- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,539,527

ĐÊM MO HỒN

25 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 3935)


Le minh phong-2
Tranh Lê Minh Phong

Hai giờ chiều, để thực thi một nhiệm vụ tối đặc biệt, Cư bỏ xe con công vụ, một mình nhảy xe ôm đi một chặng đường dài, rồi xuống đò tới một trong những bản cuối cùng còn vướng mắc giải tỏa: bản Púng Lầm.

      Trên con thuyền đuôi én sứt sẹo vượt sóng, Cư nhìn về phía thượng nguồn. Hàng chục cây số dọc bờ sông, cách đây không lâu từng là những khu dân cư trù phú, giờ đã tiêu điều hoang vắng dành cho lòng hồ thủy điện. Từ ngoài bến vào bản, lối đi trồi sụt, cỏ rậm rì. Vài ba con khỉ rừng thập thò trong các mảnh vườn lút cỏ. Những cối giã gạo bằng nước và bằng chân chỏng trơ đã mốc thếch. Vài túp lều dựng tạm bằng nilông, tôn lợp, tre nứa... Có người quay về chỉ để thu hoạch nốt vườn tược nương rẫy, có người khăn gói quay lại hẳn bản cũ. Và cũng có người quyết không đi đâu cả! Tại đây, theo một nguồn tin, các gia đình cố thủ còn dấu hai khẩu súng kíp, họ tung lên "tai rừng" những tuyên bố đáng sợ! Ba lần cán bộ của Ban đã tới thuyết phục, rồi đều phải quay về, lắc đầu. Một cuộc họp liên tịch căng thẳng. Cưỡng chế! Cư như bị á khẩu. Kinh hoàng. Sao cứ phải gạch vỡ, nhà cháy, máu đổ?!... Nhưng tình hình quá nghiêm trọng, lại trước một tập thể "cây đa cây đề", Cư tạm bó tay. Trước đó, Cư và một số người trẻ trong Ban đã không chỉ làm "Dân vận" mà còn phải làm "Quan vận" nữa! Chính anh là người kiến nghị để đồng bào được di chuyển ngôi sàn đến nơi tái định cư, phù hợp với nguyện vọng, tập quán. Và không chỉ một lần, Cư xin trực tiếp đến ăn ngủ tại những gia đình chây lỳ, khiến vợ anh phải bồn chồn lo lắng cả đêm. Nhưng lần này...

      Vợ Cư, một cô giáo người Thái dạy phổ thông trung học là người đầu tiên được anh tâm sự về các diễn biến trong và sau cuộc họp ( Dĩ nhiên là không có hai khẩu súng kíp!). Cư đã gặp trưởng Ban xin được giải quyết êm thấm vụ này. Ông chỉ tay lên trên. Cư đã phải gõ vài cửa, bằng sự nhẫn nại mà không hiểu vì sao anh có được, cùng những lời hứa như đinh đóng cột. Anh được toại nguyện, kèm sự ái ngại không dấu diếm của những người "ra ơn lần cuối" cho anh... Trước khi đi, thấy vợ lúi húi nhét ếp-khẩu2 còn lựng thơm nếp nương vào cặp, Cư xua tay: "Khỏi cần. Vào bản Thái mà!" Chị cứ cài lại chiếc cặp căng phồng. Cư với túi thổ cẩm đang treo góc nhà, phủi bụi, rồi lấy ếp-khẩu, tập sách truyện, cuốn sổ tay, chiếc đèn pin và con dao găm từ cặp chuyển vào túi. Nghĩ sao, anh bỏ cuốn sách và con dao ra. Chị lặng đi nhìn anh, không dấu được nỗi thảng thốt trong đáy mắt: "Anh thận trọng nhé... Người bản ấy có súng...". Anh nói như quát: "Ai bảo em thế?".

     Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh... Cư sinh ra, lớn lên ở phố núi, học chuyên nghiệp xong vào cơ quan Nhà nước, phải tới đận làm công tác di dân, anh mới thực sự được sống với vui buồn của người dân bản. Lần đầu tiên anh mới có dịp thấm hiểu nỗi day dứt nhớ thương đàn gia súc mà người phụ nữ vẫn hàng ngày chăm sóc, giờ phải chia xa: "Ở lại nhé, đàn vịt nhỏ thường đẻ trứng/ Đàn gà nhỏ thường gáy của ta ơi!/ Chiều chiều ta không còn được nắm gạo xuống chăm" 3... Cũng lần đầu tiên, khi tận mắt chứng kiến cảnh phụ nữ già trẻ của một bản đều khóc ở lễ Lúng ta (Gội đầu) lần cuối bên đoạn sông sẽ biến mất, Cư mới được cảm nhận bằng trực giác thế nào sự gắn bó của con người với quê hương, xứ sở...

     Một người đàn bà địu ngô từ nương bên kia sông về bản. Trò chuyện đôi câu với chị, Cư vỡ lẽ, vì sao thầy dạy văn cũ của anh, một nhà báo trung ương, tháng trước đã từ chối đề nghị của trò cũ đang là một quan chức, không muốn đi cùng anh bằng phương tiện của Ban để tới các địa điểm giải phóng lòng hồ. Ông vác máy quay đi một mình, lang thang nhiều ngày qua các làng bản đã hay sắp di dời, ghi lại tâm tư của người dân. Chết thôi, phải lập tức đề nghị ông giữ kín những tư liệu đó, để khi thành công thủy điện công bố cũng chưa muộn. Nhưng chắc mình lo xa quá. Đúng là "cầm đèn chạy trước ô tô"! Cư mỉm cười tự diễu. Song ngay lập tức, một nỗi lo sợ bủa vây anh. Một nòng súng đang bí mật theo dõi mọi hành tung của anh, chỉ đợi chút gì thất thố hay bất cẩn là sẽ tóe lửa. Rồi sau đó có thể là một, hai ngôi nhà bốc cháy đùng đùng. Gai ốc bỗng nổi lên. Cư đứng lặng, hít một hơi thở thật sâu tự trấn tĩnh. Khi đã bớt hoảng loạn, lòng thương vợ con chợt len lỏi tận ti vi huyết quản. Tay anh bất giác sờ lên chiếc ếp-khẩu, dường để tìm một chỗ dựa cần thiết. Giọt lệ giấu vội của vợ lúc quay ngoắt đi chập chờn ẩn hiện. Lúc này, chắc cô ấy đang lo lắng đến tê dại. Anh chợt ân hận đã nói như quát khi tạm biệt. Lần này, đâu phải như mọi lần... Nếu một cô gái gia đình cán bộ quen sống từ bé ở đô thị, phải sống trong cảnh sắp rời bỏ ngôi nhà sàn như người con gái của Xống chụ son sao: "Ở lại nhé, nái lợn đen ở gầm sàn/ Chiều chiều ta không được xách đậu cám xuống cho ăn", thì cô ấy sẽ nghĩ gì? Cư tỉnh táo trở lại. Đồng thời, một niềm rưng rưng chợt dấy lên... Cư chưa được biết những tư liệu của thầy giáo cũ có những gì, nhưng anh đã xem phóng sự "Giã biệt Cà Nàng" của ông, ở đó anh đồng cảm với tình thương, sự mến phục nghẹn ngào trước sự hy sinh cho nghĩa cả của đồng bào.

     Mặt trời vừa lặn sau dãy núi bên kia sông. Núi liền sẫm đen lại hung dữ. Sương mù ập xuống. Bên này sông, bản cũ hoang vu càng thêm lạnh lẽo trong màn sáng lem nhem, mờ ảo. Cư đã quay lại bến sông, kịp hỏi han ghi chép thêm tin tức qua mấy đứa trẻ trai đang bơi lội, đùa nghịch. Một đứa tỏ ra biết kỹ: "Hai nhà bắc ván thông nhau. Cửa sổ có bao cát. Có cả súng kíp mua của người Mông tận Co Tòng cơ!". "Thế các cháu không đi học à?"- Cư ngắt lời nó như thể xóa bỏ cái ấn tượng khó chịu bởi sự hồn nhiên của trẻ thơ trước tội ác chưa xảy ra. Hỏi xong mới thấy mình vô duyên. Trường nào ở chốn này! Chúng nhìn lạ lùng. "Chú là cán bộ di dân à? Không phải, vì không có cặp da!"- "Chú là ai thì cũng là khách của bản. Tập tục người Thái ta thế nào?". Một đứa láu táu: "Chú vào nhà cháu, cháu mời chú uống nước...- Nó ngần ngừ - Nhà cháu mấy hôm nay ăn cháo ngô rồi...- Mắt nó sáng lên - Nhưng chú vào hai nhà ông Khem, ông Bình sẽ được mời cơm cá đấy! Họ trữ lương thực để ở lại bản thật lâu mà". Cư bật hỏi: "Thế nếu nước hồ dâng lên thì sao nào?". Đứa lớn nhất trạc tuổi con gái út anh, vẻ trịnh trọng: "Họ bảo không thèm di vén lên, mà chìm cùng nước!". Một đứa đế thêm: "Nhưng không chết đuối bởi thuồng luồng đâu nhé! Tự giết cả nhà để nước làm mồ chôn". Cư thoáng rùng mình. Sực nhớ, anh lấy ếp-khẩu xôi đưa cho lũ trẻ. Chúng rụt rè nhìn nhau. Chắc thấy anh khẩn khoản, đứa lớn nhất cầm lấy. Rồi chúng lại nhìn nhau vẻ nghi ngại. Cư mỉm cười: "Chú không đói.". Bọn trẻ liền xúm quanh đứa cầm ếp-khẩu, mắt hau háu chờ chia phần. Ánh sáng nhập nhoạng trên những gương mặt hốc hác, lam lũ trước tuổi vì đói ăn và những ngày tháng sống hoang dại. Cư chợt nhớ câu chuyện mẹ kể khiến anh thổn thức suốt thời thơ ấu: có một gia đình nghèo đông con, đúng năm hạn lớn, người mẹ kiệt sức. Người chồng sang nhà tạo bản vay được một nắm gạo, dành tới khuya nấu cháo cho vợ. Nhưng khi muôi bát lỡ chạm nhau, bọn trẻ đã vùng dậy. Hai vợ chồng nhường các con cả nồi cháo, rồi đành gạt nước mắt, bí mật đưa chúng vào rừng tự kiếm sống. Năm sau được mùa, họ vội vào rừng tìm các con. Nhưng, "Cô chị cả đã hoá thành khỉ kêu/ Cô chị hai thành vượn hót mặt đỏ/ Còn thằng Căng và thằng Khằng đã thành con dím, con dũi đào đất làm ổ sâu"5... Cư lặng lẽ rời bọn trẻ, đi sâu vào bản hoang, lòng xáo động bởi câu chuyện vừa sống dậy sau nhiều năm quên lãng... Nhưng chiếc túi thổ cẩm giờ nhẹ tênh, bước chân anh sao trĩu nặng. Anh có quyền quay trở về. Vẫn còn kịp. Không ai trách móc, phê bình hết. Thậm chí, có người sẽ vỗ tay hoan hỷ... Còn vợ anh thì sẽ chỉ cấu véo trách yêu vì đã để chị mất oan một đêm lo âu thót tim! Cái vụ này, quả là mình ăn gan Trời. Mặc dù vẫn lễ phép, nhẫn nhịn, song cái ý chí sắt đá của mình khi đề nghị bỏ cưỡng chế, đã khiến không ít vị chưng hửng, thậm chí kinh ngạc. Hôm đó, sao mình hăng thế. Còn thề thốt đủ thứ... Nhưng ai dám bảo là mình đã sợ hãi? Dớ dẩn! Cư lấy ra chiếc đèn pin, sốc lại chiếc túi thổ cẩm nhẹ hều trên vai, thầm tiếc đã bỏ cuốn sách và con dao ra. Bạn Cư làm luận văn thạc sĩ về kịch Sê-khôp, từng kể một nguyên lý kịch học: nếu có một khẩu súng treo ở đầu cảnh một, thì tới cảnh năm, nhất định nó phải nổ súng. Nhưng đó là kịch! Con dao sẽ chỉ cần thiết cho đúng khoảnh khắc này, chỉ giúp làm nặng thêm cái bờ vai không phải lúc nào cũng đủ tự tin như mình... Dớ dẩn nốt! Cư nảy cảm giác liều lĩnh, bất cần. Những ánh mắt thương hại, sự dè bỉu coi thường của mọi người trong Ban, kể cả của vợ con anh nữa, bỗng dưng khiến anh sôi tiết. Cư soi chúc đèn pin, khum bàn tay che bớt sáng, chậm rãi bước về phía hai ngôi nhà mà vài giờ trước anh quan sát được từ xa. Ve rừng bắt đầu nhưng nhức hòa âm giữa không gian đen kịt. Loài ve đã nhập vào các phi bản, phi mường (hồn ma) đây, định dọa ta chắc? Đừng có hòng! Nhưng một tiếng chim đêm cô độc cất lên khắc khoải khiến Cư chợt nao lòng, rã rời ý chí... Một bà mẹ đi đào củ mài, vì quá mệt và đói nên cắm đầu chết trong hố củ. Đứa con nhỏ ngồi chờ phía trên cứ gọi mãi, giục mãi mẹ về cho em bú, rồi nó biến thành con chim đêm. Có phải là loài chim này không? Đừng hủy hoại nốt lòng dũng cảm ta vừa vun lại được! Cư tắt đèn pin, nấp sau một gốc cây để lấy lại tinh thần, và để mắt quen với đêm tối, quan sát địa hình. Anh căng mắt nhìn ánh đèn dầu hắt qua các cửa sổ của hai ngôi nhà sàn truyền thống, trong đó một nhà từng được phá để di dời, rồi chính nó được dựng lại sát kề nhà hàng xóm thành thế liên kết, dù mong manh vẫn là đáng kể. Chúng xếp hàng ngang trước mắt, vì thế anh không thể nhìn thấy bốn cửa ra vào phía bốn đầu hồi, trong đó có một cửa bên quản, một cửa bên chan phải được nối với nhau bằng ván- nếu bọn trẻ nói đúng. Ở mấy cửa sổ, hình như nổi lên các bao cát để kê nòng súng, và để tránh đạn. Trẻ con không biết bịa! Chà! Thành một vế tục ngữ mới được đấy, kiểu như: "Trẻ con không biết mệt, con gái không biết đói"... Ờ, làm người ai mà chẳng biết đói, biết mệt! Nhưng ở các vùng quê nghèo quen tự cung tự cấp xưa nay, mối quan tâm hàng đầu là “khẩu đón, tón pa khao”(gạo trắng, miếng cá bạc), mà hoàn cảnh lại khắc nghiệt, thì vô tình phụ nữ và trẻ con bao giờ cũng phải chịu đựng, chịu thiệt thòi nhiều nhất... Mai về, đọc câu tục ngữ cổ này cho vợ nghe, xem gái Thái mang danh trí thức hiểu tới đâu? "Ngày mai" lập tức kéo anh một cách phũ phàng về đáy thực tại "Ngay lúc này". Cư dụi mắt để có thể quan sát kỹ hơn hiện trạng "pháo-đài-nhà-sàn" chưa từng có ở vùng này, kể từ thời mưa máu chinh chiến vùng Thập châu. Ừ, mà sao mình lại có vẻ dấm dúi thế? Hãy làm khách đường hoàng. Chuyện gì xảy ra chưa biết, nhưng trước tiên hãy để họ có cơ hội thể hiện là người dân miền núi quý khách, trọng khách như luật tục bao đời. Cư bước tới giữa hai ngôi nhà, cất giọng nói to:

- Có ai ở nhà không ạ?

     Ánh sáng đèn dầu lay động. Tiếng dẫm sàn nứa cót két. Một tiếng nói trầm trầm tựa dưới Âm ty vọng ra từ mép cửa sổ:

- Ai vậy ?

Nghe giọng đoán tuổi, Cư đáp:

- Ải lung (bác, anh) , em ở mường xa tới, xin miếng cơm ngụm nước!

- Vậy à? Mời lên sàn.

- Lên thang nào đây ạ ?

- Nếu tự cho là khách quý, lên đằng quản !

     May rồi, như thế là mình sẽ được tận mắt nhìn thấy tấm ván liên kết phòng thủ của hai nhà. Sẽ chủ động khi xảy ra sự cố. Và có dữ liệu cụ thể cho bản báo cáo... Cư bước tới giữa hai ngôi nhà, chậm rãi bước lên thang quản ngôi nhà bên phải, anh nhìn thấy một tấm ván lớn lao từ bên quản nhà này sang chan nhà hàng xóm một cách chắc chắn. Quả là một sự đoàn kết sống mái, không kém mọi cuộc uống tiết ăn thề!

     Bữa cơm rượu đãi khách được bưng ra trên một mâm gỗ lên màu thời gian trộn bồ hóng. Dòng rượu táo mèo phản chiếu đèn dầu hỏa và lửa bếp sàn sóng sánh tựa mật ong. Chủ nhà không hỏi anh từ đâu đến, làm gì, ông chỉ lặng lẽ uống và nhiệt tình rót như lâu ngày mới có khách tới thăm. Ông hàng xóm cũng được mời sang ngồi mâm. Sau mấy chén, họ mới trò chuyện dè dặt. Khi biết chủ nhà vốn là một ông mo, Cư hơi nao núng. Trời ạ, thuyết phục sao nổi một người đang làm chủ văn hóa cả mường bản!... Ông kể, ông chia một nửa gia đình tới vùng tái định cư cách đây gần trăm cây số để thăm dò trước. Nhưng nơi đó quá lạnh, lại ở nhà làm toàn bằng bê tông nên càng lạnh, vườn tược không có. Gia đình được phân một lô chè và hai con bò sữa. Sau hơn nửa năm bỡ ngỡ trong lĩnh vực làm ăn hoàn toàn mới, lại chưa được hướng dẫn kỹ thuật đầy đủ, bò ốm chết, gạo tạm ứng hết sạch, đành phải kéo nhau về, kết với một gia đình cùng cảnh ngộ ăn thề trụ lại. Còn mấy gia đình khác cũng quay về, chấp nhận cảnh di vén theo mực nước, bất kể nơi đó có điện, nước, trạm xá, trường học hay không; nhưng họ không nằm trong diện bị cưỡng chế...

     Khi chủ khách đã ngà ngà, ở buồng giữa chăng màn đen, lời “khắp” của một người đàn bà vọng ra: “À…ới…ì... Rượu này là rượu tình rượu nghĩa, không phải là rượu phản rượu thù...”  Cư giật mình bay hết rượu. Câu hát có ẩn ý gì đây ? Họ đoán được mục đích của mình? Không phải! Mình trở nên đa nghi, cảnh giác từ bao giờ vậy? Nhưng đó là bài hát đầu cuộc rượu, sao đến lúc này mới hát? Một đòn tâm lý thăm dò? Cư vội lắc đầu nhẹ để tự xóa bỏ cái ý nghĩ có phần thiếu lương thiện. Chính mình là kẻ đã đến đây trong tâm địa dò tìm địch thủ trước, trong khi lẽ ra phải là một người bạn chỉ mang tới điều họ hằng khao khát: tình và nghĩa. Việc họ phải trang bị cả súng cho việc cố thủ, có lẽ chỉ là một phản ứng tuyệt vọng, bị dồn tới cùng đường, sẵn sàng buông hết cho số mệnh...

     Trong lúc Cư đang miên man với bao ý nghĩ dằng xé gay gắt, ông mo đã từ góc nhà quay lại, mang theo trên tay mấy cuốn vở học sinh. Ông hàng xóm cáo lỗi ra về. Lúc ông ta đứng lên chào, Cư có cảm giác hai người làm dấu hiệu gì đó với nhau. Những bao cát phía sau lưng Cư là đồng lõa nham hiểm, chúng lầm lỳ lắng nghe để giải mã lời chủ nhân:

- Về Mường Húa, tôi ghi lại được một bản chiêu hồn quý lắm nhé! Cậu thích nghe không?

- Em chưa được biết văn bản này của người Thái ta, nên chắc cái gì cũng lạ, cũng thích...- Cư hồi hộp, nghe rõ từng hơi thở của mình.

     Thế là ông vừa đọc vừa hát bằng cái giọng khê nồng song truyền cảm, về hành trình chiêu hồn của một ông mo mường xưa từ các tầng của mường Trời tới nhiều nơi dưới trần gian... Đúng nghề đúng việc cũ, lại gặp người thích nghe, không coi lời Mo khuôn là vô bổ, nhàm chán, ông có thể hài lòng sống qua một đêm chờ đợi dường vô tận.

Các trai và đoàn gái ta ơi

Niết Bàn dù cao sang chớ ở

Không cùng lứa đôi chớ nằm với nhau

Ma chia ruộng cho chớ làm

Ma chia rẫy chia nương chớ lấy

Ma phần phai cho chớ ngăn...

     Người dân ai cũng muốn phân biệt rõ hồn ma tốt hồn ma xấu để soi lại cõi đời mình; và người hướng đạo phần hồn - các ông mo, hơn ai hết phải nhận chân sự thật nhằm giúp cho hồn dù ở trên trời hay nơi hạ giới, cả người chốn dương gian tránh bớt rủi ro, bất hạnh... Đối tượng của Cư lâu nay chính là những con người vốn có mơ ước cuộc sống bình dị, như các hồn của "Mo Khuôn" kia đang dung dăng dung dẻ đi qua sướng khổ của kiếp người, kiếp ma, với niềm tin chất phác: những ai đã làm điều thiện khi sống, thì lúc chết, không trước rồi sau sẽ được hóa thành vì sao sáng; còn những kẻ làm trái đạo người sẽ bị Then Xội trừng trị, bị nhốt vào cõi u minh vĩnh viễn... Ở cảnh ngộ nào, họ cũng lạc quan: "Dù miếng ăn còn nắm đầy nắm vơi, nhưng lúa gạo ở dưới đất, thức ăn ở trong rừng...". Nhưng anh và các cộng sự đã có đủ khả năng thuyết phục nổi những người đã mang nặng tâm lý bao đời: "Mười bản không bằng bản rụng rốn, mười mường chẳng bằng mường chôn nhau"?

     Ngừng đọc một chút, ông cất giọng buồn hơn cả tiếng pí-thiu5 đêm vắng:

- Cậu biết không, nhiều nơi đẹp đẽ hồn đi qua, và cả nơi sinh ra bản Mo hồn này cũng sẽ chìm mãi trong nước lạnh...

     Cặp mắt mờ đục của ông ư ứ nước. Ý chí Cư bị quật ngã, anh nôn nao say sóng. Phải chăng, đây mới là nguồn cội chính của mọi việc?... Ông chủ nhà chợt cắt ngang tâm tư xáo trộn của Cư:

- Cậu nghe nữa không? Lúc nãy là hành trình mường Trời. Giờ mới là hành trình Hạ giới...

     Cư gật đầu lia lịa.

- Vâng, vâng, ải lung chưa mệt thì em còn muốn nghe. Ít khi em có dịp...

     Ông lại khề khà, nửa đọc cho người nửa cúng ma cho hồn với đầy đủ lễ vật, kèn pí-lao, đèn nến lung linh trước mặt một mo mường. Trong khi hồn được dẫn qua các địa danh cả xa lạ lẫn quen thuộc đối với Cư - Mường Khiêng, bản Hốc, đồng Pụa, Mường Bon, bản Mòn..., Cư chợt hình dung cảnh những con bò sữa đã biến thành bò rừng gầy guộc run rẩy, đi ngơ ngác giữa những ngôi nhà xây cứng đờ theo kiểu doanh trại, không hề có những mảnh vườn thân thiết với phụ nữ, trẻ em, những lô chè mướt xanh hóa lùm cây dại, cỏ hoang trùm lấn... Hiện trạng này thực ra cũng đã được khắc phục khá nhiều. Nhưng nơi đó còn biết bao gian nan đang đón đợi. Nhiều điểm tái định cư khác tuy có thuận lợi hơn, song chuyện xóa đói giảm nghèo thực sự, vẫn còn là nỗi đau đầu. Rồi những kẻ bất lương cấu kết với không ít cán bộ đã lưu manh hóa, tuồn hàng rởm, hàng Tàu kém chất lượng tràn ngập nhiều làng bản chưa kịp hồi sinh, nhẫn tâm vơ vét những đồng tiền ít ỏi được đền bù của dân, ăn chặn đồ viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ, khiến đời sống của họ đã bấp bênh lại càng thêm cơ cực, khốn khó...

- Này, cán bộ!...

     Tiếng của một người phụ nữ tựa tiếng thanh la xóc vào tai Cư. Anh choàng tỉnh. Chị tuổi ngoài năm mươi, dáng sắt lại như lõi cây rừng, mái tóc tằng-cẩu6 gọn ghẽ chắc chưa hề được gỡ ra đêm nào suốt những ngày qua. Chị đăm đăm như soi vào mắt Cư.

- Cậu vừa khóc đấy à? Sao lại khóc ở nhà anh chị?

     Giọng chị bớt căng, và chuyển sang lối xưng hô thân mật gia đình của người Thái. Cư ngỡ ngàng vì điều đó, mà cũng vì xấu hổ. Đúng là anh đã chảy nước mắt tự lúc nào. Cư vội lấy tay quệt hai má.

- Dạ... Chắc là do  khói bếp đấy ạ...

- Cậu đừng giấu chúng tôi! Cậu là người của Ban di dân tái định cư! Cậu tới đây để lại vận động chúng tôi chứ gì?- Giọng người phụ nữ bỗng đanh lại.

     Cư chết lặng. Anh đã lộ chân tướng. Một cách bị động. Một cách nhục nhã. Cư muốn hét lên: "Phải đấy! Thế thì sao? Anh chị có biết sự ngoan cố của anh chị đã khiến bao người thêm vất vả, biết bao thời giờ quý báu bị mất, nước hồ thì sắp dâng lên...". Nhưng Cư bị chẹn ngang họng. Một con thú mắc bẫy giương mắt nhìn người săn. Giọng người phụ nữ trở nên nhẹ nhàng, song Cư có cảm tưởng chị đang bỡn cợt một con dũi trong lồng trước khi lôi ra làm thịt:

- Có đứa trẻ báo... Nó được trả công hàng ngày mà! Chúng tôi đếm từng khắc chờ cậu đến, nhưng không mong chờ cậu sẽ lại tuyên truyền những thứ ai cũng thuộc làu đâu!

     Như đọc được ý nghĩ của Cư vừa lóe lên, người đàn ông tiếp lời:

- Chúng tôi cũng không chờ đợi sự đe dọa lẫn những lời hứa hẹn. Mà cần ai đó hiểu cho: chúng tôi mệt mỏi lắm rồi. Cũng sợ chứ! Sợ đổ máu. Sợ phạm pháp... Nhưng hai tuần qua, ngày một thất vọng. Lại nghe ngóng là sẽ cưỡng chế, nên bảo nhau chuẩn bị sẵn sàng cùng sống chết...

     Mồ hôi Cư toát đầm lưng áo. Ông chủ nhà thủng thẳng:

- May là cậu không nói ra những điều chúng tôi chẳng mong đợi...

     Người phụ nữ tranh lời chồng:

- Có đấy, có điều chẳng mong đợi đấy!

     Cư ngước mắt nhìn chị. Chị mỉm cười, nụ cười mệt mỏi còn hằn vết lo âu, sợ hãi nhiều ngày qua:

- Chính là nước mắt của cậu đấy!...

    Và chị cũng chảy nước mắt thương cả cho mình nữa.

    Cư bật đứng dậy, lóng ngóng nhét lại áo vào thắt lưng để kìm nén một cảm xúc đột ngột khiến anh mất tư thế- điều thực không xứng đáng đối với một cán bộ không còn trẻ trung gì nữa, lại trước người dân dù sao cũng đang "có vấn đề". Anh lúng búng:

- Em... Em quấy rầy anh chị lâu quá rồi... Anh chị và bà con yên tâm. Sẽ không bao giờ có một cuộc cưỡng chế nào hết! Nhưng...- Cư ghìm lại được, và thầm tiếc chót nói từ "bà con" đậm tuyên huấn trước đông người - Nhưng... sao em không thấy con cháu anh chị ở nhà?

- Một nửa trực nhà, chúng đang đi săn... Một nửa đến những lều canh nương. Đang vụ mà - Bà chủ nhà nhanh nhảu.

     Bỗng một tiếng súng nổ dội vào vách đá chát chúa. Cư giật bắn mình. Ông chủ nhà cau mày:

- Chắc thằng út hạ được cầy bay rồi... Lâu lắm, chúng mới về bản! - Ông quay bảo vợ- Tôi đã nói mà chúng nó không nghe à? Nếu có đi săn, thì bằng nỏ và bẫy thôi nhé!

    Rồi ông đứng lên nói với Cư :

- Cậu cứ về đi đã!

- Thế gia đình anh chị sẽ di dời chứ?- Cư nóng ruột.

     Ông chủ nhà quắc mắt, hơi sẵng giọng:

- Cậu cẩn thận đấy! Về nhà đi! Mọi việc đâu có đó!- Ông chợt trầm ngâm- Chúng tôi đến chỗ nào cũng được, miễn là nơi đó áp dụng được lời có vần của ông cha: "Mất của dễ tìm, mất lòng khó kiếm..."

      Khi xuống sàn, Cư mới có dịp quan sát, dù chỉ trong vài giây- khẩu súng kíp treo sát cửa sổ. Và lần đầu tiên anh mới thấy khâm phục, tự hào trước kỹ thuật kỳ lạ cùng sự kiên nhẫn phi thưòng của người vùng cao: cái nòng thép đã được khoan bằng sức nước chảy ngày đêm suốt một năm ròng...

             
Viết thêm                                      

Cuộc cưỡng chế đã không diễn ra, bởi Cư đã có cam kết với lãnh đạo thế nào đó. Mười ngày sau, ông mo Khem mang lên nộp hai khẩu súng kíp và thuyết phục được tất cả các gia đình bản Púng Lầm còn lại tới nơi tái định cư. Và Cư phải viết báo cáo. Nhưng anh chật vật cả tuần liền. Anh không biết phải kể lại những gì. Về mối thương tâm của đôi vợ chồng nhìn các con biến thành thú vật trong rừng, hay về cô gái bỏ chồng thản nhiên dạo chơi chẳng che vú trong những câu hát đưa hồn giúp anh lật ngược thế cờ? Về thái độ kiêu ngạo của một số người máy mê tín khẩu hiệu tuyên truyền, hay nỗi xót xa căm giận của anh trước những việc hủy hoại lòng tin của người dân đã nghèo đến độ không còn gì nữa ngoài niềm tin?... Dù sao thì anh cũng không thể viết như mọi khi được nữa, như mọi người vẫn viết và mong nhận được từ anh.

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

___________________________

1. Tức Mo Khuôn- một tác phẩm cổ nổi tiếng của dân tộc Thái Tây Bắc (Vương Trung dịch)

2. Vật đựng cơm xôi làm bằng giang, mây

3. Trường ca dân gian Thái "Xống chụ xon sao" (Tiễn dặn người yêu- Mạc Phi dịch)

4. Dân ca Thái Tây Bắc (Cầm Trọng kể)

5. Một loại sáo dọc của người Thái

6. Theo phong tục, phụ nữ Thái đen có chồng búi tóc lên cao, gọi là tằng cẩu.

                                                                                                       
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Tư 202111:41 CH(Xem: 972)
Có nỗi nhớ nào bằng nỗi nhớ tháng ba / Dịu nhẹ thôi mà sao tha thiết thế / Mật bưởi dậy thì, hoa xoan thẹn thùng ấp màu yêu / Ngõ xưa lao xao màu áo cưới / Con đường làng khấp khởi sóng đôi. /
09 Tháng Tư 20212:33 SA(Xem: 888)
hồn nhiên những ngón tay / chắc hẳn chưa muốn vờn lên mặt những kí tự / lệnh thức bất lực trước cú pháp của ngôn từ / chỉ cần nhắm mắt / ý tưởng vời vợi hiện tiếng gõ phím reo lên
09 Tháng Tư 20212:20 SA(Xem: 885)
Nhắc tôi nhớ mùa lá xanh kỷ niệm / Ươm ước mơ… nở nụ biếc Giêng hai / Vương nắng lụa, phố xuân in dấu hài / Hàng me ngát gió thơm làn tóc rối
01 Tháng Tư 20214:31 CH(Xem: 1085)
Vào một ngày đầu hè năm 2019, tôi ngạc nhiên khi nhận được điện thoại của một người lạ, bạn ấy nói muốn gặp tôi trò chuyện vì đang làm ký sự Trịnh Công Sơn của Đài truyền hình Việt Nam. Chúng tôi hẹn gặp ở quán cà phê Trịnh Công Sơn trên đường Xuân Diệu để nghe nhạc và trao đổi cùng vài người bạn. Lúc ấy tôi mới biết bạn là Nguyễn Đức Đệ đạo diễn đang làm phim ký sự “Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du” gồm 5 tập, kịch bản và cố vấn phim do nhà báo Trần Ngọc Trác ở Đà Lạt một người đam mê nhạc Trịnh đảm nhận. Anh Trác đề nghị cho anh photo tất cả tài liệu mà tôi sưu tầm được khi làm luận văn thạc sĩ Trịnh Công Sơn để làm tư liệu, ngày mai sẽ vào trường Đại học Quy Nhơn quay ngoại cảnh, tìm lại dấu vết cũ nơi Trịnh Công Sơn đã từng học thời gian 1962-1964. Phỏng vấn tôi xoay quanh luận văn thạc sĩ mà tôi đã làm về đề tại Trịnh Công Sơn.
31 Tháng Ba 202111:56 CH(Xem: 1138)
Cùng chung một chuyến đò ngang, / Người đà qua cõi, người... dang dở người
29 Tháng Ba 202111:52 CH(Xem: 1052)
JOHN STEINBECK, NOBEL VĂN CHƯƠNG 1962 Sinh ngày 27/02/1902 tại Salinas, miền trung California. Sống và lớn lên trong một vùng thung lũng đồng quê xanh tươi, còn được gọi là “Salad Bowl” với dòng sông Salinas. Xong trung học (1919), có ước vọng viết văn, Steinbeck ghi tên học môn Văn chương Anh và cả lớp Viết văn / Creative writings tại Đại học danh tiếng Stanford, Palo Alto. Năm 1923, Steinbeck ghi tên học thêm môn Sinh Học / Biology tại Hopkins Marine Station, tại đây Steinbeck quen biết với William E. Ritter và quan tâm nhiều hơn tới Môi sinh / Ecology. Do theo học thất thường, ông rời Stanford 6 năm sau (1925) và không có một học vị nào. Steinbeck quyết định sang New York lập nghiệp, ông làm đủ loại công việc lao động tay chân để kiếm sống và tập sự làm báo, viết văn nhưng không thành công, không nhà xuất bản nào nhận in cuốn sách đầu tay của ông.
25 Tháng Ba 202111:55 CH(Xem: 1082)
Đó là vào những ngày cả Hãng phim truyện VN như sôi sục lên trong giai đoạn tổ chức sản xuất bộ phim nhựa đen trắng “Tướng về hưu” dựa theo truyện ngắn cùng tên đang rầm rĩ dư luận xã hội của NHT. Sáng hôm ấy, đang ngồi họp xưởng đầu tuần theo thông lệ của Hãng, đồng chí bảo vệ ngó đầu vào nhắn: “Có nhà văn Nguyễn Huy Thiệp muốn gặp đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn”.
25 Tháng Ba 202111:13 CH(Xem: 997)
đọc Tô Thùy Yên chẳng oán chẳng thù / lại thêm chút rượu / nỗi nhọc nhằn quê hương chìm nổi / một cõi mông lung, một chốn lầu nhầu / ta cùng bạn trầm ngâm vơ vẩn / thơ Tuệ Sỹ áng mây trời phiêu bạt / nhìn gần hơn, những chậu sành ở cuối bãi dâu… /
25 Tháng Ba 202110:39 CH(Xem: 1262)
Đã 43 năm trôi qua, sự khe khắt về lý lịch, về người của chế độ cũ dần rồi cũng nguôi ngoai. Nhờ đó mà tôi mới được viết lên những dòng này cho chị họ tôi. Chị Bảy Long, vợ một sỹ quan VNCH, người phụ nữ thầm lặng gánh chịu những đau thương mất mát của chiến tranh của nghiệp đời. Chị đã già, tuổi xuân đã qua đi, chị còn bất hạnh hơn cả bà quả phụ đại úy Đương vì không ai biết đến chị. Hết một đời đến khi nhắm mắt, chị sẽ vĩnh viễn không bao giờ được hốt một nắm đất nơi anh đã hy sinh để về chùa cúi lạy. Chị chẳng còn một đứa con nào để nương tựa tuổi già heo hắt bên song. Ôi đất mẹ Việt nam còn có bao người như thế... Thương biết bao!
25 Tháng Ba 202110:32 CH(Xem: 868)
Cách đây hơn hai chục năm, tôi có được xem một bộ phim tài liệu nghệ thuật (nhựa màu 3 cuốn) về chân dung nhạc sĩ Văn Cao, và có một tình tiết khiến tôi bị ám ảnh mãi - không phải vì sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, mà bởi sự thiếu "sang trọng" rất phản cảm của nó: những người làm phim đã buộc nhạc sĩ ngồi bên cây đàn piano, giơ cả hai khuỷu tay đập mạnh vào phím đàn như một người mất trí, hoặc căm hận ai đó, và không chỉ một lần! Người nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng tôn trọng phương tiện nghệ thuật của mình, trong thực tế không ai làm như vậy!