đông thì nàng có khoác hờ thêm cái áo rét. Còn mặt thì luôn được make up kỹ lưỡng, khiến trai nào mới gặp cũng tưởng là thí sinh vừa đi thi hoa hậu hoàn vũ về làng. Nhưng đó chỉ là bề ngoài, cái dịch vụ “gội đầu thư giãn” của Thu mới là hay ho hơn cả kia. Các anh giai, ông giai, cụ giai tới gội đầu sạch sẽ, thơm tho rồi, nàng mới ỏn ẻn: “Anh có cần thư giãn chút không?”. “Thư giãn là sao?”. “Là cho cái thằng em nhỏ nó bắn pháo hoa ấy!”. Vừa nói, Thu vừa liếc mắt thật tình, rồi đưa tay vuốt nhẹ từ ngực xuôi xuống háng giai. Xoa nhẹ: “Gội đầu năm chục, thư giãn thêm một trăm, nhé!”. “Ok!”. Thế là mở khoá quần. Với kỹ năng điêu luyện của một nàng làm nghề dưới Biển Sơn từ năm mười sáu tuổi, chỉ vài phút là các giai bắn pháo hoa tưng bừng. Có vài tay ngoan cố, đòi khuyến mại thêm cái sự xoa bòng vuốt bướm ngoài quần, Thu cũng ok. Nhưng nàng không cho cởi đồ, hay sục tay vào, vì như thế là vi phạm pháp luật. Giờ nàng hoàn lương rồi, phải giữ gìn để còn tính đường chồng con chứ.

     Nếu chỉ thế thì đâu có gì rắc rối?

Rắc rối ở chỗ là bà vợ ông Thọ, mấy năm nay đã quy y cửa Phật! Bà bảo ông Thọ: “Thôi giờ tôi sạch mình rồi, già rồi lên chùa ăn chay niệm Phật. Ông cũng thế, nên ‘cai’ cái món vớ vẩn đi. Tốt nhất là ông cùng tôi lên chùa niệm Phật. Vợ chồng mình giờ chỉ làm điều thiện lành để phúc đức cho con cháu.”. Ông Thọ xưa nay nổi tiếng ở làng “nể vợ” nên nghe nói thế không dám ho he gì. Nhưng ông không hâm mộ Phật. Đành ngủ riêng. Hết tí táy tí mẻ. Ấm ức. Cơ mà ông còn khoẻ, vốn xuất thân lực điền ăn no ngủ kỹ, sáu mươi tuổi da vẫn căng, bắp thịt rắn như gỗ. Nên hàng đêm, cái “thằng em nhỏ” của ông nó cứ ấm ách. Quậy. Đến phiền…

     Đã thế cô con dâu cả, vợ tay Phúc đang làm đang ăn bình thường, bỗng nhiên giở chứng đòi đi làm giàu. Cô này bảo chồng: “Anh ở nhà chịu khó trông con, tôi đi theo người nhà sang Séc làm nhà hàng mấy năm kiếm tí dấn vốn. Rồi về lo cho con cái nó lớn lên học hành nghề nghiệp mọi bề. Vợ chồng mình cứ hai tay vặt mũi đút vào miệng hết, rồi đời con đi về đâu?”. Vợ chồng con cái đang yên ấm mà bảo chia lìa, Phúc ta không muốn. Nhưng truyền thống nhà này là vợ bảo xin vâng, nên Phúc đành ngậm bồ hòn làm ngọt, tiễn vợ ra sân bay đi Tây! Xưa ở ngoài thành phố họ ca dao: “Có vợ mà cho đi tây/ bằng cúp không khoá để ngay Bờ Hồ”! Bọn cùng lứa trong khu phố nó trêu, đọc lại cho Phúc nghe câu ấy, nhưng Phúc cười thầm. Xe cúp 79, 80, 81 xưa là cả một gia tài mới quý giá thế. Chứ nay, xe ấy đem cho người ta chẳng thèm nhận, báu gì? Vợ Phúc đẻ ba lứa hai trai một gái, hàng họ còn cái quái gì nữa đâu mà lo giữ gìn! Mỗi lần sinh hoạt vợ chồng, thấy Phúc cứ hì hục mãi trên bụng, vợ bảo: “Anh đã cho vào chưa? Xả luôn xong đi còn ngủ mai đi làm chứ?”. Phúc đâm chán. Có khi cả tháng chẳng đụng đến vợ nữa. Thế nhưng cái trò đời cơm có sẵn đấy không ăn thì thôi, vẫn yên tâm. Nhưng khi xa vợ rồi, đêm về “thằng em nhỏ” của Phúc bỗng dưng lại sinh chuyện. Ấm ách. Đỏi hỏi. Rắc rối…

    Từ khi Thu về Lợi Giang mở quán “gội đầu thư giãn”, cánh đàn ông trong khu phố trông mặt mũi hớn hở hẳn ra. Giai nọ bảo giai kia. Ông nọ thì thầm với ông kia. Có cụ bô bô ngay ngoài đình làng: “Cụ thấy trong người ấm ách khó chịu, cứ ra quán em Thu nó xử lý cho. Về thông đái ngon cơm ngay!”. “Ấy cụ! Có gì khe khẽ cái mồm thôi, chốn đình chung thánh quở cho chết!”. “Khe khe…Ông không biết thánh làng ta vốn ưa nhất món ấy à? Hậu cung có cái mo nang sơn đỏ chót đấy thôi!”

     Thế là dần ông Thọ, anh Phúc, Lộc cũng thành “khách hàng quen thuộc” của Thu cả. Có điều ông Thọ hay rẽ vào quán Thu lúc nửa buổi sáng, sau khi đưa cháu đi học. Còn Phúc là sau giờ làm, rẽ qua gội cái đầu, mát xa luôn thằng em nhỏ cho thư thái rồi về chăm con. Riêng Lộc, lúc ấy thanh niên chưa vợ, cứ buổi tối đàng hoàng cơm nước tắm rửa xong, nhảy lên xe máy đi lượn lờ tán tỉnh làng trên phố dưới. Gặp được em nào lả lơi chịn cọ tí, về ngủ ngon. Không lại rẽ vào quán Thu. Lâu dần thành khách ruột. Một hôm Thu bảo: “Anh thích thì đêm ngủ lại đây, em chiều tới Z luôn, free!”. Là vì Thu cũng thèm giai, cũng có nhu cầu được âu yếm. Mà Lộc lại đang là trai tân! Cả ngày phải sờ mó âu yếm đàn ông, từ A tới Y, rồi tự mình cũng thấy thèm Z. Thịt da ai chẳng là người? Vả lại, xưa thời đỉnh cao dưới Biển Sơn, có ngày Thu tiếp cả vài ba chục khách là thường. Nay quyết định hoàn lương, nhưng “nó” vẫn nhớ nghề. Nên Thu cũng cần có giai ôm ấp, ân ái. Lâu dần, Lộc chẳng buồn đi tán gái đâu nữa, cứ tối đến là tới cửa hàng của Thu, đóng cửa hú hí với nhau. Rồi thành chuyện như đã kể…

***

      Ngày xưa các cụ ca dao: “gái hai con cổ thắt mắt treo”, là ý nói đẻ lứa hai rồi, đàn bà bắt đầu gầy đi, cổ nhỏ thắt lại, mắt trố to trũng xuống vì thức đêm nuôi con. Xấu xí. Chứ không còn như hồi một con trông mòn con mắt nữa. Nhưng nay khác xưa nhiều về điều kiện kinh tế ăn ở. Nên khi Thu đẻ xong hai đứa con, dường như lúc ấy bao nhiêu tiềm năng đàn bà mới được khai phá hết. Bung ra. Ở nhà trông con, Thu mặc mỗi bộ lửng nhẹ, các cái thứ của đàn bà cứ thoải mái trưng bày. Thu lại làm nghề bán hàng online quần áo lót nên càng ăn mặc mát mẻ tợn. Để livestream! Nhưng lại khiến cho hai khách hàng cũ- nay là bố chồng và anh chồng thỉnh thoảng nhìn thấy chóng hết mặt. Mà một ông vợ già vẫn cứ lên chùa, ông vợ trẻ biền biệt trời tây. Thèm thuồng. Thở ngắn than dài rằng sao ông trời éo le lại cho nó về làm dâu nhà này cơ chứ…

     Đến một buổi sáng bức xúc cao điểm. Nhân lúc nhà vắng người, ông Thọ xông thẳng lên tầng tư, bảo Thu: “Ngày xưa mày vẫn làm cho bố! Nay mày cứ coi bố vẫn như khách hàng xưa, cho bố làm tí. Bố trả tiền sòng phẳng!”. Miệng nói tay làm, ông Thọ đè cô con dâu thứ hai ra làm liền! Thu bất ngờ chưa kịp chống đỡ cãi cự gì, thì thấy mình đã bị ông lực điền già sấn vào chiếm gọn. Cô nàng thở dài, tắc lưỡi, nghĩ thầm: “Cùng một gia chim bố chim con đều là chim nhà cả! Cho xong chuyện!”. Từ buổi ấy trở đi, cứ nhằm lúc vắng người là ông Thọ lại lên tầng tư “chơi với cháu”!

      Nhưng sự đời không đơn giản thế. Có hôm Lộc làm tăng ca đêm nên không về, ông Thọ mò lên chiếm lĩnh trận địa cả đêm. Không may cho ông Thọ, tay Phúc đang cấn cá cuộc đời, đêm cũng hay âm thầm mò lên tầng tư nhòm qua khe cửa xem Thu livestream. Ưỡn ẹo. Rung rinh. Hắn đứng ngoài xuýt xoa tự sướng rồi về ngủ. Hắn thầm nguyền rủa thằng em, tự dưng chiếm của công làm của tư. Giá cứ để mặc nó ở hàng cắt tóc gội đầu không cưới về làm gì, có phải còn chỗ thư giãn không…

       Nên không may cho ông Thọ đêm ấy tranh thủ với Thu, bị tay Phúc nhòm thấy qua khe cửa. Hắn bèn lấy điện thoại âm thầm quay lại hết. Hôm sau, hắn cũng đợi lúc vắng người mò lên tầng tư. Hắn mở điện thoại ra cho Thu xem, rồi bảo: “Thôi em cứ chiều anh như chiều bố là ok! Anh không nói gì với thằng Lộc hết. Và anh cũng vẫn thanh toán sòng phẳng như bố!”. Thu lại tắc lưỡi thở dài đánh thượt! Thế là Thu chẳng phải làm gì, chẳng phải cửa hàng cửa hiệu gì, có ngay hai ông khách sộp. Sộp đến nỗi, nàng bỏ luôn cả bán hàng online nói do dạo này ế ẩm. Chỉ ngồi vạch ti cho con bú và tô vẽ nhan sắc đợi phục vụ ba người đàn ông trong nhà: cha sáng, anh chiều, chồng tối!

     Thực ra thì mới đầu Thu cũng thấy ngại. Là sợ chồng biết thôi. Nhưng cả ông Thọ và Phúc đều bảo: “Chuyện trong nhà trên gác, cổng thì khoá chặt rồi. Ta không nói, Thu không nói, đứa nào vào gầm giường mà biết được? Hão!”. Thu cũng thấy yên yên. Chợt nhớ xưa lúc còn đang ở nhà đi học cấp hai, theo chúng bạn ra ngã ba Núi Sung Sướng làm gái kiếm tiền, cô giáo vào nhà vận động mẹ ngăn, mẹ bảo: “Ô, kệ nó. Để dỏ cũng thế mà! Đây vừa sướng vừa có tiền. Kệ nó!”.

     Để dỏ- nghĩa là để không, từ của đồng bào quê Thu. Thì cũng “để dỏ” từ sáng đến chiều làm gì, trong khi có hai người cứ rình rập thèm khát, nó phí đi. Mà vừa có tiền lại vừa vui vẻ cả nhà!

***

     Người Lợi Giang có câu: “Cái kim trong bọc mãi cũng lòi ra!”

Mà chuyện loằng nhoằng la liếm này nó không phải là cái kim! Cái dùi đục cái cột to đùng. Thế rồi xì xào khắp xóm làng hàng phố. Chuyện đến cả tai bà Thọ, tai Lộc…

     Một hôm bà Thọ bỗng tuyên bố: “Nhà này bị ma ám, có mấy người bị ma làm! Nên phải mời thày về cúng để trừ tà”. Bà bảo, người ta bị ma làm thì không thành ra con người nữa. Trừ đuổi ma đi, để hoàn người. Bà cho lập đàn cúng trong nhà liền bảy ngày bảy đêm. Bắt chồng là ông Thọ cùng con trai lớn với cô con dâu Thu ngồi hầu từ đầu đến cuối. Hôm lễ cuối, khi bà ra sân hoá mã cả đống voi giấy ngựa giấy, trong nhà thày bê bát nước cúng ngậm phun phì phì vào cả ba. Rồi thày lấy cây roi dâu để sẵn trên ban thờ múa vun vút, vụt đen đét vào người cả ba. Ba người ngồi lắc lư theo điệu múa roi của thầy một hồi, rồi bỗng nhiên lăn quay lơ ra chiếu. Thày tuyên bố đã đuổi xong ba con ma ám quẻ nhà này đi rồi. Tay Lộc vào bê vợ hắn ra xe tắc xi đợi sẵn về thẳng nhà trọ mới.

     Sau vụ đó quả thật nhà bà Thọ lại êm ả. Ông Thọ hàng ngày chăm chỉ đưa đón các cháu, xong về nấu cơm nước, giặt rũ quét dọn hết ngày. Còn tay Lộc hầu như suốt ngày chui gầm ô tô, mặt mũi lúc nào cũng đầy dầu mỡ, chẳng để ý đến cái sự gì.

                                                        09/2025.TTC  

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 2475)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 6039)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 4902)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 6619)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 6995)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 6702)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 7115)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 6335)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 5278)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 5700)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9932)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16770)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15761)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16192)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1547)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3354)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3154)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3106)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1315)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5278)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7303)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6652)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 895)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 690)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1460)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2415)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2256)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2480)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2475)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1206)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13614)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29720)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35742)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10847)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12693)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2130)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3154)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3324)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3604)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4151)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7843)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7159)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9996)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.