- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Thời Đại Của Xin Lỗi

23 Tháng Sáu 201012:00 SA(Xem: 127835)

I'm sorry, so sorry / That I was such a fool / I didn't know / Love could be so cruel […]
You tell me mistakes / Are part of being young / But that don't right / The wrong that's been done […]
 I'm sorry / So sorry / Please accept my apology / But love is blind / And I was too blind to see …

-- “I’m sorry,” Branda Lee

Ta đang sống trong thời đại của xin lỗi. Dù xin lỗi do động lực nào thì cũng phải nhìn nhận là người được xin lỗi cũng phần nào nguôi ngoai, và người xin lỗi cũng thấy nhẹ nhõm phần nào. Và đấy là bước đầu đưa tới hòa giải.

Mới hôm 15 tháng 6 vừa qua Thủ tướng Anh David Cameron, chỉ mới năm tuổi khi biến cố Ngày Chủ Nhật Đẫm Máu xẩy ra, đã chính thức lên tiếng xin lỗi về vụ thảm sát năm 1972 này tại Northern Ireland do quân đội Anh gây ra khiến 19 thường dân bị thiệt mạng. Để dẫn tới lời xin lỗi lịch sử này, chính phủ Anh đã phải tốn 12 năm và 200 triệu Anh kim (290 triệu Mỹ kim) tiền điều tra. Tuy nhiên, mọi người, từ gia đình nạn nhân tới các chính phủ Anh, Irish và cả Mỹ, đều vui lòng đón nhận kết quả của cuộc điều tra, hy vọng từ đó hàn gắn được các vết thương của cuộc xung đột dài bốn thập niên giữa Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan, với tổng số thiệt mạng là 3,700 người. Thực ra thì năm 1998 nguyên thủ tướng Tony Blair đã ngỏ lời xin lỗi tuy không chính thức, và đã cho mở cuộc điều tra này.

Ngay ngày hôm sau sau khi ông Cameron xin lỗi, chủ tịch hãng dầu hỏa BP của Anh và là người gốc Thụy Điển, ông Carl-Henric Svanberg, sau khi họp với Tổng thống Hoa Kỳ Obama hứa hẹn bồi thường vụ tràn dầu ở Vịnh Mexico, đã nhân dịp lên tiếng chính thức xin lỗi dân Mỹ -- trễ, song vẫn còn hơn không, cho BP, đã hẳn -- về vụ tràn dầu đã bước sang tháng thứ ba, gây thiệt hại lớn chưa giấy mực, hình ảnh nào tả siết được, không những về kinh tế mà cả môi sinh, mà việc dọn dẹp, phục hồi chắc chắn sẽ còn kéo dài nhiều thập niên. Tiện dịp, ông Svanberg cũng nói thêm là ông quan tâm tới “the small people” sống trong vùng. Rồi trước phản ứng dữ dội của nhiều người dân ở vùng Vịnh Mexico, ngay buổi chiều cùng ngày, ông Svanberg lại phải lên tiếng xin lỗi về lời xin lỗi của mình. “Tôi đã ăn nói vụng về, và vì (sự vụng về) đó, tôi vô cùng xin lỗi,” ông nói. Truyền thông Mỹ sau đó đồng ý không nói chuyện ông Svanberg ăn nói vụng về nữa.

Ai xin lỗi ai?

Buổi tối sau khi đọc tin xin lỗi của ông Svanberg, tôi mở xem cuốn tạp chí của American Association of Retired People số tháng 6 mới nhận được, tình cờ thấy bài, “Who’s Sorry Now? Everyone! These Days The Mea Culpa Is Mega-Cool – And Websites Are Specializing in Apologies” (Ai xin lỗi? Tất cả mọi người! Ngày nay xin lỗi là cái mốt vô cùng tiến bộ -- Với những Websites chuyên đăng lời xin lỗi). Tôi tẩn mẩn đọc bài đi kèm, lược dịch lại đây để bạn đọc đọc cho vui:

“Tiger Woods [tội ngoại tình] đã làm điều đó với những người ái mộ ông. Thống đốc Bob McDonnell [tội ngoại tình] của Virginia đã làm điều đó với cử tri của mình. Và các người thuộc lứa tuổi 50 trở lên đang làm điều đó đối với người quen. ‘Điều đó’ là việc xin lỗi -- hiện đang trở thành cái mốt do khả năng của Internet giúp người ta tìm ra được người mình đã gây tổn thương.

“Bây giờ thiên hạ đăng lời xin lỗi trên những Websites như imsorry.comperfectapology.com. Số người viếng những sites thú tội này đã tăng lên 66 phần trăm từ tháng 2, 2007, với số người từ 55 trở lên thì tỉ lệ tăng tới 172 phần trăm. Ben Gubar, chuyên gia sửa xương (chiropractor) 55 tuổi của Little Egg Harbor, New Jersey, đã dùng Web để nói: ‘I'm sorry’ với một người đàn bà mà ông ta đã làm thương tổn 22 năm về trước khi cùng học cao học với nhau. ‘Đó chỉ là một xung đột nhỏ, về việc ai ngồi chỗ nào trong xe tôi, thế nhưng nhiều năm qua rồi mà tôi vẫn cảm thấy hối hận vì đã la lối cô ta, đến độ tôi phải tìm cho ra cô ta.’ Sau khi tìm tòi trên MySpaceFacebook, ông ta tìm thấy cô ta ở 43things.com. Một điều ngạc nhiên: ‘Khi tôi xin lỗi, cô ta viết trả lời, ‘Tôi không còn nhớ cả chuyện đó nữa!’

“Thế nhưng Gubar vẫn cảm thấy nhẹ nhõm – và ông ta không đơn độc. Diễn đàn mở tại thepublicapology.com cho thấy vài lời hối lỗi đã thành cổ điển. ‘Con xin lỗi đã gọi mẹ là độc đoán từ bao năm nay,’ một cô sử dụng diễn đàn viết cho mẹ. ‘Con đã không hiểu độc đoán thực sự có nghĩa chi cho tới khi con gặp bà mẹ chồng của con!’”

Thường dân xin lỗi công khai cho những việc nhỏ. Các nhà lãnh đạo từ vài chục năm trở lại đây cũng chịu khó xin lỗi cho những lỗi lầm lớn của lịch sử, có lỗi lầm xa xưa từ thời… Trung cổ lận.

Ai là người tiên phong trong việc xin lỗi?

Đức Giáo Hoàng John Paul II chính là người đã đưa ra mốt xin lỗi công khai này, và Ngài đã khiến cho việc xin lỗi công khai cũng trở nên dễ dàng hơn. Suốt trong các thập niên 1980 và 1990, và cũng để chuẩn bị cho thiên niên kỷ mới, thế kỷ thứ 21, Ngài đã xin lỗi tới 94 lần cả thẩy về những lỗi lầm hay cả thái độ thụ động trong quá khứ của Giáo hội Vatican.

Trong đó có việc Ngài xin lỗi về các cuộc Viễn Chinh Thập Tự Giá (Crusades) ở Âu Châu, kéo dài từ năm 1095 đến 1291, giết chết khoảng 2 triệu người thời bấy giờ; về chính sách thanh trừng dị giáo (Inquisition) của Vatican đã bắt bớ, xử tội và trói cột thiêu sống những kẻ không cùng niềm tin trong thời Trung Cổ; về việc Giáo hội đã, vào giữa thế kỷ thứ 17, thanh trừng và quản thúc tại gia cho đến chết nhà khoa học Galileo về tội đã đưa ra đề án là mặt trời, thay vì là trái đất (do Thượng Đế sáng lập nên như ghi trong Thánh Kinh), mới là trung tâm của vũ trụ; về việc Giáo hội đã áp chế giới phụ nữ; và về thảm kịch Holocaust giết hàng nhiều triệu người, đa số là dân Do Thái, mà Giáo hội đã không hề lên tiếng can thiệp, ngay cả phản ứng.

Từ đó, các lãnh tụ quốc gia cũng đua nhau sám hối về những hành vi quá khứ của cha ông mình. Ngày 29 tháng 8, 1993, tổng thống Frederik Willem de Klerk của Nam Phi xin lỗi trước Ủy ban Sự thực và Hòa giải về chính sách kỳ thị chủng tộc (aparheid) và “những điều không thể chấp nhận được của chính phủ của Đảng Quốc Gia (của người da trắng)”. Để đáp lại, hai ngày hôm sau, ông Nelson Mandela cũng xin lỗi về những hành vi bạo động chết người do đảng African National Congress của ông gây ra đối với những kẻ tình nghi là kẻ thù.

Tổng thống Pháp Jacques Chirac vào tháng 7, 1997 chính thức xin lỗi về việc chính quyền Vichy đã tiếp tay với Đức Quốc Xã tống dân Do Thái tại Pháp vào các trại tập trung tử hình. Năm 1993, thủ tướng Nhật Bản Morihiro Hosokawa, nhân buổi khai mạc Quốc hội lần đầu của ông đã bầy tỏ “một sự ăn năn sâu xa và lời xin lỗi về hành động gây hấn và chế độ thực dân của [Nhật Bản] đã gây ra thống khổ và phiền muộn cho rất nhiều dân tộc.” Thực ra các nhà lãnh đạo Nhật đã thay phiên nhau xin lỗi nhiều lần và với nhiều nước, nhiều thành phần, kể cả những phụ nữ bị họ bắt làm nô lệ tình dục, và cả bồi thường tổn thất chiến tranh nữa.

Vào năm 1992 thủ tướng Úc Paul Keating nhìn nhận những sai lầm đối với dân bản xứ Aborigines khi, vào đầu thề kỷ 20, buộc các con em của họ vào sống các trường do người da trắng trông coi để đồng hoá các em nhanh hơn, một cách để hủy diệt văn hoá bản xứ. Mới đây, vào năm 2008, thủ tướng Úc Kevin Rudd đã chính thức xin lỗi dân bản xứ và đề ra chương trình giúp dân bản xứ cải thiện đời sống.

Và nhân kỷ niệm 80 năm cách mạng Bolshevik vào năm 1997, Boris Yeltsin lên tiếng xin lỗi về những sai lầm do cuộc cách mạng này đã gây ra.

Tại Hoa Kỳ, vào năm 1998, tổng thống Ronald Reagan cũng đã công nhận sự lỗi lầm của Hoa Kỳ khi lùa trên 100,000 người Mỹ gốc Nhật vô các trại tập trung trong thời kỳ Đệ nhị Thế chiến, khiến nhiều người không kịp bán tài sản và bị tán gia bại sản; và hai năm sau tổng thống George Bush (cha) ký sắc luật bồi thường $20,000 cho mỗi nạn nhân còn sống sót. Mới gần đây, vào tháng 6, 2008, Quốc Hội Mỹ đã chính thức xin lỗi về chế độ nô lệ và những luật lệ kỳ thị chủng tộc bấy lâu đối với người Da đen. Nhưng phải chờ tới mãi tháng 5, 2010, Quốc Hội Mỹ mới chính thức xin lỗi các bộ lạc Da đỏ về những “chính sách thiếu suy xét” (ill-conceived policies) và những hành vi đàn áp bạo lực đối với các sắc dân bản xứ này.

Cũng vào tháng 6, 2010, sau nhiều tháng tòa thánh Vatican trì hoãn và tìm cách giảm thiểu ảnh hưởng của những vụ nhũng lạm tình dục của một số tu sĩ trong hàng ngũ giáo phẩm, Đức Giáo Hoàng Benedict đã cuối cùng lên tiếng chính thức xin lỗi và gặp gỡ với các nạn nhân vào ngày 11 tháng 6 vừa qua.

Chuyện Việt Nam

Chuyện các xứ văn minh thì vậy, còn chuyện của xứ ta thì sao? Cho tới nay chưa vị lãnh đạo Việt nào đã đủ can đảm và độ lượng lên tiếng xin lỗi các dân tộc thiểu số, đặc biệt dân tộc Chàm, về việc đã tiêu diệt cả một vương quốc một thời hùng cứ ở phương Nam. Hình như ở Việt Nam người ta không, hay chưa biết xin lỗi?

Hôm rồi một chị bạn gửi cho bài “ ‘Giải phóng’ -- Nỗi Kinh Hoàng của Người Dân Nam Việt” của tác giả ký tên là Tiến Sỹ Lê Hiển Dương, hiệu trường Đại học Đồng Tháp, thoạt đăng trên trang nhà của Diễn Đàn Việt Thức, tại http://www.vietthuc.org/?p=6338. Ông tiến sỹ bàn về hai chữ “giảỉ phóng”, về thói quen của người Việt hay dùng chữ “hồi trước/sau giải phóng” để phân biệt hoặc định mốc thời gian, như người Tây phương dùng chữ BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa ra đời.

“[T]ất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này,” ông viết. “Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng ‘…after the liberation of the south…’ thì ông ta sửng sốt hỏi ngay rằng ‘… liberation from what?…’ – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt… bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì ‘giải phóng’ là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…”

Sau đó ông tiến sỹ kể lại kỷ niệm “hồ hởi, phấn khởi” khi nghe tin Miền Nam “được hoàn toàn giải phóng” vào ngày 30 tháng 4, 1975 khi ông còn đang học tại trường sư phạm Vinh. Khi các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà bị đầy ra Bắc, các sinh viên như ông được lệnh gom đá để khi xe chở tù đi ngang thi trút lên đầu họ những trận mưa đá. Sau vô số trận tập kích ném đá tù nhân đó, ông và các bạn tốt nghiệp và được đưa vào Nam “để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị ngụy kềm, Mỹ hãm chứ đâu có được học hành gì…”

Và ông tiến sỹ, như nhiều người Việt cả Bắc lẫn Nam sau 1975, đã tỉnh mộng, “bắt đầu nghi ngờ với cụm từ ‘giải phóng miền nam’. Ông viết tiếp: “Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ ‘GIẢI PHÓNG’ đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà…” Rất can đảm và thành thực, ông tiến sỹ nói về những thảm kịch đằng sau chữ “giảỉ phóng”. Cuối cùng ông đau đớn kết luận là ông “cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ ‘giải phóng’ và ‘giải phóng mặt bằng’ mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.”

Đọc xong tôi cũng thấy cám cảnh cho ông tiến sỹ, song cũng trộm nghĩ giá ông tiến sỹ nói lên được một lời xin lỗi cho chính ông và các bạn, về một việc nhỏ thôi, là đã ngây thơ nghe lời dụ dỗ tuyên truyền thẳng tay ném đá những người tù “cải tạo” năm nào, thì có lẽ ông sẽ cảm thấy vơi đi phần nào, chứ “căm thù nhân loại” thì chỉ thấy lòng mình phẫn uất, nặng nề thêm thôi.

Vào dịp kỷ niệm 35 năm ngày 30 tháng 4, 1975 vừa qua, nhiều người Việt ở hải ngoại hồi tưởng lại biến cố kinh hoàng nhất trong đời đã khiến họ bị bật rễ ra khỏi quê hương, về những quân dân cán chính VNCH bị đầy đọa trong lao tù khổ sai và nhiều người đã bỏ mình nơi rừng thiêng nước độc, về trên 500 ngàn người không may đã chết trên đường đi tìm tự do, và chiêm nghiệm những thành quả chính họ và con em họ thu đạt được nhờ sống tại các nước tự do. Trong khi đó, Giáo hội Phật Giáo trụ sở đặt tại Paris đã đưa ra lời kêu gọi người Cộng sản hãy sám hối của Thượng toạ Thích Viên Định, với tựa đề “Sám hối như phương cách duy nhất xóa ngày tang thương 30.4”, (http://www.scribd.com/mobile/documents/30543915). Đọc lời kêu gọi rất thống thiết này, dù không tin tưởng mấy nơi người Cộng sản đủ tinh tế để cảm và hiểu, chưa nói tới hành, nhưng tôi không thể không đồng ý với nhà tu hành.

Trước khi nói tới hoà hợp, hòa giải, tới việc với tay tới những “khúc ruột ngàn dặm”, việc đầu tiên người Cộng sản Việt Nam cần làm là nói lên lời xin lỗi về những thảm họa, chết chóc, oan khiên, dối trá, nhũng lạm mà sự du nhập một chủ nghĩa ngoại lai đã đem lại ra cho dân Việt từ Bắc chí Nam trong suốt 70 năm qua. Trước khi quá muộn, cho vận mạng đất nước và đặc biệt những thế hệ tương lai. (TD, 06/2010)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 138474)
LTS: L ần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Song Ninh là bút hiệu của người thơ đang sống và làm việc tại Sài gòn. Chúng tôi hân hạnh gởi những dòng thơ lạ và lấp lánh như nắng mùa hè của Song Ninh đến với quí độc giả và văn hữu. TCHL
01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 116542)
... T ừ phòng tắm bước ra, nàng ngây người nhìn tôi phì phèo điếu thuốc lá, buồn cười thật anh nhỉ, lúc trên ôtô em cứ buồn ngủ rũ ra, chỉ muốn nhanh chóng đến nơi thuê nhà, đến đây lại tỉnh như sáo? Tôi lặng lẽ đốt thuốc. Mỉm cười nhưng không bắt chuyện.
01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 116173)
M áy bay hạ cánh ở phi trường Liên Khương, trời Đà Lạt mát lạnh với buổi sáng sớm còn mờ hơi sương. Người đàn ông ngồi bên cạnh trên máy bay hẹn tôi sẽ lấy vé. Rồi anh biến mất trong dòng người. Tôi điện thoại cho Hà đến đón, xe honda 100 phân khối Hà phóng như bay trên con đường lộng gió, hai bên đồi thông bạt ngàn, hoa dã quỳ vàng rực rỡ.
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 140491)
L ẩn quẩn từ một buổi chiều nơi ranh giới của giọt nước nào rất mỏng cơn mưa hối hả sau ngày oi nồng đầu hạ cố làm dịu những cồn cào nơi ngực về một hoang tưởng không tên phập phồng thở
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 99773)
H ải quân Hoàng gia Nhật dạy cho tôi một nghề nghiệp duy nhất: Phi công khu trục. Hủy diệt những kẻ thù của tổ quốc, bay và bắn. Tôi đã sống như vậy suốt 5 năm, trên những vùng trời Trung Hoa và Thái Bình dương. Tôi không biết đến đời sống nào khác ngoài đời sống của người lính.
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 85991)
N hư mọi người đều biết, Victor Hugo (1802-1885) vừa là nhà thơ trữ tình và châm biếm vừa là kịch tác gia cách tân vừa là nhà văn xã hội Pháp thế kỉ XIX rất ư năng động và sung sức, có nhiều tác phẩm đủ ba thể loại đó để đời. Chẳng hạn, chỉ cần nhắc tới cuốn truyện đầm đià nước mắt Les Misérables (Những kẻ khốn nạn – 1862) (1) là ít ai quên, đặc biệt ở Việt nam...
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 117430)
Đ êm úp mặt vào vách, tôi nhớ đến người con gái trên chiếc thuyền nan. Dưới ánh trăng thân thể nàng trắng ngần như tượng sứ. Trong giấc ngủ chập chờn, đôi tay nàng vẫn đều đều khỏa nước, khỏa lấp cả sự day dứt trong tôi. Tôi thấy cả nàng và tôi đều đứng ngoài trò chơi ấy, nàng ngồi bên tôi ngắm những cụm cỏ xanh um buồn bã...
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 142277)
C ần gì phải viện dẫn đến những lời chứng dối Khi đám đông nghe bài giảng trên núi chẳng chút động tâm Khi quân gian đem gươm giáo bắt thầy mình như bắt kẻ cướp Thì những lời chứng dối cũng chẳng ăn thua gì
25 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 124582)
Lời giới thiệu: Bài “Giã Từ Trung Quốc” được dịch từ bản Anh ngữ tựa là “Walking Out on China”(do Wen Huang dịch từ tiếng Trung Hoa) của nhà văn đối kháng Trung Hoa, Liao Yiwu, xuất bản trên The New York Times số ra ngày 15 tháng 9, 2011. Ông Liao, tên Hán Việt là Liêu Diệc Vũ, cũng còn được biết tới dưới tên Lao Wei, sinh năm 1958 tại tỉnh Sichuan, đúng vào năm Mao trạch Động phát động chiến dịch Một Bước Nhẩy Vọt đã đưa cả nước vào nạn đói trầm trọng...
22 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 114200)
C ơn mưa bất chợt ập xuống phi trường vào chủ nhật của tuần lễ thứ ba trong tháng sáu. Tôi là người hành khách cuối cùng ra khỏi chuyến bay từ Paris trở về trong đêm hôm ấy. Không biết là mình đã ngủ vùi đến mấy ngày. Nhưng khi tỉnh dậy nhìn kim đồng hồ đã ba giờ sáng.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7623)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14736)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13518)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14060)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1717)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1950)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2128)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2104)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1251)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2239)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1567)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2055)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1422)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 2222)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2788)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4381)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1217)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1322)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1810)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2376)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26698)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33301)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33321)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 8014)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10378)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1717)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3339)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3299)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3167)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3512)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4965)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4512)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5855)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.