- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,468

NGÂU

19 Tháng Mười Hai 20189:44 CH(Xem: 10036)


Tuong - ảnh Nguyen Hoang Nam
Tượng - ảnh Nguyễn Hoàng Nam

Bắt đầu những ngày mưa rã rích, hay chỉ là lớt phớt ẩm ướt, giữa màu trời xám chì sũng nước, là khoảng thời gian chộn rộn nhất.

Của tháng 7.

Của mùa ngâu.

Không kể người lớn bận rộn, con nít cũng tíu tít. Bắt đầu từ mùng 5 tháng 7, đã nghe theo hơi mưa mà hối hả trông ngâu về.

 

Đi học về, chưa kịp tụt quai giày sandal, đã túm vội tóc loe hoe đuôi gà, chạy tót vào bếp. Từ đó bốc lên mùi thơm của cháo hoa, cùa xôi vò, của gà luộc, của đậu phộng nấu, của khoai lùi, của mè rang, của bắp ngô non luộc chín tới, của củ mì hấp dừa, rồi kẹo lạc, kẹo gừng, cốm ngào đường trộn gừng xắc lát, nào chuối luộc, nào mía cây, nào cóc chín, ... trăm thứ quà bánh thường ngày của trẻ em, nay ngập tràn trên mâm, trên khay, trên bàn, vừa chỉnh chu, nghiêm túc, vừa nho nhỏ, vui rộn, đầy màu sắc như trò chơi trẻ con. Gà thì ngậm hoa hồng, hoa thọ vào mỏ, Xôi nếp thì nắm chim chim thôi, càng nhỏ, càng vừa khéo trong lòng bàn tay, mà là bàn tay trẻ con càng tốt. Cháo hoa thì nấu thật loãng lênh, chỉ thấy gạo tẻ nở bung như hoa trắng, lục sục sôi trên bếp than đỏ hầm, rồi múc ra chỉ một muôi vừa đầy gọn trong chiếc lá đa, rồi lá đa cháo lúp xúp bày biện ra khắp các gốc cây, bụi bờ quanh nhà, nơi những linh hồn cô đơn vật vờ từ đầu tháng 7 đã đi lang thang ngóng chờ cháo thí.

 

Thì chỉ có thế, bà nói cô hồn là đấy, không nơi nương tựa, không ai cúng giỗ, quanh nặm đói khát, chỉ chực chờ một mùa ngâu khi Qủy môn quan mở rộng cửa thì túa bay lên chốn dương trần " Sống thì nhờ miếng cơm, tấm áo. Thác lại nhờ hớp cháo lá đa”.

 

Với lũ trẻ nít, thì đâu chỉ có thế, lại phải hì hục, mắm môi, vùi đầu vào cắt, dán, vẽ, chồng giấy tiền, vàng mã, áo xống, cái nào cũng nho nhỏ như đồ trẻ chơi, cái nào cũng đơn giản, cổ tròn, vạt ngắn, ống quần vừa xắn, vừa loe, màu thì chỉ vàng hoặc xám. Áo quần cho thập loại chúng sinh nên không cần cầu kỳ lòe loẹt làm gì, cũng không cần đủ kiểu cọ lệ bộ, chỉ càng nhiều càng tốt, càng đông càng tốt. Mà phải cẩn thận nhé, cắt xếp ra từng bộ, không để nhàu nhỉ, không để rách, cũng không rúm ró. Cả năm cô hồn chỉ có nhận được một bộ áo quần lành lặn, không thể cẩu thả mà được.

 

Mẹ nói làm chi cũng phải để cả tấm lòng vào đó. Dù là ngày "Ông thần tha ma, chủ nhà tha thợ cấy", thì cũng phải tùng tiệm mà tinh tươm.

 

Sau cùng, chiếc lò đốt vàng mã cũng được khuân ra, thân lò thì vàng chóe mà lại ám khói xám đen, miệng lò loe rộng ra cho dễ nuốt giấy tiền, mà lại thông được khói un và lửa xém. Mâm cúng cũng được bày biện ngoài sân vườn. Cổng vườn thì khép hờ, vừa phải, chỉ cho trẻ con đang lấp ló xếp hàng mắt liếc mày la lém nhìn qua gai rào, thấy được 3 mâm đồ ăn tú hụ, sắp xếp không lớp lang thứ tự ngổn ngang, tràn lan mà đầy ắm mùi thơm màu sắc. Nhà khá mới có thể cúng thí thực được như thế.

 

Chỉ việc trông chừng trẻ em cướp mâm thôi cũng có việc cho lũ trẻ con trong nhà nơm nớp bồn chồn. Có lúc nhang vừa được cắm trong bát muối gạo, chưa kịp bắt gió hanh hao mà cháy đều, thì cửa rào đã đổ sập. Lũ trẻ ngoài rào ùa vào, trong tích tắc, 3 mâm đã rào rào tuôn vào bị cói hay nhanh tay thì đứa to con bậm trợn nhất đám đã khuân trọn mâm chạy mất biến, rồi sau đó len lén trả lại mâm không chỏng chơ ngoài bờ rào vào buổi chiều. Cúng cô hồn là thế, có bực mấy cũng phải đứng chịu nhìn mà cười trừ thôi.

 

Vậy mà vui, chỉ sợ nhất những ngày mưa tháng 7 buồn rã rích, mâm cúng để chỏng chơ từ giờ trưa đến xế chiều, rồi phải mang ra gốc đa mà để bỏ, hoặc chia từng túi nhỏ mang đi cho, vì tục lệ thức ăn cúng thí thực thì phải tán lộc, chẳng ai mang lại vào nhà. Những năm đó là năm ma buồn, bà chắt lưỡi, ma cũng chẳng thèm tranh ăn. Những năm ma vui, chưa tàn nhang cúng, trẻ em đã hò reo giựt tung toe đến sập cổng rào, là năm ma no, ma hớn hở, thì người sẽ được an và yên. 

 

Thế là xong phần cúng thí thực, bà thì lên chùa, ba má hỉ hả đi nghỉ sớm. Chiều chạng vạng, Ngà ghé nhà, xoa đầu bé:

- Em đã cúng cô hồn rồi à? Thế có biết khấn vái đúng bài không? 

- Đúng bài là thế nào Ngà? 

- Là thế này, mời có bài có kệ hẳn hoi, cô hồn thập đại cúng sanh mới về chứng cho chứ:

 

"Cô hồn nam bắc đông tây

Trẻ già trai gái về đây họp đoàn

Dù rằng: chết uổng, chết oan

Chết vì nghiện hút chết tham làm giàu

Chết tai nạn, chết ốm đau

Chết đâm chết chém chết đánh nhau tiền tình

Chết bom đạn, chết đao binh

Chết vì chó dại, chết đuối, chết vì sinh sản giống nòi

Chết vì sét đánh giữa trời

Nay nghe tín chủ thỉnh mời

Lai lâm nhận hưởng mọi lời trước sau"

 

- Hay quá nhỉ? 

- Chiều nay có đi xem tuồng không? Còn nhiều thứ hay hơn nữa đấy!

 

Xem tuồng à? Đi ngay chứ! Năm nào sau rằm tháng Bảy mà chẳng có diễn tuồng.

Sân tuồng chỉ dựng dưới gốc cây đa, trong sân đình. Sân khấu chỉ tấm phông vải màn chăn ra sơ sài giữa hai cây tre làm cột. Nhưng phải đợi đêm trăng sáng, nếu trăng lu hay bị quầng, bị tán báo hiệu năm hạn hoặc năm mưa, sân khấu lại phải nhờ ánh đuốc củi cao su, hay thân tre lồ ô, cháy lép bép ra lửa ngọn, sau này có nến to, mới có thể diển được tuồng. 

 

Sau khi lũ con nít đã ngồi bẹp ra đầy cái sân gạch tàu, người lớn thì lố nhố phía sau, trên ghế đẩu, hoặc ghế xếp, trên tay còn cầm theo quạt mo, quạt nan phe phẩy, gặp phải mưa lâm thâm rỉ rả, thì còn có thể che được đầu, thì tuồng bắt đầu mở màn.

 

Sau lớp phông màn trắng, hai hình nhân khệnh khạng chống tay vào hông đi ra, chiếc bóng lúc to lúc nhỏ, lúc nghiêng ngã, lúc thẳng tắp, oai vệ ca lời mở đầu:

 

" Tiết tháng 7 sắp thu phân

Ngày rằm xá tội vong nhân hải hà

Âm cung mở cửa ngục ra

Vong linh không cửa không nhà..."

 

 

Thường khi ca đến đây, cỏ cây nghiêng ngã, gió heo may đâu rẻo rúc xòa qua rặng đa, trút một bầu hơi nước ẫm rượt vào không gian, nghe vừa lành lạnh, vừa gây gây, tưởng như đâu trong hơi ẩm mờ mịt ấy, có cả hàng vạn đoàn người rũ rượi, rách rưới, lang thang, vật vờ cùng về trên ngọn cây mà lặng ngồi nghe câu hát.

 

Vở mở màn bao giờ cũng là tích đức Mục Kiền Liên đem cơm xuống tận Qủy Môn quan dâng mẹ là bà Thanh đề. Bao giờ cũng thế, khi hình nộm chiếc bóng của bà Thanh đề đưa bát cơm lên tận miệng, là lúc lửa đỏ từ ngọn đuốc lồ ô xóe tới phụt ra từ trong miệng bà Thanh đề, sáng lóa cả màn hình, mọi người nhau nhau ồ lên, chen tiếng thở dài thương xót. Rồi sau đó cả bầy Ngạ quỷ hình thù nhăn nheo, xộc xệch bắt đầu ùa ra nhảy múa loạn xạ trên màn vải trắng, lôi xềnh xệch hình nhân vẹo vọ của bà Thanh đề vào trong vạc dầu, lũ con nít thét lên bấu vào nhau, vừa sợ hãi, vừa thích thú. Cũng là lúc tiếng kinh kệ, gõ mõ trầm đục loang đầy trong không gian báo hiệu tuồng tích mở đầu cho lễ Vu lan kết thúc.

 

Em thích sự tích thứ hai hơn. Dù năm nào cũng chỉ có ngần ấy tuồng bóng, chỉ có hai vở ruột, đến trẻ con cũng thuộc nằm lòng. Nhưng bao giờ mọi người cũng mong đợi đến vở thứ hai, tuồng "Chuyện Ngưu Lang Chức Nữ" mà em chỉ quen gọi "Ông Ngâu bà Ngâu" để mà được sụt sùi, bỗi hỗi.

 

Bỗi hỗi từ cảnh đầu khi chàng Ngưu cưỡi trâu thong thả lững thững đi ra từ bên trái màn hình, trên tay là ống tiêu bằng trúc thổi vang lừng khúc nhạc ngọt ngào tiêu nhã, cho đến lúc Nàng Chức nữ nghiêng nghiêng bên khung lụa, mái tóc dài đen mướt thả chảy trôi một dòng. Sụt sùi từ lúc hai hình ảnh đó trên sân khấu bị tách ra, đẩy dần đến cuối mép của màn lụa trắng, mà bốn bàn tay chới với đặc tả không thể rời nhau, cho đến khi mưa rĩ rã trút xuống khắp dãy Ngân hà. Cả đến lúc hai người từ từ lướt qua chiếc cầu Ô thước, do bầy chim quạ trọc đầu, nhau nhau ngóc mõ bắt thành cầu, gặp nhau rồi, ôm nhau trong vòng tay của nhau rồi mà khán giả bên dưới vẫn chưa nguôi cơn sụt sùi nức nở.

 

"Sông Ngân nước chảy hững hờ 

Ngưu Lang ngồi khóc bên bờ sông Ngân 

Một nǎm gặp được mấy lần! 

Anh khổ vô ngần Chức Nữ em ơi! "

 

 

Có hôm em vừa quẹt mắt lấm lem, vừa chùi ra sau màn sân khấu, để xem cảnh ông Ngâu và bà Ngâu gặp nhau thật như thế nào, thì bắt gặp anh Ngà và chị Nguyệt, hai người hai tay cầm một hình nhân ông Ngâu, bà Ngâu, xáp vào nhau giơ lên cao trên màn hình, bên dưới hai người mãi miết chúi đầu cắn vào môi nhau.

 

Lúc đó em đã ù té chạy. Và từ đó về sau không bao giờ thích xem tuồng ngày rằm Vu Lan nữa.

 

Sau ngày bà em mất, cả nhà dọn lên Sài gòn lập nghiệp, không còn có dịp về lại quê. Nghe đâu anh Ngà chị Nguyệt cuối cùng chẳng thành đôi, chị Nguyệt lên thành phố làm người ở, thế nào lại lấy ngay ông chủ nhà. Anh Ngà đi làm thợ hồ, vẫn sống độc thân có ý chờ chị Nguyệt cho đến ngày anh ấy bị lao phổi mà chết cô đơn.

 

Mỗi ngày rằm tháng Bảy, ở thành phố không còn ai cúng cô hồn đình đám như xưa. Nhưng dù thế nào chiều chạng vạng, em vẫn một mình lén chui vào buồng ngủ, mở cửa sổ, đứng sau chấn song, cầm hai con hình nhân ông Ngâu, Bà Ngâu xưa đưa lên cao, cho 2 người xáp vào nhau giữa khi mưa trời tuôn ngoài kia rấm rứt, dào dạt. 

 

Mỗi năm chỉ có 1 lần, phải cho hai người gặp nhau, anh Ngà nhỉ?

 

"Sông Ngân nước chảy hững hờ 

Ngưu Lang ngồi khóc bên bờ sông Ngân"  

 

 

 Uyên Lê

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 972)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1061)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1766)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5785)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5772)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13142)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29983)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81083)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20209)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 229)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”