- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HOÀNG CẦM

18 Tháng Năm 202511:27 CH(Xem: 15298)




Ngày 06.05.2010, cách nay 15 năm, tôi mất một người bạn thân và quý ở Hà Nội. Đó là anh Hoàng Cầm. Hoàng Cầm và Thái Bá Vân là hai người bạn HN mà tôi có tình thân và quý mến từ những năm 1990. Tình cảm này đã gây trong tôi những xúc động sâu xa khi mất đi các anh. Tôi không làm Thơ theo lối “khóc bạn” cổ điển. Những bài Thơ viết về các bạn đã mất là những cảm xúc của một tình bạn tuy không gian cách xa, nhưng rất gần gũi trong Tình, trong Thơ.

Tôi trích ra đây lần đầu tiên trong tập văn xuôi duy nhất của tôi “Ghi Chú Về Không Sự” (Notizen der Nichtigkeit) một đoạn tôi ghi về tình bạn hiếm có này, trong khoảng thời gian 20 năm từ 1995 đến lúc anh mất.
NGUYỄN CHÍ TRUNG

 

chi trung HOANG CAM
HINH 1: Chí Trung và Hoàng Cầm

 

*** HOÀNG CẦM ***

 

Những lần sau này, mỗi khi tôi về Hà Nội, tôi đều có đến thăm anh, nhất là sau khi Vân mất. Một thời điểm nào đó, tôi đứng trước một căn nhà gạch mới xây, không thấy căn nhà xưa đâu nữa. Tôi gọi “anh Cầm ơi” vói lên nhà. Từ trên cao có tiếng anh đáp trả “ai đấy”: Khi nghe tiếng trả lời vọng lên anh biết là tôi, những lần đầu anh bước xuống cầu thang đón và dẫn tôi lên tầng trên, chỉ một lần đó thôi. Lần cuối cùng, tôi tự đi ttừng nấc thang lên ba hay bốn tầng đến chỗ anh “ở”, nghĩa là nơi anh nàm.

 

Một lần của những năm xưa tôi và vợ tôi đến thăm anh. Lúc đó là vào giai đoạn đầu, tức là khoảng sau 1997, khi tôi đã in “Thi Ca Ngoại Tập” ở nxb Văn Học HN. Nhà anh đã không còn là ngôi nhà gỗ lụp xụp và tối như lần đầu Vân dẫn tôi đến, mà đã trở thành nhà gạch có một tầng trên. Tôi và KC lên trên gác gặp anh. Tôi thấy anh vẫn đang nằm rất tự nhiên, mặc áo maillot và quần pyjama, bên cạnh một “bàn đèn”. Song song với anh là một người râu tóc cũng đã muối tiêu, cũng nằm bên cạnh. Hóa ra hai người đang có chầu thuốc phiện. Anh Cầm giới thiệu chúng tôi, đây là anh Quang. Tôi chưa nghe và chưa gặp anh Quang bao giờ. Hai người rất tự nhiên, dù có mặt một phụ nữ là vợ tôi, vẫn tiếp tục chuyện trò với tôi và thay phiên nhau trao đổi điếu thuốc hút. Tôi vốn đã quen cảnh người hút thuốc phiện, thời tre tuổi (những năm 1950er), hai căn nhà sát bên cạnh nhà tôi đều có người hút thuốc phiện. Mỗi buổi trưa, khi trời nóng nực quá và tôi không ngủ được, tôi hay leo lên gác xép xây trên phòng bếp. Ở đấy tôi có thể nhìn qua nhà bên cạnh qua các khe hở của các liếp gỗ là vách ngăn nhà nhau. Và bên ấy có chồng của cô y tá hàng xóm nằm bên cạnh bàn đèn. Mỗi khi ông ấy rít một hơi dài và khoan khoái thở ra, khói bay đầy phòng, xuyên qua các liếp gỗ đến tận mũi tôi: tôi chỉ thấy một mùi thơm rất dễ chịu. Giờ đây, sau mấy mươi năm, tôi trực tiếp ngồi cạnh một người bạn già, nằm hút trong một bầu không khí gần gũi thân mật, mùi khói thuốc càng nồng, càng ấm và càng thơm đối với tôi. Anh hỏi hai đứa chúng tôi, “có muốn thử không thì anh đưa cho thử cho biết”. Tôi từ chối, nhưng vợ tôi, vốn là một người rất tự nhiên và cỡi mở, có vẽ muốn thử, nhưng sau cùng chỉ cười cám ơn khi anh hỏi thêm lần nữa.

 

Bữa anh và anh Q. hút thuốc hôm đó, tôi có ghi lại trong một số ảnh chụp. Lúc ấy, không ai có khả năng hoặc trí tưởng tượng nghĩ ra sau này sẽ có những máy ảnh, chụp bao nhiêu cũng được, vì chụp xong xóa đi ngay được. Tôi phải dè dặt vì những cuộn phim mang theo chỉ có 36 bức tối đa. Và mỗi bức chụp hỏng, là mất một bức. Bây giờ nhớ lại, tôi ngạc nhiên vì sự “tự nhiên” của mình, chụp ảnh anh Q., một người lạ đối với tôi mà không xin phép, và sự tự do phóng khoáng của anh Q, không phiền hà gì khi tôi ghi lại chầu thuốc phiên đấy trong những hình ảnh. Trên nguyên tắc, việc hút nha phiến ở VN vẫn bị luật pháp cấm cho đến ngày nay. Và việc anh HC nghiện thuốc phiện cũng là điều mà ai cũng biết, những người có dính dáng đến giới văn nghệ sĩ HN. Anh có nói với tôi là anh đã có lý do từ hồi trẻ, tại sao phải trở nên bị “nghiện” thuốc phiện. Nếu tôi nhớ không nhầm thì lý do là vì anh bị suyển nặng. Viết đến đây, tôi nghĩ mình phải mở một dấu ngoặc thật dài và rộng. Đó là tôi muốn nói về cái gọi là trí nhớ của tôi, nay đã trở thành “trí nhớ của một người 77 tuổi”, nghĩa là tôi không dám, không có thể khẳng định 100% những thời điểm mà tôi viết ra có chính xác hay không. Nếu sau này, có một người nào đó “tìm ra” sự không-chính-xác của các thời điểm đã được ghi ra, thì đó không phải là lý do để phê bình hay nghi vấn những chuyện tôi kể ra đây, những chuyện đã có giữa các bạn văn nghẹ sĩ và tôi. Xin đóng ngoặc dài ở đây.

 

Và cũng nhờ vào thuốc phiện mà anh còn sống được đến ngày nay, nghĩa là những ngày tháng của cuối những năm 1990er. Và anh còn nói thêm một điều này là anh đã nhiều lần được các hội hè hay bạn hữu VN ở bên Pháp mời sang Paris. Anh cũng muốn đi lắm, nhưng họ không có lời giải cho “vấn đề thuốc” cho anh nên chuyện đi nước ngoài của Hoàng Cầm đã không bao giờ xảy ra.

 

Nhiều lần tôi cũng có gọi điện về cho anh và nói chuyện, dù lúc bấy giờ điện thoại chỉ có thể được thực hiện qua đường của bưu điện, của các hãng sau này được gọi đại khái với một cái tên là “Viễn Thông”. Anh và tôi nói chuyện về Thơ, và về cái gọi là “quê nhà”. Anh không cần và có lẽ không hề biết ý niệm “Quê Nhà & Quê Hương” nơi tôi nó khác biệt đến ý niệm cùng chữ gọi đó của nững người như anh, một đời gắn bó với đấu tranh, từ thời Pháp thuộc, sau này đến chuyện tù đày vì đòi hỏi tự do cho người nghệ sĩ, cho đến cuộc chiến tranh Nam Bắc, và chưa một lần rời bỏ hay ra khỏi đất nước. Anh nói với tất cả sự giản dị của một tinh thần yêu nước của một người nghệ sĩ VN.

 

Tôi nhớ một lần tôi đến chơi với anh vào một chiều tối. Anh vui mừng và một lúc nào đó nói: “hai anh em mình đi uống bia hơi”. Anh kéo tôi ra khỏi con ngõ 39 Lý Quốc Sư, đi một quãng về phía Nhà Thờ và xê vào một quán bia. Thời ấy HN đã từ từ thay đổi bộ mặt, đương phố đã có nhiều đèn và sáng sủa hơn, các cửa hiệu ăn uống cũng có vẻ sạch sẽ tươm tất hơn, không còn gây một ấn tượng đen đủi luộm thuộm nữa. Anh gọi họ mang bia hơi ra uống. Tôi chỉ biết bia hơi là loại bia rẻ tiền hơn bia ngoại quốc được đóng trong những lon thường thấy. Loại bia này, chỉ có được cái là rất nhẹ, vị rất loãng, hầu như không có, và rất nhiều hơi. Cái “lợi điểm” của bia hơi là người ta có cảm giác là đã uống rất nhiều bia, khi bắt đầu ngà ngà say. Hai chúng tôi ngồi tà tà uống những cốc bia 1 lít to nặng, như những cốc bia người ta thường thấy ở Đại Hội Tháng Mười Ở Munich (Oktoberfest in München, Deutschland) và nói chuyện văn chương chữ nghĩa. Tôi có nhờ người của quán chụp ảnh để kỷ niệm. Đến khuya anh đã ngà say và dĩ nhiên tôi cũng thế. Tôi đứng lên, dìu anh về đến tận nhà và từ giã anh. Tôi vì tối hôm ấy chưa hoặc đúng hơn đã không ăn gì nên uống khá nhiều bia vào bụng trống, nên tôi phải lão đảo tìm đường về, nửa choáng váng vì men rượu, nửa buồn bả vô hạn vì chia tay bạn già, nhất là khi tôi ở một phương trời nào đó, xa xôi … vô cùng tận.

 

Lần cuối cùng tôi đến thăm anh là vào mùa đông năm trước khi anh mất. Tôi đi bộ lên nhiều từng lầu, lên tận tầng chót. Có vẻ như đấy là phòng riêng của anh. HN vào mùa đông, tháng giêng hay hai, có thể thật lạnh. Hơn nữa những nhà được xây lên trong khoảng thời gian trước hay lúc đó phần lớn là vẫn không (hay chưa) chú ý đến vấn đề kín gió, nghĩa là vẫn hở đầu hở đuôi, trong nhà không có thiết bị lò sưởi dù dưới bất cứ hình thức nào (máy nóng lạnh hai chiều). Anh nằm trên giường, giữa một đống chăn mền hỗn độn, và có mặc áo len. Tôi thấy anh đã già hẵn đi, khác với những ngày tháng anh và tôi kéo nhau đi uống “Bia Hơi” ở đâu đó ngoài đường. và anh cũng ốm nhiều đi, cùng với dáng điệu, cử động mệt mõi. Tuy nhiên anh luôn cho tôi một nụ cười mừng rở và vui vẻ lúc hai anh em gặp nhau lại, dù là đã một hay nhiều năm không gặp lại nhau: lần ấy anh cho tôi quyển sách mới in ra của anh, “Văn Xuôi Hoàng Cầm” và ký tặng tôi. Trong tập sách này họ có in cả bài HC viết về NCT, lúc hai anh em gặp nhau lần đầu, khi tôi tặng anh tập Thơ Trong Hồi Tắt Hơi (THTH, in ở Đức). Anh có tặng tôi nguyên cả bản thảo viết tay sau khi anh viết bài ấy. Hôm tất cả mấy anh em tụ tập nhau ở nhà anh Vân, anh cũng có chép tay giao cho tôi một bài Thơ anh tặng cho cô …. , một người phụ nữ có quan hệ với anh.

 

Một lúc người nhà của anh mang lên một bát cháo cho anh. Anh nửa nằm trên giường, nửa phải hay muốn ngồi dậy để ăn tối. Tôi giúp anh ngồi dựa lưng trên đống gối mền, và đút từng muỗng cháo cho anh ăn. Anh vừa ăn vừa chuyện trò vui vẻ với tôi, như không có chuyện gì đáng phàn nàn xảy ra. Những tấm hình chụp anh HC và tôi tối hôm giã biệt ấy, là những tấm hình thật quý của tôi. Tôi chỉ phổ biến một hai tấm trong nhiều tấm tôi có, vì ở thời đại thông minh nhân tạo và mạng xã hội, có lẽ chẳng ai quan tâm đến chuyện tác quyền, “đạo ảnh / đạo văn / đạo thơ / đạo nhạc”, không chỉ kẻ “”đạo” mà kể cả kẻ “tác”.

Mùa xuân năm 2010 đó, tôi được tin thi sĩ Hoàng Cầm đã mất tại HN.

Dưới đây là hai bài trường thi tôi viết cho anh:

 

chi trung HOANG CAM 2
HINH 2 : Bia hơi Lý Quốc Sư với Hoàng Cầm

 

Nguyễn Chí Trung

GỬI HOÀNG CẦM

 

Tôi là kẻ ở phương xa

Tôi đi khắp đất, đâu là quê hương

Lâu rồi tôi mỏi phố phường

Lâu rồi tôi chẳng còn mường tượng ra

Biết bao thành phố tôi qua

Giống nhau như thể chỉ là một thôi

Sáng choang rực rỡ chói ngời

Mà trong rỗng tuếch vì tôi không cùng

Có khi tự rỗng không chừng

Như là cuộc sống trong vùng văn minh

Rằng tình thì cũng là tình

Hiện sinh thì cũng hiện sinh như ruồi

Biết bao quán rượu tôi ngồi

Rượu thì ngon thật, không người cùng vui

Tôi say chỉ một mình tôi

Thiếu vài người bạn đứng ngồi ngửa nghiêng

Tôi qua suốt xứ suốt miền

Lỡ chân tôi đến cõi riêng không đường

Cõi riêng chỉ mở một chương

Chép xong trang cuối hết phương để về

Đã đành tôi sống như mê

Bên bờ thực tại không hề bước sang

Hơn ba mươi năm lang thang

Tôi mang cảm giác dở dang hết đời

Đầu tôi nặng nhọc những lời

Hồn tôi mệt nhọc những đời của ai

Chuyện là chuyện của trần ai

Tôi bê tôi vác từng hoài ấy năm

Bây giờ đời đã xa xăm

Râu tôi đã điểm hoa râm một vài

Thơ thì viết được dăm bài

Có bài thì có có bài thì không

Có điều hình dáng hình dung

Trụ ngoài mà tưởng như trong lòng này

Hình xa vắng bóng còn dài

Bao năm ngây ngất lạc loài tìm nhau

Tảo thanh còn lại vài câu

Đổi vui đã chuốc được sầu bao nhiêu

Rằng là cựa quậy đã nhiều

Ở trong chữ nghĩa những điều nói ra ?

Dù gì đi nữa cũng là

Cơn mê tận, hơi đâu mà mất công ?

Thiết tha tha thiết lạ lùng

Rồi ra tất cả trùng phùng bụi hơi

Viết là tìm kiếm khắp nơi

Những gì sót lại trong lời phù du

Hay là giam hãm mùa thu

Vào linh hồn nặng sa mù điêu linh?

07. – 21.06.1998

(trích Tạp Thi - 1998)

***

chi trung HOANG CAM 3
HINH 3: Mùa đông cuối cùng của anh Cầm.



Nguyễn Chí Trung

HOÀNG CẦM

06.05.2010

 

Tháng năm cách nay hai năm

Người tình bỏ đi xa xăm cõi ngoài

Nỗi buồn từ xưa đến nay

Đã dài, giờ lại còn dài thêm hơn

Đầu xuân cây lá mởn mơn

Hoa rực nở, tôi chập chờn cơn mê

Hình như bao nhiêu não nề

Của cuộc sống tôi đều vê vào người

Thật ra tôi mệt lắm rồi

Tuy có người nói yêu tôi vô cùng

Rủ tôi vào cuộc chơi chung

Cửa tôi đã đóng, lại lần mở ra

Để xem những cuộc người ta

Hai chữ “tình yêu” bày ra thêm gì?

(Tôi vẫn muốn sống, một khi

Tôi chưa thành bụi bay đi về trời)

*

Đêm sáu tây trời tối thui

Tôi đang tưởng tượng cuộc đời vẽ thêm

Vì hình như vẫn còn thèm

Cuộc, muốn là hết, mà vẫn đem thêm điều

Càng khao khát sống bao nhiêu

Thì tôi càng chán bấy nhiêu con người

Đầu tôi “quyết định” rút lui

Lòng tôi nhậy cảm lời người “yêu thương”

Tình yêu, một bãi chiến trường

Người nào đẫm máu đầy thương tích là

Người đã có thể thăng hoa

Đưa hồn đến cõi sâu xa vô cùng

Chỉ nới đó hồn trùng phùng

Lời Thơ chỉ nở trong vùng khổ đau

Nghệ thuật chỉ là tiếng gào

Không thanh âm của đêm sâu kéo dài

*

Trong đêm sắp vào cơn say

Rượu đang kết thúc một ngày sắp xong

Tôi nằm hút thuốc trong phòng

Một cú điện thoại, tôi không hề chờ

“Ông Hoàng Cầm đã hết giờ!”

Từ xa tiếng vọng, tôi ngờ là không

Tuy vẫn vốn biết trong lòng

Giờ anh sẽ điểm, sẽ không còn dài

*

Khoảng hơn ba năm trước đây

Tôi về Hà Nội một ngày mùa đông

Ở trên tầng thượng lầu năm

Chiếc giường là chốn nhiều năm không rời

Phong phanh phòng trống tôi ngồi

Gió mùa đông bắc qua đời thê lương

Mền, khăn, áo, bề bộn giường

Đỡ anh qua cõi bình thường tôi nâng

Chén súp âm ấm đến gần

Từng muỗng tôi đút dần dần anh ăn

Tôi buồn, không thiết nói năng

Đầu tôi nhắc nhở tôi rằng chia tay

Lần cuối, có lẽ lần này

Giọng anh yếu ớt, nhưng đầy tâm can

*

Trong không khí lạnh mênh mang

Phòng không lò sưởi hở hang bốn bề

Hở hang không gây đam mê

Trụi trần cuộc sống, ê chề càng hơn

Làm sao sống mà không hờn?

Bao nhiêu giấc mộng đã trôi tuột rồi

Cuối cùng thêm cuộc đơn côi

Bảo sao không nỗi ngậm ngùi lúc đi?

Chúng ta Sự Thật cũng vì

Ấy là trả giá: cuộc đi đọa đày

*

Chúng ta cũng có những ngày

Hơn mười năm trước, vui vầy cùng nhau

Khi tôi đặt bước lần đầu

Về Hà Nội để tìm đâu bóng hình

Tháng năm thành phố trời hanh

Ở Thanh Xuân Bắc nhà Vân chật đầy

Có anh, Lê Đạt và Mây

Bài Thơ anh tặng, chép tay, tôi còn

Ngày ấy cuộc vui chưa mòn

Bạn bè còn đấy trong cơn say mèm

Gió tuy cũng lạnh qua phên

Nhưng tình bạn ấm, ta quên được đời

Ở trong thân phận làm người

Chúng ta giữ được nụ cười cho nhau

Cùng chung một nỗi đớn đau

Hũ rượu an ủi đáy sâu tháng ngày

Ẩnh hình tôi chụp còn đây

Mong sao giữ lại sau này. (Cho ai?)

*

Lúc Vân dẫn đến nhà anh

Bốn ba Lý Quốc Sư, thành nơi thân

Khi xưa lụp sụp tối tăm

Từ gác lửng, chốn anh nằm, xuống thang

Ngồi trên manh chiếu võ vàng

Uống trà đen đậm, tôi mang trong lòng

Những gì thâm cảm, mà không

Chữ lời nào nói … tận cùng đến nay

*

Những năm tháng tiếp sau này

Thăm anh, tôi đến, nhà xây cao tầng

Anh nằm hút thuốc khói dâng

Mùi thơm ngào ngạt, tình thân ngập phòng

Anh hỏi tôi muốn thử không?

Những gì tôi muốn, tôi không thể nào!

Tôi còn muốn – biết là bao

Tôi yêu cuộc sống, khát khao hàng ngày

Đời người ngắn, chuyện thì dài

Cuối cùng, ta sống một ngày một đêm

Ánh trăng giờ đã đến thềm

Giờ thì sắp điểm, thịt mềm xương tan

*

Những trưa Hà Nội nắng chang

Đường Trần Hưng Đạo ngồi ngang vỉa hè

Những chiếc ghế đẩu lè tè

Mặt đất lồi lõm đá đè lên chân

Từ xa tôi trở về gần

Từ chân trời khách đến chân trời nhà

Có khi tôi đi quá xa

Các anh ở lại, tưởng là quê hương

*

Những chiều phố lạc trong sương

Lý Quốc Sư, ngồi đầu đường, anh, tôi

Chúng ta uống mãi bia hơi

Và ợ lên những nỗi đời ngổn ngang

Không ăn gì, chỉ uống càn

Dìu anh về, tôi lại càng buồn hơn

Nửa khuya ngất ngưởng chập chờn

Bóng mình như bóng ma vờn bóng cây

Bờ Hồ sương tản mạn vây

Đèn vàng ám khói, ôi ngày vui qua

Đốt điếu thuốc khói la đà

Quẩn quanh tìm mãi, không ra đường về

*

Hà Nội ngày ấy lê thê

Bờ tường rêu mốc vỗ về sáu canh

Bao nhiêu thế kỷ chiến tranh

Bây giờ đất nước khúc quanh điêu tàn

Tinh thần dân tộc rã tan

Văn minh vật chất rần rần đuổi theo

Đấy là tình cảnh đói nghèo

Ngửi mùi tiền bạc đem treo linh hồn

Anh là người bạn cuối cùng

Bây giờ, tất cả thành vùng chiêm bao

Tôi về thành phố lao đao

Tìm nơi tạm trú, chốn nào nơi đây?

Mộ các anh, bụi chắc dầy?

Đời tôi còn chỉ những ngày buồn tênh

Có khi vốn đã rỗng tuênh

Vì đâu ý nghĩa ? Mà tìm cho ra !

Tôi như là một người già

Làm Thơ khóc bạn “kêu la” đời mình

Chúng ta một cuộc tiến trình

Của linh hồn đọa trong tình người thôi

“Xong việc” là lúc qua đời

Còn chưa xong thì lại dời đến mai

*

Bao nhiêu những câu Thơ « hay »

Tôi đã viết hết cái ngày Vân đi

(Tôi đang nghe nhạc Satie)

Và Giáng, Nguyên, Sơn lúc về âm gian

Thơ tôi lệ chảy từng hàng

Tiếp, thay các anh thở than cuộc đời

Giờ đây không có một người

Để tôi gửi đọc những lời viết ra

Thơ tôi mất cả quê nhà

Mà xưa nay vốn không là Quê Hương

*

Tôi đi khắp những nẽo đường

Đọc Thơ cho thế giới đương mất dần

Cũng có vài người ân cần

Cám ơn tôi đã hiến dâng đời mình

Tiếp tục cái việc thiêng linh

Để cho Cái Đẹp hiện hình trần gian

Khi trên mặt đất điêu tàn

Con người biến mất. Vài hàng còn đây?

15. - 16.08.2010

(trích Tạp Thi - 2010)

© Nguyen Chi Trung 2025
**

(Vì sách chưa in nên tác giả không cho phép chụp hay sao lại để phổ biến khi chưa có phép của tác giả - all Rights reserved –

© Nguyen Chi Trung 2025)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2901)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2692)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 2341)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 2164)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 3170)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 3296)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 2346)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2890)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 2603)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
19 Tháng Tư 20269:59 CH(Xem: 4015)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9832)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16681)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15670)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16109)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1187)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2901)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1043)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5144)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7102)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6414)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 487)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 375)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1158)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2499)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2341)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2164)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2346)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2361)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 923)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13421)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29509)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35652)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10616)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12592)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2011)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3170)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3296)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4015)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7692)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7033)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9699)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.