- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Virginia Woolf: Căn Phòng Của Jacob

29 Tháng Mười Hai 200812:00 SA(Xem: 98648)

image001_0_218x300_2Trần Vũ chuyển ngữ

Vào tuổi 42, Virginia Woolf cho xuất bản tác phẩm Căn phòng của Jacob.Một tiểu thuyết hoàn hảo, đầy bạc mệnh, qua đó Woolf luận giải chứng bệnh thần kinh về cái chết của chính mình.

Căn phòng của Jacob ấn tượng tôi đến nỗi, tôi sợ phải đọc lại. Vì tác phẩm vượt mọi khuôn khổ, như có điện, từ trường, đến mức không còn liên quan đến sáng tạo tiểu thuyết. Trên những trang đầu tiên, bằng tất cả ngây thơ, người đọc bước vào tác phẩm không chút ngờ vực.

Đầu thế kỷ 20 ở miền Cornouailles, trên một bờ biển Đại Tây dương gần ngôi làng Scarborough, Betty Flanders, một góa phụ còn trẻ hối hả trở về nhà giữa chiều hè với hai con trai, Archer và Jacob, khi nền trời bất chợt đe dọa báo hiệu cơn giông sắp ập đến.

« Ja-cob!» Betty kêu cậu bé hãy còn đang la cà phía sau. Cậu bé cúi nhặt trong cát, hộp sọ xương xẩu mê hoặc của một đầu trừu và muốn đem về bất chấp sự phản đối của mẹ. Phần hàm dưới rớt khỏi đầu lâu chính là kho tàng đầy rùng rợn mà cuối cùng Jacob mang được về nhà.

Mạch văn đã hiện lên.

Lướt qua, đầy mềm mại, dấu hiệu thứ nhất của thần chết.

Đêm hôm sau, cơn giông trỗi lên dữ dội. Trong ngôi nhà nhỏ bị mưa gió rung chuyển, Mrs Flanders và Rebecca, người giúp việc nhà, vừa thì thầm trò chuyện vừa chăm sóc John, đứa bé nhất, trong lúc Archer và Jacob say giấc: Jacob thiêm thiếp ôm chặt vào lòng vành xương hàm của hộp sọ.

Ngày hôm sau nữa, gió lặn, biển lấp lánh, khí quyển ngập sắc màu lung linh đưa người đọc nhập vào các bức hoạ của Monet hoặc Seurat. Độc giả tin tưởng sẽ biết thêm về gia đình Flanders, về láng giềng, bạn bè, về cả ngôi làng Scarborough của gia đình này. Sai lầm. Woolf biết phỉnh lừa vô cùng tinh vi.

Ngay khi tấm bình phong chấm phá lộng lẫy đầu tiên vừa treo lên, Woolf lập tức tháo xuống.

Mặc cho những ai đang quan tâm đến sự khôn lớn của những đứa bé hay yếu tố tâm lý rất khả nghi ở người mẹ, Mrs Flanders, khi bà từ chối lời cầu hôn của vị giáo sư La ngữ dạy kèm lũ trẻ, và cả chi tiết không bao lâu sau khi Jacob thêm vào bộ sưu tập của mình một chú bướm Sư-tử-Đầu-lâu: dấu hiệu thứ nhì của thần chết.

Từ đây, bằng một ý chí hớn hở, Woolf chuyển sang phá vỡ thời gian, không gian và cả tương lai mà sự vận hành hợp lý không thỏa mãn bà. Woolf quyết định vượt qua chính mình bằng cách vượt qua người đọc. Woolf hãy còn chưa viết hết những gì bà suy nghĩ, cất giấu thật sâu kín mà chúng ta chưa thể suy đoán. Ngôi nhà ở Scarborough bị bôi xóa. Người đọc hụt hẫng: Archer và John rồi sẽ ra sao? Với Woolf, không còn là câu hỏi. Woolf, nhà văn phiêu bạt, điên dại một cách trầm tĩnh, bắt người đọc lên chuyến tàu mà Woolf đặt tên “thế giới, con tàu của chúng ta”.

Năm 1906, khi Jacob Flanders xuất hiện trở lại trên trang tiểu thuyết, anh được mười chín tuổi, đang là sinh viên của trường đại học Cambridge. Jacob có căn phòng khiêm nhường và êm đềm ở Neuville Court tại Luân Đôn. Căn phòng bao bọc đầy sách: Shakespeare và Virgile là hai thượng đế sinh sống giữa đống sách này. Cũng chính trong căn phòng này, Jacob tiếp hai người bạn: Timmy Durant và Bonamy. Họ vui đùa rất nhiều đồng thời chia xẻ với nhau những hiếu kỳ trí tuệ, cùng các dự tính riêng tư trong mù quáng của tuổi trẻ.

Trong một tối tiếp tân thanh lịch tại nhà mẹ Timmy, người đọc thoáng thấy Jacob vận trang phục dạ hội với ống vố trên tay: “Y phục hoàn toàn vay mượn nhưng dáng dấp khá tao nhã”, đó là lời bình phẩm của khách mời nhận xét về Jacob. Anh được giới thiệu với Clara Durant, em gái của bạn mình: họ sẽ yêu nhau? Gần như hiển nhiên, nếu không nói là chắc chắn. Mọi người hy vọng biết thêm chút nữa về đôi lứa, nhưng không! Woolf thù ghét sự bất động mà bà đánh giá hão huyền, mà không nghi ngờ, Woolf xem là dối trá. Một lần nữa, Woolf lại mang chúng ta đến những nơi khác, xa hơn, để hoàn toàn cắt đứt với thực tế cố định. Chính vì tham vọng của Woolf là nối kết người đọc với hàng ngàn những thực tế khác nhau, diễn ra rồi lại tái diễn vô tận, mong manh, biến ảo mà không chút ích lợi khi tồn tại, mà cũng chính vì thế tạo ra những kích thích phù du để có thể tạm gọi là cuộc đời.

Qua lăng kính vạn hoa, Woolf bao bọc cả vũ trụ, hoặc một cách chính xác hơn: từ vô số những vũ trụ bé nhỏ đang lay động trong thành phố Luân Đôn. Jacob Flanders đi dạo trong công viên Hyde Park, viếng thăm nhà thờ Saint Paul, chợt trông thấy Nữ hoàng thoáng qua trên cỗ xe ngựa sang trọng; đến hí viện Opéra, mất hút, rồi lại tái xuất hiện giữa đám đông; kết bạn với nhiều thiếu nữ ăn sương kiều diễm: Florinda, hay Fanny Elmer làm mẫu khoả thân cho các hoạ sĩ thời danh, hoặc Laurette… Chúng ta khám phá sau đó Jacob đã mời một hai cô gái này đi dùng bữa tối. Anh đã làm tình với họ? Suỵt! Im lặng! Jacob biết khép kín cửa. Duy nhất, một điều chắc chắn: tất cả những thiếu nữ này đều bị cuốn hút bởi chàng trai quả quyết, bí ẩn, có thể là đẹp trai này, người dành rất nhiều thời gian ở thư viện của bảo tàng British Museum, nơi trông đợi những thiên tài văn chương tầm cỡ Homère và Platon của một thời.

Thỉnh thoảng Jacob viết thư thăm mẹ vẫn còn ở tận Cornouailles, nơi mà mùa này sang mùa khác vẫn âm vang cánh chim hải âu vô tận, nơi mà năm này nối năm khác tiếng hải âu đập cánh tiếp tục pha lẫn tiếng rì rầm bền bỉ của đại dương. Việc Jacob viết thư thăm mẹ, cho thấy Mrs. Flanders vẫn còn sống trong ngôi nhà bé nhỏ ở làng Scarborough. Bà góa đã phải già lắm mà không ai hay, từ sau những diễn biến mang tính định mệnh mà không một ai có thể chận lại, chuyển hoán hay thúc giục.

“Hãy nhìn trên mặt bàn của người nhận thư, lá thư của chính mình, chính là cách nhìn thật nhanh những hành động của chúng ta đang tự tách rời với mình, đang trở thành xa lạ.”

Cung cách viết của Woolf cùng lúc xót xa và tinh tế làm thành một mũi nhọn đâm thấu vào tận cùng ý thức người đọc. Woolf cảnh cáo: trong sự bao la của vũ trụ không có chỗ cho những sự tích cá nhân, con người phải biết tự hạn chế để nhìn thấy trong những đợt sóng cá biệt cùng lúc bị hủy bỏ và lại nảy sinh, có nghĩa “những dòng xoáy tối tăm” bị nhận chìm bởi những cơn lốc âm thầm.

Con người luôn tin vào chính mình, ba hoa, hiểu biết hay không, tất cả đều không quan trọng. Có kẻ đang tự chìm đắm trong sự êm đềm nội tại, kẻ khác đang dùng một tách trà bên cạnh chiếc lò sưởi cời lửa reo tí tách, kẻ khác nữa đang chơi những ván cờ. Sẽ không một ai cảm giác mình có thể bị hủy diệt bởi một tia chớp của dục vọng, và suy nghĩ như thế là điều may mắn vì nói cách khác, dục vọng sẽ tự tiêu hủy.

Virginia Woolf sử dụng một chiếc máy ảnh tàn bạo và cho phép mình không chút đắn đo dùng hình tượng thật tự do trong một cánh đồng bát ngát của những tìm tòi mang tính con người nhằm phục vụ chất men sáng tạo. Woolf không thích thú với “phần hồn”. Bà càng không quan tâm đến bất kỳ tính đạo đức nào: níu kéo vô ích sự chú ý của Woolf về những hạnh phúc hay bất hạnh có thể xảy ra, những nghi ngờ cùng tính toán, bí ẩn hay thú nhận.

Kỹ thuật quan sát của Woolf, lược bỏ đến tận cùng các chi tiết, chuyển động và xa cách, phủ trùm một tấm màn thanh giáo: Woolf lẩn tránh tình dục. Dễ hiểu. Thế kỷ mà bà khảo sát hãy còn rất trẻ, ngay cả còn mang chút nặng nề của thời đại trước, sẽ còn thay đổi, ở từng mũi kim khâu, như một món hàng thêu Anh quốc, có nghĩa chuyển dịch với từng mũi nhỏ rực rỡ, khít khao, bao bọc bởi những đường viền duyên dáng.

Giữa đông đảo những gương mặt phụ đặt để một cách lướt qua trên nền tác phẩm, Jacob Flanders tự mình tồn tại như một kẻ xa lạ mà chúng ta được biết đến rất ít. Anh nổi lên ở đây như một tia sáng. Rồi cũng biến mất trên trang tiểu thuyết. Duy nhất một điều chắc chắn: Jacob sống gần như tự giam hãm trong rất nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Người ta bắt đầu yêu thích anh đồng thời thắc mắc về vai trò mà Woolf dành cho anh. Woolf, nhà văn ─ thợ săn sự vĩnh cửu ─ chỉ chấp thuận trả lời chúng ta bằng một ngòi bút dường như lơ đễnh: “Jacob tiến về cửa sổ phòng rồi dừng lại, hai tay đút túi. Mr Springett bước ra từ căn nhà đối diện, quay nhìn mặt tiền nhà rồi trở vào. Những đứa trẻ đi ngang qua trước cửa tiệm, liếc trộm những mẩu đường đại mạch hồng. Chiếc xe giao hàng của hiệu Pickfort chạy về phía cuối đường. Một đứa trẻ vùng vằng tháo sợi dây đang cuốn quanh người. Jacob rời khỏi cửa sổ.” Bức tranh ngắn ngủi, nhạy cảm và mờ ảo này đủ để tiết lộ với chúng ta là người thanh niên trẻ đã thật sự chín muồi, đang suy nghĩ và có thể đang khổ sở.

Jacob được hai mươi sáu tuổi khi hưởng khoản thừa kế nhỏ bé từ một bà cô mà chắc chắn anh không còn lưu giữ chút kỷ niệm nào. Số tiền này cho phép anh thực hiện giấc mơ: Một chuyến du lịch đại lục. Bắt đầu bằng Paris là nơi người đọc thoáng gặp Jacob đang ngược đại lộ Raspail, đồng hành với vài thanh niên Anh; tiếp theo là cảnh lấy xe lửa đi Versailles từ ga Invalides trước khi sang Ý; “nơi các tàng cây còn kết nối với nhau bằng những giàn nho ─ như ở vào thời kỳ của Virgile”. Những con quỷ hiếu kỳ trí tuệ trong mình Jacob chậm rãi hồi sinh, điều khiển từ xa bởi Woolf, tiếp tục đẩy anh sang Hy Lạp. “Không khí ban đêm lay động nhẹ nhàng tấm màn hoen ố ở khung cửa sổ của khách sạn Olympie.” Chính tại đây Jacob gặp gỡ một cặp đồng hương cũng đang du lịch như anh, Mr & Mrs Wentworth Williams. Sandra Williams tươi tắn, xinh đẹp, say mê Tchekhov, cảm nhận tức khắc cô và Jacob cùng xao xuyến tận đáy lòng. Cả hai mơ ước được cùng nhau lên đỉnh đền Acropole, cùng khám phá niềm vui thăng hoa cũng như nỗi buồn từ sự cô đơn mà cả hai đã luôn ấp ủ không chút hoài nghi trong suốt tuổi thơ. Nhưng để làm gì? Cả hai cùng chờ đợi trong im lặng, dù ước muốn lẫn nhau, đều sợ hãi điều có thể xảy ra, nghi ngờ chính là tình yêu. Mr Wentworth Williams cùng vợ đi Constantinople, Thổ Nhĩ Kỳ. Jacob đi theo vì Sandra, gợi ý một cách kín đáo. Chấm. Chỉ từng ấy. Sẽ không có chuyện gì xảy ra.

Cuộc đời là căn nguyên của sự cam chịu, của thất vọng, của sự chia ly, mà Woolf không khoan nhượng. Bà tự bằng lòng với hình ảnh Sandra Williams sau nhiều năm sống trong ngôi nhà ở miền quê Anh, lật mở một quyển sách mà ngày xưa Jacob Flanders đề tặng mình. Và Woolf lập một giả thuyết: “Sandra nghe thấy thời gian tích tụ lại. Cô tự hỏi: “Để làm gì? Làm chi vậy?” đặt quyển sách sang bên cạnh, cô tiến về phía tấm gương, nhìn ngắm rồi vuốt lại mái tóc.”

Kể từ đây, không còn một tia hy vọng nào dành cho chúng ta. Trò chơi đã an bài.

Ngay khi trở về Luân Đôn, Jacob lúc này không còn quá trẻ gặp lại những người bạn thời niên thiếu Timmy Durant và Bonamy. Không kể Clara chưa bao giờ quên anh. Không kể cô gái điếm Fanny Elmer, đã tự nhủ: “Chính là cuộc đời, chính là cuộc đời!”. Không kể một Julia Eliot nào đó, người cũng đã từng âm thầm yêu Flanders, chàng trai trầm mặc, làm cô hồi tưởng khi dạo bước bên cạnh Marble Arch: “Thiếu nữ mang ánh mắt mơ mộng của một người hòa vào đám đông giữa buổi chiều hè, khi cây lá xào xạc, khi các vòng bánh xe chiếu vàng ngời, khi sự huyên náo của thực tại làm thành lời than vãn của một tuổi trẻ đánh mất; bi ai đến cùng cực làm phát sinh nỗi buồn bã lạ lùng trong linh hồn nàng; giống như xuyên qua những chiếc áo ngắn và váy đầm, thời gian cùng sự vĩnh cửu đã trở nên hữu hình; giống như Julia đang nhìn thấy mọi người tiến dần đến sự hủy diệt của chính mình một cách bi thảm.”

Thời gian, sự huyên náo, sự vĩnh cửu, sự hủy diệt làm đau đớn. Woolf ý thức rất rõ. Bà đang xô đẩy người đọc trở lại thực tế phũ phàng, tuy được viết với một cao nhã tế nhị đầy dịu dàng, vẫn xô đẩy người đọc về thực trạng hiển nhiên mà cho đến khi ấy hãy còn mập mờ: Mối đe dọa của một thế chiến sắp tàn phá địa cầu.

Hiểm nguy chỉ được báo hiệu một cách ngẫu nhiên sau những khúc quành thận trọng nhằm đánh lạc mục tiêu: các cuộc tuần hành diễn ra trong thành phố, các chính phủ họp khẩn ở Lahore, dân biểu bàn thảo ở quốc hội Reichstag, các tin đồn làm dấy động thành Vienne, hạm đội hải quân tập trung tại Gibraltar và các cuộc bạo loạn ở Albanie rồi Calcutta, Ấn Độ.

Trừ chiến tranh không một lần được Woolf nhắc đến. Chính sự khước từ độc đoán đầy tinh tế của khóa-ngữ này càng bôi đen thêm sự bùng nổ của thảm họa, một bùng nổ làm đui mù và câm điếc, rung chuyển toàn thế giới ở biên độ con người.

Và rồi, sau hải trình trầm trọng một cách rực rỡ, đầy vuốt ve, nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của người đọc, và cũng để nuôi dưỡng sự căng thẳng, Woolf ước tính khoảnh khắc đã đến để ngừng hẳn lại. Bà buông neo con tàu trả hành khách trở về. Chúng ta bất thình lình được đưa trở lại ngôi nhà ở làng Scarborough, miền Cornouailles, nơi cậu bé Jacob đã thiêm thiếp say giấc trong một đêm bão bùng ôm chặt lấy vào lòng khớp xương hàm của một đầu trừu với đầy say mê.

“Tiếng đại bác? Betty Flanders tự hỏi, vừa nửa tỉnh nửa ngủ bước ra khỏi giường đi về phía cửa sổ kết những vừng lá tối mờ. Không thể nào ở một khoảng cách xa như vậy, bà nghĩ thầm. Trước mặt là đại dương. Bà nghe lập lại lần nữa, từ xa, những tiếng động nặng tựa tiếng động các cô gái đang đập những tấm thảm mênh mông trong đêm. Anh bà, Morty, mới mất tích. Chồng bà, Seabrook, đã chết; còn các con trai đang phục vụ tổ quốc.”

Không bắt người đọc trầm mình trong nỗi sợ hãi, sự tuyệt vọng, nỗi cam chịu không tránh được. Duy nhất một tổng hợp sự tuyệt đối, lạnh băng. Hai trang tĩnh lược đóng lại câu chuyện mà sự đơn giản cùng sự chừng mực càng cào xé ruột. Woolf giam chúng ta vào căn phòng xưa cũ ở Neville Court, Luân Đôn, nơi Jacob thích đọc sách, làm việc, mơ mộng, và có thể đã ham muốn.

“Jacob để lại mọi thứ y nguyên như vầy, Bonamy kể, hãy còn ngạc nhiên. Những lá thư vung vãi khắp nơi, nhằm bắt mọi người phải đọc chúng. “Jacob trông đợi gì? Tin sẽ trở lại?” Bonamy nghĩ ngợi lúc đứng giữa phòng ─ Căn phòng của Jacob ─ Bừa bãi quá sức! Betty Flanders thốt lên, khi mở cánh cửa phòng ngủ. Bonamy quay lại ─ Tôi làm gì với những thứ này? Bà góa cầm trên tay đôi giày cũ của Jacob trước đây.”

Như thế chúng ta khám phá Jacob Flanders đã chết đâu đó ngoài mặt trận. Thật xa mà không một ai biết chết cách nào và nơi nào. Giống như cái chết trận vong của một chiến sĩ vô danh hoang tưởng. Tính cách lạnh lùng Ăng-Lê bắt người đọc phải lãng quên thi thể của nhân vật chính. Mà thật ra là phản nhân vật trong thể cách phản tiểu thuyết. Những đôi giày cũ, trong một nội thất bỏ hoang đầy sách vở, nhật ký và y phục, tất cả thay thế nhà mồ và thi thể của kẻ khuất mặt. Căn phòng được đổ khuôn cho những điều ấy. Jacob Flanders có thể bắt đầu trong căn phòng này một đời sống khác, một đời sống thứ nhì, một cuộc đời trống rỗng dễ dàng vượt thoát xương thịt. Sau cùng, anh đã tự do để có thể trở về với bóng ma bao phủ suốt tuổi thơ hoặc lao tới tuổi trưởng thành mà định mệnh đã ngăn cấm.

Vòng tròn khép lại một cách tự nhiên, có nghĩa trong sự tàn bạo nhung lụa, vô liêm và cam chịu. Đến đây chúng ta mới khám phá thiên tài rộng lớn mà ẩn kín của Virginia Woolf: suốt hai trăm trang ngăn ngừa tất cả những dấu hiệu bề mặt của cảm xúc, bà không ngừng tiết lậu sự chết chóc, chứng bệnh thần kinh về cái chết của chính mình, Woolf xử lý trong suốt chiều dài tác phẩm, bằng hoán dụ và ẩn dụ, với một nghệ thuật, một ảo thuật thân mật kỳ tài đến kinh ngạc. Như một lời tự thú. Tác phẩm lớn của cuộc đời bà, sẽ phải, đang diễn ra, và vĩnh viễn mãi là cuộc chung chạ với thần chết mà bà trao phó trong yên bình.

Tôi nghĩ đến lời thơ bí hiểm của Mallarmé: “Dòng suối cạn chịu sàm báng này là thần chết.”

Virginia Woolf, tiểu thuyết gia Anh, là một bằng chứng. Woolf được 42 tuổi khi cho xuất bản Căn phòng của Jacob. Mười tám năm sau tự vẫn bằng cách nhảy xuống “dòng suối cạn chịu sàm báng” chảy qua dưới chân nhà. Bà đã bỏ đầy đá vào các túi áo để chắc chắn không sống sót. Chi tiết này cho phép khẳng định Woolf không tự sát trong một cơn điên loạn tuyệt vọng. Ở vào phút bước chân xuống kè đá, chắc chắn êm đềm và rợp hoa, bước đến sát mặt nước, Woolf vẫn mang trong mình nỗi ám ảnh chung thủy: Phục hồi cho “dòng suối cạn chịu sàm báng”, trả cho lòng suối không sâu tất cả sự tươi mát vô tội, nguyên tắc yên nghỉ gần như không thay đổi minh chứng cho sự minh mẫn tràn đầy của bà.

Tổng lượng tiểu thuyết của Woolf còn là một nhân chứng rực rỡ. Tôi chưa thấy nhà văn nào biết kết hợp với một lý trí sáng suốt đến vậy dòng nước đôi của sự khoái lạc nhục cảm và sự quyến rũ u ám của thần chết. Cũng chưa ai thành công giả định cây cối và trời xanh, công viên và phố phường, đại dương với đền đài lịch sử, nhan sắc đàn bà cùng nhung lụa trưởng giả như bà đã làm. Có nghĩa chuyển động của những giao mùa chuyển dịch với một sự nhẹ hẫng bên trên cái nền tối ám không thể kềm giữ của địa ngục.

Căn phòng của Jacob hiện ra, như thế, vượt lên trên tất cả thành một bài học tinh diệu về tính kiên nhẫn. Đối với các nhà văn, sẽ thật tiện ích khi có thể thích nghi dễ dàng với ẩn dụ, với sự buông thả vào những ngã tắt của văn chương từ một thực tế khiêm nhường hay cao ngạo, mà Virginia Woolf, bằng bí mật của một thiên tài, đã khinh bỉ và vứt bỏ vì không xứng đáng với bà.

Khả năng tôi luyện làm chủ giọng văn của Woolf đã giúp đỡ chúng ta. Phong thái trêu cợt thân mật hay xa cách tùy hoàn cảnh của bà cũng đã giúp chúng ta. Cả sự chối từ quyết liệt các nền đạo đức. Đừng quên vai trò thanh giáo của bà, vai trò ở vào thời đại mà động cơ đẩy lùi các ham muốn sẽ khó hiểu bây giờ.

Virginia Woolf tự bằng lòng thao tác từng tác phẩm tiểu thuyết theo cách của những họa sĩ si mê đắm đuối với chính bức vẽ của mình: không ngừng nghỉ tô điểm ở đầu cọ sơn, ngàn nét họa rung động, chấm phá sắc nhọn hay mơ màng. Một thao tác đáng ngưỡng mộ vì giúp cô đọng những chuyến viễn du vi hành thế giới mà chúng ta chỉ là những hành khách ẩn náu sau khi vứt bỏ sức nặng cồng kềnh của xác thân.

Dominique Rolin 3/1990

Trần Vũ chuyển ngữ 23-12-2008

image004_0_300x210_1Jacob’s room, Căn phòng của Jacob, Virginia Woolf, nxb Hogarth Press 1922, bản dịch Pháp văn La Chambre de Jacob của Jean Talva, nxb Plon 1958. Stock tái bản năm 2005 với bản dịch của Agnès Desarthe. Cùng với Những lượn triều (Les Vagues/ The Waves 1931), Du hành đến hải đăng (La promenade au phare/ To the Lighthouse 1927), Căn phòng của Jacob 1922 là một trong ba tiểu thuyết của Virginia Woolf có lượng in cao và tái bản nhiều lần tại Pháp.

 

image006_0_154x300_1Dominique Rolin sinh ngày 22 tháng 5 năm 1913 tại Bruxelles, thành viên của Hàn lâm viện hoàng gia Bỉ về ngôn ngữ và văn chương Pháp. Là ngòi bút sáng tác và phê bình gạo cội tại Paris, bà đã cho xuất bản trên 40 đầu sách. Phê bình Căn phòng của Jacob đăng trên nguyệt san Magazine Littéraire (Giai phẩm Văn) số 275 tháng 3, 1990. Chủ trương phê bình cần tránh học thuật, tránh xây dựng trên các lý thuyết văn học hay chủ nghĩa, và không dựa vào các gương mặt thời danh làm điểm tựa cho quan điểm của mình, Dominique Rolin tập trung ghi lại những cảm nhận riêng của bà khi đọc tác phẩm. Ưu điểm này tìm thấy trong phê bình Căn phòng của Jacob.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 101901)
T in tức về chỗ tàu sẽ vào bốc tưởng rằng rất kín đáo, rất bí mật, chỉ riêng Thủy Quân Lục Chiến biết, hóa ra đã có quá nhiều người biết. Chuyến tàu dành riêng cho tiểu đoàn 4, nhưng khi chúng tôi đến nơi, số người đã đứng đợi sẵn cũng có đến cả vài ngàn, xấp xỉ với số người đang chạy ngược chạy xuôi theo chiếc tàu.
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 210328)
LTS : V ới những trang viết thật ngắn, bằng nét phát hoạ tưởng như vô tình, Hoài Băng gởi đến độc giả một bức tranh, một khúc phim ngắn như vết dao cắt trong lòng người đọc về xã hội Việt Nam ngày nay.( TCHL)
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 112896)
LTS : ... Chúng tôi trân trọng gởi đến quí văn hữu và bạn đọc bài viết “Nỗi niềm thế hệ trong ký và tự truyện của Văn học Di dân Việt Nam” của Nguyễn Hạnh Nguyên, một người viết trẻ, sinh ra và lớn lên sau chiến tranh, nhìn về quá khứ xuyên qua tâm tư của thế hệ sinh trưởng trong thập niên 60 ở miền Nam, từ sau biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975. Tạp Chí Hợp Lưu
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 172952)
..." n gười phê bình phải sáng suốt khảo sát tác phẩm và nhất là phải giữ khoảng cách đối với tác giả ...Cần phải nhớ rằng: Văn bản phê bình chỉ dành cho độc giả, không dành cho tác giả mà mình phê bình . Cho nên, nếu viết cho vừa lòng tác giả, đôi lúc, chỉ sản xuất ra những văn bản nịnh bợ... " (Thuỵ Khuê)
20 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 115050)
T heo kế hoạch, ngày hôm qua Ủy ban liên hợp của Ủy hội sông Mekong gọi tắt là MRC sẽ tiến hành cuộc họp về quyết định có cho phép đập Xayaburi được xây dựng hay không tại Vạn Tượng thủ đô Lào. Các tổ chức phi chính phủ thuộc 51 quốc gia đã cùng ký vào biên bản kiến nghị gửi Thủ tướng Lào và Thái Lan phản đối việc xây dựng đập Xayaburi. Các tổ chức lớn như WWF, IUCN, WCD đều ủng hộ việc hoãn xây dựng 12 đập trong 10 năm để có thể nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
16 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 96057)
N ói nào ngay, thì chẳng phải viện Hàn lâm Thụy điển không hề nghĩ tới Édouard Glissant: như vừa nói, tên ông thường xuyên nằm trong số nhà văn nobelisable(s) créolisation (tạp chủng) và tout-monde (toàn-cầu). mỗi năm gần đây. Có điều là hào quang tác phong quyết liệt nhưng bất bạo động của ông trong môi trường chánh trị và văn hóa trải dài hơn sáu chục năm tròn đã ít nhiều che trùm trên một sự nghiệp nghệ thuật cũng chẳng kém phần sắc cạnh. Suốt trọn cuộc đời khôn thôi sống động, ông không hề tách rời công trình sáng tạo văn chương ra khỏi mục tiêu mà ông tóm gọn qua haì í niệm
16 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 144219)
Đ ã lâu lắm một mùa tang sâu thẳm Vọng bên lòng buồn cố xứ quẩn quanh Người là Em? Những mồ hoang cô quạnh Biết tìm đâu mẩu đất máu tạ từ
14 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 140877)
h ồi ức bỏ ngang đạo đức kinh thánh tĩnh mạch giục giã lời đùa khinh bỉ [...] dưỡng khí không còn thở bằng mũi bằng oxy cổ đại chỉ là bằng miệng bằng tay cầm đầy xấp bạc polymer
13 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 139699)
E m bước qua tuổi ba mươi Nước mắt cạn ngày thốc nắng Đám mây không ngừng bay Mang em tìm chân sóng Nơi có mạn thuyền bao dung?
13 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 137732)
l á đỏ dưới ánh đèn mùa đông mùa đổi từ bao giờ lòng ta quanh năm chỉ một mùa vàng lạnh giấu bạn bè trong những giấc mơ .
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9478)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16347)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15291)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15666)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1883)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1960)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1992)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2347)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4400)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6212)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5537)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6133)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1862)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2064)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1929)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1730)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1558)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1739)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1723)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12503)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28704)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35249)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35115)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10036)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12090)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1376)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1960)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2347)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2482)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2879)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7142)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6561)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8599)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.