- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ TAM QUỐC DIỄN NGHĨA ỨNG DỤNG VÀO CUỘC SỐNG

10 Tháng Bảy 20254:16 CH(Xem: 11530)
Bia TAM QUOC DIEN NGHIA

Chuyên mục:

ĐỌC LẠI CỔ VĂN

Hoàng Thị Bích Hà

 

 

NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ TAM QUỐC DIỄN NGHĨA ỨNG DỤNG VÀO CUỘC SỐNG

 

 

Ngay cả đối với bạn nào cả đời không thích đọc sách thì cũng nên đọc qua một lần bộ truyện Tam Quốc Chí hay Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung (chấp bút vào thế kỷ 14). Nếu muốn nghiêng về lịch sử thì đọc Tam Quốc Chí, muốn nghiêng về văn học thì đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa. Nội dung đều nói về thời kỳ loạn lạc cuối nhà Đông Hán, khi ba thế lực lớn là Ngụy, Thục, Ngô tranh giành quyền lực.

Thực sự thì có đọc chính sử đi nữa cũng không thể đúng hoàn toàn. Vì lịch sử thường được chép lại bởi triều đại sau viết về thời đại trước, được viết bởi kẻ mạnh, là thế lực chiến thắng. Ngay cả cùng triều đại người ta cũng chỉ viết phần lớn những gì có lợi cho giai cấp đang trị vì mà thôi. Nếu đem văn bản Tam quốc diễn nghĩa ra so sánh với văn bản Tam quốc chí có nhiều đoạn trùng khớp hoàn toàn. La Quán Trung đã tiểu thuyết hóa, dựa những ghi chép gốc trong chính sử vào trong tác phẩm của mình, hư cấu theo tỷ lệ (7-3) bảy phần thực, ba phần hư. Phần hư cấu của La Quán Trung chủ yếu ở những phần chính sử không chép, cũng không có ở các sáng tác dân gian trước đó, và chính những phần này mới hay nhất trong tác phẩm - xét về văn học. Vì vậy đòi hỏi tính xác thực, là điều không thể và cũng không cần thiết khi sự việc đã diễn ra cách chúng ta hàng ngàn năm về thời gian rất xa.

Tam Quốc diễn nghĩa là một tiểu thuyết lịch sử. Tác phẩm được xem là một trong Tứ đại kỳ thư (tứ đại danh tác) của Trung Hoa cổ đại. Nó không chỉ tái hiện những trận chiến hào hùng mà còn khắc họa sâu sắc trí tuệ, mưu lược và số phận của các nhân vật lịch sử như Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền, Gia Cát Lượng,...Điều đáng quan tâm ở kiệt tác này là giá trị văn học, có sức sống vượt thời gian. Hiểu được những mưu lược và kế sách trong Tam Quốc để rút ra ý nghĩa và bài học ứng dụng vào cuộc sống.

      1. Muốn giữ nghiệp, học Tào Tháo, muốn kế nghiệp học Tôn Quyền, muốn khởi nghiệp học Lưu Bị.

Tào Tháo là người thông minh, đa mưu lại là người có lợi thế xuất thân cũng danh gia vọng tộc, lại nắm được Thiên Tử trong tay để sai khiến chư hầu. Ông biết dùng người, có tài năng là dùng. Vì vậy dưới trướng ông quy về nhiều tài năng lỗi lạc, trung thành hết mình và có thể vì ông mà sống chết. Còn Tôn Quyền đương nhiên con dòng của giống cũng tài năng không kém các thế hệ trước và may mắn sinh ra đã thừa hưởng cơ nghiệp của cha và anh để lại. Còn Lưu Bị thì tạo nghiệp từ con số không. Dù rằng có dòng dõi là con cháu Hán Vương nhưng chỉ là anh bán chiếu để kiếm sống. Nhưng vì sao vừa gặp đã khiến Quan Vũ và Trương Phi theo mình một cách trung thành? Vì ông có chí hướng và mục tiêu rõ ràng. Dù trong tay chưa có gì nhưng người ta sẵn sàng đầu tư và đi theo phục tùng để cùng nhau dựng nghiệp. Trong cách viết của La Quán Trung, ngòi bút của ông có phần thiên vị phe Lưu Bị, vậy cũng hợp lòng dân. Bá tánh cần người lãnh đạo có đạo đức, thương dân, đồng cam cộng khổ, thương yêu anh em dưới trướng và quân sĩ.

     2. Tính cách của mỗi nhân vật quan trọng đều để lại bài học trong cuộc sống:

2-1. Bất tín thì không thể thành công. Lã Bố là một mãnh tướng, có lúc cân cả ba anh em: Lưu, Quan, Trương, nhưng ông không có chữ tín, giết hại 2 người cha nuôi, tức là phản bội các liên minh, cuối cùng không được trọng dụng và bị giết bởi tay Tào Tháo, dù Tháo cũng tiếc, muốn dùng nhưng nghĩ lại thấy tay này từng giết hai nghĩa phụ nên loại trừ cho khỏi hiểm họa về sau.

2-2 Đổng Trác là điển hình của kẻ lạm quyền và tàn ác. Cuối cùng bị chính nghĩa tử của mình là Lã Bố giết. Đổng Trác và Lã Bố cho thấy thêm một ví dụ là: “Anh hùng không qua ải mỹ nhân”.

2-3. Viên Thuật: Tài không xứng với ngôi, sớm muộn cũng sẽ thất bại. Viên Thuật sống xa hoa và tham vọng xưng đế nhưng không đủ khả năng quản lý. Viên Thiệu thiếu tầm nhìn, thiếu quyết đoán thường do dự, bỏ lỡ nhiều cơ hội, lại không nghe lời khuyên của các thủ túc tâm đắc nên nhiều lúc mất cơ hội, dẫn đến thất bại thảm hại.

2-4. Dương Tu, Hứa Du, Mã Tắc: Có tài năng nhưng cần biết khi làm việc thì cần thể hiện bao nhiêu cho phù hợp với vai vế và công việc được giao, tránh bộc lộ thông minh hơn sếp. Sếp muốn mình hoàn thành tốt công việc nhưng đừng tỏ ra giỏi hơn sếp. Đó là điều đại kỵ. Cần biết che giấu bản thân, biết nhìn thấu nhưng khi nào cần nói, khi nào cần ém đều phải có chiến lược.

2-5. Tư Mã Ý ông chưa phải là người giỏi nhất Tam Quốc nhưng ông là người biết ẩn nhẫn chờ thời, biết khi nào tiến, khi nào lùi, thậm chí giả thua. Có những lúc ông vẫn có thể chiến thắng đối phương. Nhưng ông hiểu quy luật: “điểu tận cung tàn” Thỏ chết, chó săn cũng bị giết, nghĩa là hết giá trị lợi dụng ông cũng sẽ bị loại trừ. Cuối cùng ông đã tạo cơ sở vững chắc cho con cháu ông thống nhất cả ba nước, quy về một mối.

2-6. Chu Du chết vì tức giận, do lòng đố kỵ với Gia Cát Lượng. Ông từng than: “Trời đã sinh ra Du sao còn sinh Lượng”, không chịu chấp nhận tài năng của người khác, không đành lòng mình phải thua. Đố ky gây hại cho bản thân và ảnh hưởng đến công việc và các mối quan hệ. Ai giỏi hơn mình, phải công nhận họ và học hỏi. Lòng đố kỵ, tức tối không đem lại lợi ích gì mà còn thiệt thân.

2-7. Quan Vũ là vị tướng vừa trung thành với Lưu Bị vừa tài giỏi trận mạc. Tuy nhiên cái tôi hơi bị lớn (tự phụ) không nghe lời khuyên của cộng sự nên đã bị Tôn Quyền giết hại.

2-8. Trương Phi nóng nảy, thiếu kiềm chế cảm xúc, thường uống rượu say, đánh đập thuộc hạ nên cuối cùng bị thuộc hạ phản bội và giết hại.

     3. Không có kẻ thù vĩnh viễn cũng rất hiếm tình bạn vĩnh viễn, chỉ có lợi ích mới là vững bền. Hôm nay đối đầu, ngày sau có thể cầu hòa, liên minh cùng chống lại kẻ khác. Ngay cả trong cùng hàng ngũ cũng không có 100% tình đồng đội vĩnh cữu. Có thể xông pha trận mạc để cứu nhau, cũng có thể vì quyền lợi mà bán đứng nhau. Hay nói cách khác loại trừ lẫn nhau khi tranh quyền đoạt vị. Nên tin vừa đủ và đề phòng không thừa.

Ngay cả công thần khai quốc của nhà Thục Hán, như Gia Cát Lượng suốt đời cung cúc tận tụy phục vụ Lưu Bị rồi đến thế hệ sau Lưu Thiện, vậy mà vẫn bị có kẻ gièm pha, nói xấu sau lưng với bệ hạ. Cái tật nịnh bợ gièm pha, đặt điều hãm hại người tài thời nào cũng có. Nếu gặp minh chủ sáng suốt thì không sao, chứ gặp sếp năng lực hạn chế, nghe lời xu nịnh thì cũng gây ra không ít phiền toái.

 
     4. Triệu Tử Long- dũng tướng kỳ tài nặng lòng trung hiếu. Có lẽ ai ra trận cũng mơ mình được như Triệu Tử Long, chưa bao giờ bại trận dưới tay đối phương. Quân địch cũng không thiếu tướng tài nhưng không làm gì được ông giữa sa trường. Ông là một vị dũng tướng bậc nhất, trung thành cho đến chết của Lưu Bị. Lưu Bị đánh giá cao Triệu Tử Long. Ông từ chối 3000 binh lính và ngựa để đánh với Tào Tháo chỉ cần một người đó là Triệu Vân-Triệu Tử Long. Khi Tào Tháo tấn công Từ Châu, Lưu Bị cầu cứu Công Tôn Toản. Ông nói rằng: Tại hạ không mượn bất kỳ binh mã nào, chỉ xin tướng quân cho mượn một người: Thượng Sơn Triệu Tử Long. Triệu Vân từng xông vào giữa vòng vây, hàng vạn quân địch, mở đường máu để cứu con trai Lưu Bị là A Đẩu. Suốt một đời xông pha trận mạc, sống thọ và mất vì tuổi già.

 
    5. Luận cổ suy kim


Chúng ta có thể học cách ứng xử từ những thành công và thất bại của các nhân vật trong Tam Quốc Diễn Nghĩa cũng như rút ra những bài học chiến lược từ cuộc đối đầu giữa Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý.

 

Tư Mã Ý ông là bậc thượng nhân. Biết biết lùi đúng cách, quan sát nhiều, nói ít. Thận trọng không tùy tiện nói năng hành xử mà không có tính toán. Làm việc gì cũng không nên lộ liễu, âm thầm bố trí kế hoạch khiến đối phương trở tay không kịp. Ông dựa vào đối phương để cũng cố quyền lực. Trong trận “Không thành kế” thực ra Tư Mã ý đã hiểu rõ tình thế. Nếu giết Gia Cát Lượng, dẹp được quân Thục, xem như ông đã hết giá trị lợi dụng, lúc đó không tránh khỏi quy luật: “vắt chanh bỏ vỏ” sẽ bị loại trừ bởi sự ganh ghét tài năng của kẻ nắm quyền lực. Ông là người buồn vui không thể hiện ra mặt, biết nhẫn nhục chịu đựng sống sót đề chờ ngày thành công. Tư Mã Ý là bậc kỳ tài với khả năng ẩn nhẫn, mưu lược và kiểm soát cảm xúc. Ông mới có ngày bước lên đỉnh cao quyền lực tạo nền móng để thống nhất thiên hạ và lập nên nhà Tấn.

 

 Gia Cát lượng là mưu sỹ số một của Lưu Bị, người đời gọi ông là “thần cơ diệu toán, trên tường thiên văn, dưới tường địa lý, kế sách trận mạc tài ba. Một bậc kỳ tài, giữa thời loạn chọn cách sống trung quân, ái quốc, suốt đời tận tụy vì giấc mộng phục Hán. Ngay cả khi Lưu Bị qua đời phó thác Lưu Thiện tại thành Bạch Đế. Gia Cát Lượng không chỉ có trách nhiệm với một đứa trẻ mà còn gánh vác cả tương lai của Thục Hán. Dù Lưu Thiện bất tài, ông vẫn yêu thương tận tụy hết sức mình. Ngay cả khi biết số mình đã tận ông cũng để lại di thư, để lại kế sách để cho thuộc hạ tin cậy như Danh sĩ Khương Duy tiếp tục chăm lo vận mệnh đất nước. Cuộc đời Gia cát Lượng là một truyền kỳ, ông không phải là một vị thần bất khả xâm phạm, nhưng ông là một bậc kỳ tài, vĩ đại mà đầy tính nhân văn, giữa thời đại loạn lạc và cơ hội. Ông sống cả đời nghiêm túc và chân thành, thẳng thắn và nghĩa khí. Ông xứng đáng với sự kính ngưỡng của hậu thế.

 

Tuy nhiên, chiến tranh tàn khốc quá, trong lịch sử mấy ngàn năm của thế giới nói chung và ba nước Ngô, Thục, Ngụy nói riêng, con người chết vì chiến tranh nhiều quá, từ tướng đến lính cho đến dân đen đều thống khổ. Vẫn biết là quy luật “được là vua, thua làm giặc”. Dù phe nào đi nữa tôi cũng thấy họ chém người như chém chuối. Máu chảy thành sông, thây chất thành đống mà kẻ hậu thế không khỏi ngậm ngùi. Tôi vẫn nhớ lời ông nội tôi, lúc tôi còn nhỏ rằng: trong lịch sử định hình của thế giới khi thiên tai, khi địch họa, cuộc đấu tranh sinh tồn của bao thế hệ: “Mười phần chết bảy còn ba/ chết hai còn một mới ra thái bình”. Ở tuổi thiếu niên lúc đó tôi chưa hiểu gì nhiều về chiến tranh nhưng nghe ông tôi nói vậy tôi cũng hiểu về cái giá của hòa bình nó đắt đến ra sao! Đọc lại bộ truyện này, tôi vẫn mong cầu thế giới đừng có chiến tranh, “các ông lớn”hãy hành xử văn minh trên bàn đàm phán để nhân loại bớt khổ đau, để loài người lo phát minh và kiến tạo.

  

Saigon, ngày 26/6/2025

Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1452)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1684)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
26 Tháng Sáu 20262:03 CH(Xem: 1409)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2465)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 2527)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 1988)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 2698)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 2710)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 2901)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 2212)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10447)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17262)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16338)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16792)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1111)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1660)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1684)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2464)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 552)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 978)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1560)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1409)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 346)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1135)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1643)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1555)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 635)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3147)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3104)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3663)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2212)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13957)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30087)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36161)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11647)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13100)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2924)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4149)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4085)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4613)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5136)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8355)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7750)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10669)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.