- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,290,361

THƠ VÀ THI SĨ

12 Tháng Mười Một 20187:44 CH(Xem: 2494)


Chandung_PTBinh-bw
Chân dung nhà thơ Phan Thanh Bình - 2018


LTS: Lầu đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Nhà thơ Phan Thanh Bình sinh năm 1973 tại Hải Dương Có thơ đăng báo tại quê nhà Bình Thuận từ năm 1990. Hội viên Hội VHNT Bình Thuận năm 1992 (bút danh Thy Sinh). Hội viên Hội nhà văn TP.HCM năm 2017. Có thơ đăng ở các báo trong và ngoài nước.

Tác phẩm đã xuất bản:

  1. Phẳng & Nghiêng (thơ 2015)
  2. Chạm & Vuốt (thơ 2017)

Hiện sống và viết tại Sài Gòn.

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu một bài thơ xuôi đặc biệt của anh.

TẠP CHÍ HỢP LƯU


 

Socrates là nhà thơ

Platon cũng là nhà thơ

Arisotle đích thị là nhà thơ.

 

Những tâm hồn phiêu linh đi khắp bầu trời từ khi họ đến mặt đất này làm thơ và kể chuyện.

 

Newton yêu say đắm chính bà mẹ mình, viết bài thơ lực vạn vật hấp dẫn. Einstein cô độc giữa muôn trùng khi viết bài thơ về thế giới cong. Edison phải lòng ai đó đã làm ra bài thơ bóng đèn dây tóc.

 

(…)

 

Thích Ca Mâu Ni khai nhãn loài người bằng bài thơ luân hồi khiến chúng ta run rẩy vừa đi vừa sợ.

 

Jesus Christ chính là bài thơ khi Người chịu đóng đinh trên thập giá. Bài thơ buộc niềm tin phải hiện tồn.  

 

Họ là những nhà thơ dù họ chả viết một câu thơ nào

Trước sự lãng mạn của họ, chúng ta tự biến mình thành kẻ tu hành

Trước sự vị tha và ích kỷ của họ, chúng ta bảo nhau cầu nguyện.

 

Họ lãng mạn sứ giả. Chúng ta lãng mạn sinh tồn. Họ thuần khiết, chúng ta suồng sã?

 

Họ là bài thơ tôn kính. Còn chúng ta làm thơ cho nhau, an ủi nhau mà sống, chia sẻ nhau mà vui/buồn. Chúng ta mặc nhiên lấy cảm hứng từ họ làm trí tuệ của mình.

 

Tôi kính cẩn dâng các nhà thơ khai sáng đóa trữ tình nồng nàn trên mặt đất!

Làm tôi.

 

Cuộc lãng mạn sinh tồn.

Tôi viết cả trăm bài thơ nhưng bài nào cũng hỏng. Người đàn bà yêu tôi, em cũng đã ngoại tình.

 

Thơ ơi thơ! Tôi là nỗi buồn của mẹ, là thất vọng chán chường của em, là ái ngại của chính tôi khi chọn thơ cứu rỗi linh hồn.   

 

Nhìn vào cách làm thơ có thể vẽ đường hồi quy về thi sĩ. Kẻ yếu đuối chăm câu thơ bóng nhẫy. Kẻ thủ dâm lấy chữ làm bằng. Kẻ đốn mạt trấn lột từ phá lên cười hố hố.

 

Tín niệm là thứ mà thi sĩ bất tài lợi dụng, lừa bịp mình và phỉnh phờ người khác. Có tín niệm thiện tất có tín niệm ác. Thơ khởi sinh từ tín niệm chỉ là thứ phân non.

 

Sở trường âm tính quá dài đã làm hỏng văn chương. Hình như thơ đã hỏng lâu rồi, hỏng ngay từ thời Thơ Mới?

Thơ Mới chỉ gọi được nỗi buồn ra đếm.

 

Bài thơ hay là bài thơ nuôi dưỡng được tâm hồn tôi từ lúc còn trẻ đến già mà bài thơ vẫn đẹp.   

 

Thay vì định nghĩa thơ, tôi đi tìm thi sĩ

Thi sĩ va đập trong bối cảnh thơ như người trong cuộc. Ví dụ: “Này của Xuân Hương mới quệt rồi”. Tôi gọi là thi sĩ tham dự.

 

Thi sĩ lấy chữ thêu tranh, áp đáo ngôn từ tôi gọi là thi sĩ không tham dự.

 

Cuộc tham dự văn chương không có người đến sớm hay người đến muộn nhưng rất nhiều người đến cùng lúc thành ra cuộc ngộ sát.  

 

Kinh Bắc Hoàng Cầm, sim tím Hữu Loan, khúc độc hành Quang Dũng đưa tôi lên đỉnh núi, thả buông tôi ở đấy. Tôi không rơi mà tôi lơ lửng. Gió cào xước cơ thể tôi, quất vào tôi những lằn roi tím bầm rỉ máu. Nhưng kỳ diệu ở những lằn roi thơ là vết thương tự lành. 

 

Lê Đạt phu chữ cho thơ bằng xác hoa thiếu nữ môi hường. Tôi thèm uống nước sông, ông lại mời tôi nước cất. Ông giả say, tôi cũng giả say. Ông giả sống, tôi cũng giả sống. Phút cuối một đám tang tôi đã thấy, có chữ nào thì bóng ông chữ ấy.

 

Làng Chùa của Nguyễn Quang Thiều ràn rạt hơi đất phả hương đêm làm chúng ta kiệt sức mỗi ngày vào buổi sáng. Ông trao cho chúng ta văn bản thơ, nhưng ông vẫn cất đâu đó một văn bản thơ khác

Những hồi tưởng từ cánh đồng cào cấu giấc ngủ đô thị. Chúng ta nhường nhau hiến dâng nhưng lại tranh nhau cái chết.

 

Người đàn bà miền Nam gốc đước sợ múc cạn nỗi buồn. Vẫn múc …

Chị treo thơ lên cây đợi chim về ăn sáng. Chị treo ngược Nguyễn Thị Ánh Huỳnh giữa lưng chừng trời mà gọi. Càng gọi càng bơ vơ.

 

Khi con người nhân tính hơn và lũ thủ dâm thơ được chôn cùng với chữ (chắc phải sang phần sau thế kỷ này) thì người ta mới nhận ra Dư Thị Hoàn thật sự tan vỡ.

 

Tự đấm vào mặt tôi sau tuổi bốn mươi. Giá như đừng có thơ cho em, đừng đi tới mùa thu cùng người đàn bà với giò phong lan trong bản nhảm âm phẳng và nghiêng thì bây giờ tôi đã không nói bậy và sám hối mỗi ngày.

 

Thi sĩ. Kẻ phiến diện từ căn tính nên bài thơ toàn góc nhìn phiến diện.

 

Đi tìm bản thể con người là ý nguyện văn chương vừa đáng giận vừa đáng thương của thi sĩ. Bản thể con người nằm ở quá trình sáng tạo lại con người.

 

Sáng tạo lại con người! Hãy để thơ đẩy con người đến chỗ tự do nhất để con người thoát linh.

 

Con người thoát linh sẽ kể cho chúng ta nghe câu chuyện mà chúng ta chưa từng biết hoặc chúng ta không thể nào tượng tượng nổi. Tả cho chúng ta ghi chép về những tình cờ, bộc phát hoặc di trú của cuộc đời.

 

Văn chương hậu hiện đại suy cho cùng là văn chương phiến diện tuyệt đối.

 

Bài thơ càng phiến diện càng hứng thú như thể nó được viết ra để đọc một lần rồi biến mất hoặc hiện chìm trong bài thơ phiến diện khác.  

 

Mọi thứ đến rất nhanh, ra đi cũng rất nhanh. Tuyệt diệu như loại men dậy hết hương vị ngọt ngào trở thành độc tố.

 

Thi sĩ hậu hiện đại. Kẻ phiến diện toàn năng. Kẻ bước vào văn chương bằng câu chửi thề và bước ra khỏi đời sống bằng cách duy nhất là tự tử.

 

Người đàn bà yêu thơ thấm nỗi buồn trên từng đầu ngón tay. Cả bầy quạ chọn tóc nàng làm tổ. Những thớ thịt gồ ghề trên cơ thể nàng đã xác tín rằng nàng vừa lưu manh vừa mất nết.

 

Tôi thả đồng tiền cổ vào tách trà. Vị quân vương đoái tiếc máu xương. Ông cứ buồn vui, Tôi cũng buồn vui. Đồng tiền sủi tan ý nghĩ. Tôi nhắp giọt mồ hôi người trồng từ cánh đồng trà xanh ngát. 

 

Sinh ra không cô đơn, mỗi chúng ta được mười hai bà mụ cầm cho tiếng khóc. Nhưng cuộc đời đẩy chúng ta vào vực thẳm cô đơn, thiếu dưỡng khí để nuôi các giác quan. Chúng ta trở nên cầm chừng, chúng ta trở nên mực thước …. Cho đến ngày chúng ta chỉ còn là xác bay lơ lửng. Không thể chạm chân lên mặt đất.  

 

Tôi chọn em và thơ để sống mỗi ngày được nhiều hơn 24 tiếng.

 

Em đừng treo anh vắt vẻo lên câu thơ, bắt anh giữ thăng bằng cùng thời cuộc. Anh yêu mến đám đông nhưng đám đông trì níu anh đến chết.

 

Em chỉ đau ngón chân đã làm anh đau cả bàn tay phải. Những bờ huyền thuần khiết đã nhường nhịn em, những hờ lan mệt mỏi đã nhường nhịn em. Anh cũng nhường nhịn em dù anh không phải là người đàn ông tốt nhịn.

 

Cơn gió rừng tràn qua ngôi nhà chúng ta rơi lại những hạt mưa cậu bé và cô bé, chúng quấn quít lấy nhau, tìm nhau trao đổi chất. Rồi những hạt mưa chui vào trong thân cây, êm ái thọ linh ở đời sống khác.  

 

Lá bài cổ chợt hiện lên khung cửa sổ. Thiên thần hòa đồng cùng quỷ sứ. Vừa như gửi lời chúc an lành vừa như cảnh báo hiểm họa tình yêu sẽ khó lường nếu ai trong chúng ta rút phải sợi dây của quỷ.

 

Phiến diện anh, những phiến diện anh, như tiếng tù và lăn lan trên mặt hồ nước đọng, như tiếng chó tru tréo sủa người trong đêm xá tội.

 

Em có thể xếp những nguệch ngoạc anh tung tóe khắp nơi liền thành dải mã vạch, nhưng sẽ chẳng bao giờ, chẳng bao giờ em ghép được anh hoàn chỉnh.  

 

Mỗi lần đọc thơ là em đã phản bội anh hoàn hảo.

 

Bài thơ viết cho em, mỗi ngày anh viết lại, bởi anh chưa đủ tài năng xóa dấu vết kế thừa, bởi câu thơ anh chưa đốt hết họa ngôn bám vào tâm trí em khiến em không bay lên được, bởi em chưa phát sinh em trong đời sống của anh những âu lo mới/cũ.

 

Nguyện dâng em căn duyên thi sĩ, cảm ơn người đến sửa bản in anh!

 

10/2018

Phan Thanh Bình

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20192:35 CH(Xem: 2631)
Việt Nam cổ thời chỉ được ghi phụ chép trong cổ sử Trung Hoa như các xứ man di phương Nam rồi Tây Nam từng đến xin cống lễ, hay liên quan đến chiến công xâm lược, thực và giá lẫn lộn, của các triều đại—dưới các chiêu bài giáo hóa, phép thờ nước lớn, và/hay chinh phạt. Lịch sử thành văn của Việt Nam thỉ chỉ xuất hiện từ đời Trần (10[20]/1/1226-23/3/1400)—tức Đại Việt Sử Ký (1272) của Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322)—nhưng đã tuyệt bản, chỉ còn những mảnh vụn sao chép và sửa đổi theo ý thích của các dòng họ cai trị mà Phó bảng Phan Chu Trinh từng chỉ trích là “hủ Nho” [ultra conservative confucianist].
23 Tháng Năm 201912:27 SA(Xem: 262)
HOUSTON (VB) – Nhà thơ Tô Thùy Yên đã từ trần vào lúc 9:15 giờ đêm giờ Houston (tức 7:15 giờ chiều giờ California) hôm Thứ Ba 21/5/2019. Theo bản tiểu sử trên Wikipedia, nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, đã nổi tiếng từ thập niên 1950s tới nay....Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp. Thuở nhỏ học trung học Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, có ghi danh theo học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp, một thời gian rồi bỏ dở.
22 Tháng Năm 201910:59 CH(Xem: 517)
có một nơi vượt qua không gian và thời gian thao thức / vượt qua những lằn ranh hư thực / nơi chỉ có Anh và Em / và Tình Yêu / nhón chân nhẹ nhẹ bước vào /
22 Tháng Năm 201910:52 CH(Xem: 308)
Ngồi đây em và sen sẽ nở / Tóc tai cỏ dại sẽ thơm lừng / Mùi hương đã ngát từ vô thỉ / Cớ gì lũ sáo cứ bâng khuâng.
15 Tháng Năm 20198:04 CH(Xem: 503)
Mưa suốt ngày hôm nay / Người ta nói năm nay mùa mưa đến sớm / Nhưng với em / Mưa chưa bao giờ ngừng từ tháng 11 năm ngoái /
15 Tháng Năm 20196:33 CH(Xem: 616)
Ngủ một giấc đi em \ sáng mai hẳn dậy\ ai làm bí thư chủ tịch\ ai bán hàng rong cũng vậy\ anh tin rằng hơn chín mươi triệu dân đất nước này \ không người nào dám bỏ cuộc\ hoặc cán đích\ hoặc nửa chừng buông súng\ đều phải qui hàng trước vạch áo cơm\
15 Tháng Năm 20195:35 CH(Xem: 504)
Trên vạn dặm Trung Hoa, trong số những di tích lịch sử tôi có dịp được tham quan, có lẽ đền thờ Nhạc Phi nằm ở chân núi Thê Hà cạnh Tây Hồ, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang là di tích để lại cho tôi nhiều ấn tượng khó quên hơn cả. Đặc điểm nổi bật nhất trong kiến trúc của khu đền là giữa không gian rộng rãi, có khu mộ Nhạc Phi cùng con trai Nhạc Vân, đối diện là bốn bức tượng sắt quỳ nhốt trong cũi sắt, đã tạo nên nét đặc sắc chưa từng thấy trong các di tích lịch sử ở Trung Quốc cũng như trên thế giới… Hơn hai trăm năm trước, đại thi hào Nguyễn Du đã tới nơi này, để lại 5 bài thơ chữ Hán vịnh sử bất hủ về Nhạc Phi và những kẻ thủ ác hãm hại người anh hùng của đất nước Trung Hoa cổ đại.
14 Tháng Năm 20199:20 CH(Xem: 510)
Bài thơ: “Cúng Dường” của thiền sư, thi sĩ Tuệ Sĩ đã được nhiều giảng sư, luận sư, triết gia chuyển dịch, tất cả đều dịch rất sát, rất hay, nhưng trên ý nghĩa của mặt chữ, đã khiến dư luận cảm thương, tội nghiệp khi đọc thi phẩm này, mà theo tôi, sự giải thích sát nghĩa như vậy đã ngược lại hoàn toàn tính hùng vĩ và đại bi tâm của nhân cách tác giả và thi phẩm.
13 Tháng Năm 20199:17 CH(Xem: 674)
…Trong miền bụi đỏ mơ hồ đôi mắt ngây thơ vương giọt nước mắt làm dịu cái oi bức mùa hè cứ ám ảnh tôi qua bao giấc ngủ… Quãng đời ấy thật sự ngọt ngào. Chúng tôi đến trường trước hết là học làm người, sau đó mới là kiến thức. Tôi vẫn nhớ như in những câu cách ngôn mà mỗi sáng thứ hai thầy trang trọng viết lên đầu bảng và giảng giải ý nghĩa của nó cho cả lớp cùng nghe. Những câu ca dao, tục ngữ nói về công ơn cha mẹ, đối nhân xử thế, kính già yêu trẻ…
13 Tháng Năm 20198:54 CH(Xem: 337)
Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ.