- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,382,736

CHUYỆN CŨ CHÉP LẠI

03 Tháng Mười 20199:24 CH(Xem: 874)

SAI GON 4
Sài Gòn Chiều Mưa - ảnh UL

 

     Hốp ngụm trà còn bốc khói, ông Tư  kể tôi nghe câu chuyện những ngày ở Sài Gòn, đưa con đi thi đại học, trông ông vơi đi dáng dấp sởi lởi vốn có mà đượm cái buòn hiu, an phận.

    "Chậc,mình già rồi, thật sự già rồi. Có đi chỗ này chỗ nọ mới cảm nhận dòng chảy của thời gian, có bon chen ngược dòng cùng thiên hạ mới ngộ được cảnh của mình". Trầm ngâm một chút như để tìm câu vừa ý. Mỗi người đi qua cuộc đời này như cái bóng, nhưng bóng của mình mới nhạt nhụa làm sao!"

  "Mỗi người đều có phần số cả".

  "Đó chỉ là cách nói, nhiều lúc do cái chí của mình không biết cựa quậy nên để nhiều vận may vuột mất"

  "Tôi đã nói mà lại, mỗi người đều có phần số cả, như ông chẳng hạn, ông đã cựa quậy cho cái tình của mình, còn người đời cựa quậy theo cách riêng của họ".

   Nỗi buồn thoáng qua, ông Tư uống cạn chén trà mà quên chừa cặn. Nỗi buồn hay lây, tôi cũng nhủng nhiểu cái trống vắng của ông, mặc dù hai chúng tôi chưa già nhưng không còn trẻ nữa.

Bóng chiều đậu trên chậu kiểng đặt ở góc nhà ánh lên màu vàng nhợt nhạt, ngọn gió nồm từ bờ sông thổi vọng lên vơi đi nỗi buồn lặng lẽ.

   "Hai cha con tôi đến nhà trọ ở gần chợ Tân Định, đến buổi ăn trưa, vào quàn xập xòe ở lều chợ kêu hai tô phở, một chai bia Sài Gòn. Ông có biết họ tính bao nhiêu không. Một trăm năm mươi ngàn đồng, tôi trả tiền mà ruột gan cứ nóng bừng bừng".

Vẻ mặt ông giản ra, vui vui. Tôi “đế “  một câu.

  "Thấy vẻ ngờ nghệch, dáng dấp nhà quê của cha con ông, họ chặt đẹp đó mà"

  "Lối ẩm thực mỗi vùng miền mỗi khác, mình không dám lạm bàn, nhưng giá cả thì chênh lệch quá rõ, như tô cháo lòng bà Thạch ở quê mình chỉ năm ngàn, nếu ở Sài Gòn giá phải mười ngàn. Không đâu bằng ở quê mình, thức ăn bao giờ cũng ngon và rẻ".

   Lên thành phố lần này ông choáng ngợp cảnh phồn hoa đô hội. Cái gì cũng lạ lẫm, nhìn vào đâu cũng  tò mò thú vị. Người cùng thời với mình mà như tưởng lạc vào hành tinh xa lạ nào đó. Phố xá rộn ràng với bao sắc màu, người và xa, xe và người mườm mượp . Ông đi dạo, đường sá rối như mạng nhện nên khong dám băng qua các ngã rẽ vì sợ va quẹt, nên ông cứ thẳng đường Hai Bà Trưng mà tới bến cảng. Nhìn những con tàu đồ sộ, ca bin tàu sang trọng như những nhà cao tầng chồng khít lên nhau, bóng đèn vàng xanh luôn nhấp nháy trông vui mắt. Gió từ lòng sông thổi vọng lên mát rười rượi, lòng thanh thản dễ chịu như được hít thở không khí dòng sông quê nhà. Lúc trở về hơi mõi, ông ghé công viên Lê Văn Tám ngồi trên ghế đá nhìn dòng người qua lại, ông cố căng mắt tìm người quen, gặp người đồng hương trong hoàn cảnh này thì thật là thú vị. Nhưng ông lại cười thầm, thật ngớ ngẩn, Sài Gòn muôn vạn người dễ gì có được mấy dịp may. Vài cô có tuổi bằng con gái ông nhỏng nhảnh đi qua đi lại trước mặt hé đôi môi mọng nước mà cười mím chi, tỏ ý muốn rủ rê ông làm chuyện bậy bạ. Ông nhìn qua góc sáng có đôi trai gái ôm ghì lấy nhau. Như mắc cở với chính mình, ông vội rời khỏi cái bóng đêm chập choạng ấy, nơi không để cho tạng người như ông.

Một gã cởi Dream2 trờ tới

   "Bác về đâu?"

   "Tôi không đi xe, nhà gần đây thôi". Ông chỉ tay về hướng chợ Tân Định.

   "Gần mấy cháu cũng chở, cháu phục vụ bác về tận nhà"

    "Đã bảo tôi không đi xe mà lại".  Ông lắc đầu với giọng cáu kỉnh. Ông thả bộ dọc theo vĩa hè. Gã lái xe nhì nhằng với ông một đoạn khá xa, chừng như chẳng được xơ múi gì, gã lên xe rú ga, bỏ lại sau lưng dúm khói và câu nói chẳng lọt tai tí nào

  "Lão khùng!"

Ông lửng thửng đếm từng ngôi nhà cao tầng thấp tầng ngút ngát. Thế cũng gọi là đã biết Sài Gòn, Sài Gòn trong ông chỉ vỏn vẹn mỗi một con đường mà đi không hết.

 

*****

 

    Ông Tư xuất thân trong một gia đình có máu mặt ở làng tôi. Cha ông là xã trưởng dưới thời Ngô Đình Diệm. Tôi còn nhớ khi cha ông đi làm thường cỡi chiếc xe mô by lết sang trọng. Cứ mỗi chiều lũ chúng tôi chờ ông ở đầu làng, khi nghe tiếng xe bình bịch thoáng qua là cả bọn chạy ào ra đường hít lấy hít để làn khói xanh mỏng mảnh rồi ré lên:  "Thơm quá xá là thơm!"

Với lũ chúng tôi, cha con ông như ở cõi nào xa vợi, rất cách biệt với những con người chân đất. Ông là một con người điển hình thời tây ta lẫn lộn, ngày làm việc bình thường ông mặc bộ côm lê, cà vạt, đôi giày tây đen bóng. Những ngày lễ hay vào dịp tết, ông diện áo dài the, khăn đóng, quần lãnh trắng của nhà nho cổ kính.

Khu nhà ông tọa lạc ở cuối làng, trong khoảng đất rộng được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai, vườn trồng nhiều cây kiểng, có hòn non bộ hình bán nguyệt, có nhiều loại chim quý như một công viên nho nhỏ. Lũ chúng tôi rất thích khu vườn ấy nhưng chỉ biết nhìn từ xa. Nếu có dịp được vào nhà, nhìn hai con chó bẹc giê là đủ sợ muốn đái ra quần.

Nhưng sự đời luôn có cái bất ngờ thú vị. Cậu ấm Tư đem lòng yêu cô thanh, con gái lão lái đò ở đầu làng. Cái tin đó làm xôn xao làng xã, làm hụt hẩng những chàng trai thầm yêu trộm nhớ, rắp ranh bắn sẻ nhưng chưa kịp ngỏ lời. Nhưng với ông xã, nó như tiếng sấm rền giữa bầu trời quang đãng.

Nhìn cô Thanh chèo đò ai cũng khen là đẹp, ẩn trong cô cái duyên lặng thầm của cô gái vùng sông nước. Làn da nâu nâu bánh mật, dáng thon thả non tơ in xuống dòng sông xanh hòa quyện cùng rặng dừa nghiêng soi bóng nước, như một bức tranh thiên nhiên thủy mặc,  lung linh màu ánh bạc.

Con đò là môi giới cho mối tình đầu cậu ấm, dòng sông đã bao lần chứng giám lời thề nguyền chung thủy sắc son cho đôi tình nhân. Và những đêm trăng huyền ảo, ai có thể cấm cản chàng Tư thay thế ông già, hai người giăng lưới trên dòng sông vắng, tiếng lao xao của mái dầm vỗ về sóng nước nhập nhòa trong tiếng thì thầm hạnh phúc lứa đôi.

   Nhưng cuộc tình này không được dài lâu.Với địa vị của ông xã và cậu quý tử vùng nông thôn có thể nào sánh duyên cùng cô lái đò, một gã mò tôm bắt ốc ven sông sui gia sao được với con người có thế lực, giàu có như ông xã. Cơn thịnh nộ xảy ra âm thầm nhưng quyết liệt ngay tại nhà ông và phần thua thiệt bao giờ cũng thuộc về kẻ thấp cổ bé miệng. Cái thân dềnh dàng hộ pháp như muốn ăn tươi nuốt sống cái bóng gầy gò tiều tụy của gã lái đò, sự mặc cả xảy ra chóng vách, êm xuôi như câu chuyện tầm phào nào đó.

  "Ông cầm số tiền và đi biệt khỏi xứ này, ngay ngày mai. Nếu còn gặp cha con ông ngày nào thì đừng trách ta là độc ác!”

Lời nói của ông xã trưởng đố ai dám cải. Nếu có trái lời ông phết cho tội danh "Việt Cộng nằm vùng" thì cha con ông hết con đường sống!

Từ ngày đó, dòng sông quê tôi vắng bóng cô lái đò yểu điệu nết na, mái dầm khua nước như lạc điệu với con đò. Vầng trăng còn đó, còn mãi sáng soi trong ngần ấnh nước. Sông trăng còn đó, con đò còn đó, nó còn  có đôi có bạn với bến. Duy có một người cô đơn, cứ mỗi mùa trăng laị thầm lặng nhìn con nước, thả nỗi buòn trôi đi đâu, về đâu!

  Bẳng đi một thời gian dài, chàng Tư si tình vắng bóng với con đò, với dòng sông quê cũ. Người trong làng bán tín bán nghi
về lời phao truyền của ông xã rằng chàng Tư vào Sài Gòn lập nghiệp, nhưng lại có tiếng xì xầm rằng cậu ta trốn theo cô Thanh "nhảy núi".

    Dòng đời cứ trôi,chuyện cũ dần quên. Bao biến cố lịch sữ như con lũ cuốn trôi mọi trật tự xã hội, đảo lộn mọi định kiến lâu đời của làng quê xưa. Cậu ấm Tư thời vàng son theo người yêu lên rừng tham gia kháng chiến, chàng yêu nước bằng tất cả trái tim yêu, có gian khổ nhưng chàng hạnh phúc, thứ hạnh phúc đơn sơ ngập tràn ánh nắng. Nhưng cuộc chiến ngày càng khốc liệt không cho phép chàng có nhiều thì giờ để mà mơ mộng, tự do xây đắp tổ uyên ương. Trong chiến tranh ác liệt đó, chàng Tư bị bắt hay đã đầu hàng, nhưng dù gì đi nữa chàng vẫn bị đày ra Côn Đảo. Ở đó, chàng đã bày tỏ thiện chí của mình, nhưng thế nào đi nữa thì tổ chức vẫn quy cho chàng đã phản bội lại lý tưởng của mình, một kẻ bán rẽ đồng đội trong trận càn hôm đó.

   Trung đội lính bảo an ở thị trấn tràn xuống làng tôi, bao vây hầm bí mật theo sự chỉ huy của  trung úy đồn trưởng, gã chắc mẩm sẽ tóm được mẻ cá lớn nên đã bố trí trận đánh thật bài bản, theo kinh điển mà gã đã học ở phương tây. Theo mật báo, hầm bí mật có năm người, cán bộ cấp huyện hoặc cao hơn. Đầu tiên gã dùng chiêu bài tuyên truyền, loa phóng thanh mở âm tần hết cở, lời hoa mỹ tuôn tràn như gió mây, bài bản tâm lý chiến: ”Hỡi cán binh cộng sản, các bạn hãy quay về với chính nghĩa quốc gia, chính phủ sẽ khoan hồng những sai đường lạc lối của các bạn. Về với chính nghĩa quốc gia, các bạn sẽ có dịp di thăm nước Huê Kỳ hùng mạnh. “Mỹ thua Mỹ về nước, binh sỹ thua binh sỹ về đâu?” Khi những lời hoa mỹ gần cạn lại được tiếp sức bằng bài hát não nùng. Nửa đêm nhớ anh, buồn thương xé nát con tim, hoặc những  bài hát  roch rap, giật gân do Hùng Cường và Mai Lệ Huyền thể hiện. ”Đừng chê anh lính đám cưới nhà binh em ơi, em sẽ là cô dâu đẹp tuyệt vời.. “  Thời gian cứ trôi, âm thanh cuồng nộ cứ sâm sả nhưng tình hình vẫn chưa chuyển biến theo hướng tích cực. Hầm bí mật vẫn im lìm, bí mật trùm lên bí mật. Nôn nóng, gã hét to trong loa: ”Đù mẹ, bắt sống bọn chó đó, đừng để tên nào chạy thoát. Chống cự, bắn!”

 Cả trung đội tiến sát gần miệng hầm, có người nằm dí sát mặt đất, bò như con lươn. Họ phát hiện ra lỗ thông hơi và ném lựu đạn cay xuống đó, cố bắt sống cho bằng được bọn họ. Nắp hầm bật tung, một bóng người phóng ra, thấp thoáng. Có tiếng la to : ”Lựu đạn ,anh em ơi, lựu đạn!”.Một tiếng bịch liền sau  nhưng đó không phải là tiếng nổ.Trái lựu đạn bị tịt ngòi, nó ẩm mốc hoặc do quýnh quáng nên anh cán bộ quên rút khóa an toàn. Một loạt đạn quét ngang cái bóng đó, cái bóng ngã quỵ nhưng cố lết về bụi gai xương rồng. Căn hầm bí mật đã bật mí, nó trống huơ trống hoác, từ trên nhìn xuống một màu tối ôm, cả trung đội chưa có người nào dám mò tới. Con hổ bị què nhưng vẫn là con hổ, cái nanh vuốt trong trí tưởng tượng mới đáng sợ làm sao!

 Sóng đã yên, biển đã lặng. Thật rủi cho anh du kích, cái rủi có trong truyền thuyết Trọng Thủy-Mỵ Châu, cái lông ngổng của nàng Mỵ Châu mới tai ác, nó là điểm kết thúc câu chuyện tình lãng mạn. Vết máu của anh, anh không muốn tí nào nhưng nó vẫn cứ vương vải, là điểm báo dừng cho cuộc đời anh trên cõi đời này!

 Bọn họ lôi anh ra khỏi bụi xương rồng, mình bê bất máu, trói gô bên gốc cây nhản. Anh kiêu hảnh nhìn mọi người, nhìn trời đất, nhìn mây trôi và gió phất phơ tà áo. Ôi! Trên trái đất này, gió mới hào phóng làm sao, gió mơn man da thịt, gió thổi vào tâm hồn anh nhịp đời phơi phới tuổi xuân. Anh hai mươi tuổi đời, đã trôi qua bao mùa bão tố, bao nhiêu trận gió nồm nam thổi ngược, mà đôi lúc anh hờ hửng với gió biết bao nhiêu. Khi người ta đói, hạt cơm là hạt ngọc, anh từ dưới đất móc lên, gió là vật quý của đời riêng tặng cho anh. Anh mãi mê tận hưởng gió, hít căng nó vào lồng ngực mà quên có viên trung úy quét ánh mắt dao cạo nhìn anh.

 -Năm đồng chí cở bự của mày ở đâu?

 -Không biết.

 -Mày du kích hay bộ đội chủ lực?

 -Liên lạc viên.

 -Mày mấy tuổi đảng.

 -Chưa vào đảng.

 -Quê mày ở đâu?

 -Gò Nhản.

 Suốt buổi sáng, cả trung đội sục sạo hết hang cùng ngõ hẻm để tìm năm đồng chí cở bự nhưng bí mật vẫn hoàn bí mật, có hoặc không thì chỉ có trời biết, đất biết  và anh du kích kia biết, Anh du kích vẫn câm như hến.

 Anh du kích dõng dạc hô to:”Đả đảo Đế Quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước ..!” khẩu hiệu được anh hô đến ba lần. Tiếng hô vừa dứt thì thân anh cũng vừa ngã xuống, vết máu loang vùng bụng, ngực và còn đọng thành vũng trên bãi cát xóm Bến Đò Xứ.

   Làng tôi trở thành vùng trắng. Ban ngày, lính từ thị trấn tràn xuống. Ban đêm, nó trở thành đất thiêng cho những du kích địa phương, họ quy tập những thằng Dzô, thằng Dza, những đứa trẻ hỉ mũi chưa sạch, vát súng trường bằng cái thân còm, ham vui mà chạy theo  đơn vị bộ đội chủ lực từ miền Bắc vào ém quân. Người dân  kẻ chết người còn. Kẻ sống tản cư tứ tản mọi nơi, tìm chốn yên tĩnh, đến những nơi  mà ngày trước gọi là vùng bị  tạm chiếm, mà trú thân. Người đến Qui Nhơn, Vũng Tàu hay Sài Gòn để lánh nạn.

 

 

*****

 

 

   30/4/1975 ông Tư được tự do, hai vợ chồng đùm túm nhau về quê cũ. Mảnh đất có hình bán nguyệt, có vườn cây kiểng của một thời ông bước những bước chân chập chững đầu tiên. Bây giờ nó là trụ sở của HTX nông nghiệp.

    Hàng ngàn mét vuông đất, ao hồ di sản có được từ thời cụ cố,  nói là ông hiến tặng cho Hợp Tác Xã, nhưng thực tế họ cho rằng đất đai này do bọn địa chủ bóc lột mà có, đó là xương máu của nhân dân, là sở hữu của toàn dân, ông không hiến thì họ cũng trưng dụng. Ông hiến tặng cho HTX, mong muốn một mô hình mới trên quê hương. Nhưng sự đời chưa dến độ chín nên không suôn sẻ, HTX từng bước đi lên sự phá sản, đất đai được chuyền từ tay người này sang kẻ khác, bọn trọc phú phất lên từ quỹ đất.

Tên cúng cơm của ông là Ngu, ông có người em trai tên Tu, một cán bộ cấp cao của chính quyền Sài Gòn. Những tên này do cụ nội, cụ cử nhiều chữ đã lựa trông bồ chữ của mình để đặt tên cho các cháu yêu. Ngụ ý thâm trầm của cụ để bây giờ người ta nghĩ chệch đi!

  Bây giờ ông theo nghề cũ của bà Thanh của mươi năm về trước. Trong những đêm trăng thanh vắng, trăng của mùa gọi cá, tình yêu tuổi già lại phập phồng trong lồng ngực. Đôi lúc buồn chán ông học đòi làm người Hiền, học cách sống bi hùng của Khuất Nguyên xỏa tóc bên bờ sông Mịch La mà cay cú với đời. Nhưng dòng sông quê ông nó như sợi chỉ trong lòng bàn tay khó dìm ông chết được nên cứ sống. Và đêm đêm,chiếc thuyền nan, dăm ba tấm lưới sông mỏng mảnh,tiếng cắc cụp cắc cụp xua đàn cá chạy năm nảo năm nào lại vang lên từ đầu hôm đến sương mai còn bảng lảng.

 

*****

    Con gái ông có tham vọng được vào làm việc ở Sài Gòn, lúc đó cô có điều kiện chăm sóc tuổi già ông. Nhưng cô có hiểu cho ông,quê hương này có bao nhiêu vị ngọt bùi cay đắng cứ âm thầm chảy trong tận cùng huyết quản, cái đòn gánh miền trung còn bao nhiêu điều khốn khó, mùa nắng ngọn nam lào thổi như muối xát vào da,mùa mưa bão tố mịt mùng. Dù vậy, ông không thể nào dứt bỏ mảnh đất này mà đi được. Lũ trẻ bấy giờ cũng giống như ông xưa, xông xáo trên mọi nẻo đường gió bụi, rồi một lúc nào đó, chợt nghĩ về quê xưa, lối cũ tìm về.

Những buổi chiều rảnh rỗi, hai chúng tôi khề khà bên chén trà đậm, hoặc cao hứng có món nào tươi, ông Tư cùng tôi nhâm nhi, sưởi ấm nhau bằng hương vị quê nhà .

 

NGUYỄN THANH SƠN

Bến Đò Xứ 2002-2019

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Tám 201910:22 SA(Xem: 1333)
Trước năm 1996, nhiều người tin rằng Petrus Key chỉ bắt đầu làm thông ngôn cho Pháp từ ngày 20/12/1860. Lá thư đến tay Trung tá Jauréguiberry vào đầu tháng 4/1859 và một số tư liệu khác do chúng tôi phát hiện trong dịp làm việc tại Văn Khố Hải Quân Pháp tại Chateaux de Vincennes năm 1996 không những phủ nhận niềm tin này mà còn khiến chúng ta phải xét lại đoạn đời “tham chánh” của Petrus Key dưới một ánh sáng khác.
19 Tháng Tám 20193:54 CH(Xem: 1379)
Tôi đứng một mình bên cửa sổ. Đêm lặng. Ngọn đèn hành lang rọi xuống chậu cây chi mai đang nở hoa trắng, tạo thành một quầng sáng đơn độc. Tôi vốn có thói quen đọc sách khuya. Những lúc đêm khuya thanh vắng, khi người đời đã chìm trong mộng mị, là lúc tôi thả hồn mình lang thang với những con chữ. Đọc đến một lúc nào đấy, cảm thấy đầu mình u mê, tôi hay tới bên cửa sổ, đứng khoanh tay nhìn ra ngoài hiên. Tôi thường hay nhìn một cách vô định vào bóng cây sấu già đang chập chờn cô đơn khua lá. Như là một phép dưỡng sinh cho mắt. Từ hôm có chậu chi mai thì hồn tôi trút cả vào chậu cây nhỏ xinh đang nở hoa trắng xoá. Tôi say mê ngắm. Tôi đang mê đắm vẻ đẹp của một loài hoa đã từng được bao thi nhân từ cổ chí kim ca tụng…
16 Tháng Tám 201910:07 CH(Xem: 1441)
Gần 5 năm mới nhận được tác phẩm thứ hai của Nguyễn Trung. Truyện của ông rất đặc biệt, với lối hành văn cuốn hút, mạch truyện chuyển đổi gọn nhanh như những đoạn phim ngắn. Không khí truyện huyền ảo nhưng rất gần với xã hội chúng ta đang sống. Mời quý độc giả và văn hữu cùng vào không gian truyện “Rắn xanh chấm đỏ” của nhà văn Nguyễn Trung. Tạp Chí Hợp Lưu
16 Tháng Tám 20192:09 CH(Xem: 1231)
Làm sao mà anh biết / Em như loài cỏ may / Giọt ân tình len lỏi / Yêu thương ngụm trả vay /
15 Tháng Tám 20196:00 CH(Xem: 1161)
Hiểu nỗi buồn của em nên anh không gặng hỏi / anh muốn mang mùa thu về trên vai em / em đừng khóc vì ai nữa nhé / chỉ khóc vì anh và những lúc có anh thôi.
14 Tháng Tám 20199:09 CH(Xem: 1756)
Mẹ tôi có tính tiết kiệm, ăn uống lúc nào cũng nhường món ngon cho chồng cho con ăn. Khi ba tôi mất, quần áo mới mẹ cứ cất tủ cho đến khi mất còn mới tinh, có cái mẹ chưa mặc. Tôi bây giờ y chang như mẹ, lâu rồi tôi cứ nghĩ rằng mình không có chồng có con nên đâu cần chưng diện làm gì. Con gái tôi thương mẹ nên nó sắm cho mẹ toàn bộ quần áo, son phấn... Tôi đơn giản không phấn son chưng diện... Nên đến hôm tôi dọn nhà tôi lôi ra đồ mới còn quá nhiều, áo quần đẹp, cả đồ lót phụ nữ còn nguyên lố lố mới kít. Tôi không thể mang hết vào SG nên tôi cho từ thiện hết toàn bộ. Tôi liên tưởng đến mẹ. Nếu tôi chết, con tôi nó sẽ chôn hết đống đồ này theo tôi như mẹ.
13 Tháng Tám 201910:32 CH(Xem: 1025)
Nhiều lúc con mong đêm dài ra mãi / Vì bóng đêm dịu dàng như tiếng Má hát ru / Con sợ lắm khi bình mình ló dạng / Là một ngày mới bắt đầu với đầy những bất an / Như chim non bay trong cơn giông bão / Con lao đao một mình / Chỉ một mình con...
13 Tháng Tám 201910:08 CH(Xem: 1069)
Chiếc xe thổ mộ chở hoàng hôn tím sẫm trôi vào lô nhô đồi trắng / Liễu dương ứa máu bơ vơ / Ngọn gió hồng hoang lồng lộng thổi về rưng rưng lạnh / Người đánh xe quất ngọn roi thinh không não nùng buông tiếng ca
12 Tháng Tám 20198:47 CH(Xem: 1228)
Rồi cũng đến mùa thu / gió nhẹ nhàng gọi lá / em về miền đất lạ / mùa thu bỗng bâng khuâng...
10 Tháng Tám 20197:07 CH(Xem: 1374)
Anh vừa ra được tập thơ. Tiền đi vay, lãi suất năm phần trăm. Trên đời này, hiện giờ không có gì rẻ hơn thơ và khốn khổ như nhà thơ phải ôm sách của mình đi bán lẻ. Khi đưa bản thảo cho nhà xuất bản, anh nghĩ, việc giải quyết "đầu ra" sẽ tính sau, trước mắt làm sao có được sách đã. Đến khi cầm tám trăm cuốn Đối thoại với dòng sông trong tay anh mới thật sự hiểu thế nào là kinh tế thị trường. Anh nhẫn nhục mang thơ đi phát hành. Bán khắp mọi nơi, bán cả ở những chỗ người ta nhiều tiền nhưng không hiểu thơ và chẳng cần thơ. Cái năm phần trăm của bảy triệu hàng tháng thúc bách anh. Tại một trường phổ thông trung học, khi anh nhờ mua giúp hai chục cuốn, ông hiệu trưởng lật xem qua rồi bảo :" Chúng tôi sẽ vận động các em mua". Ba tuần sau, anh trở lại, ông hiệu trưởng khả kính mang ra chồng sách phủ dầy bụi, nói như người có lỗi :" Ông thông cảm, học sinh bây giờ không thích thơ