- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,757

THƠ VÀ THI SĨ

12 Tháng Mười Một 20187:44 CH(Xem: 10521)


Chandung_PTBinh-bw
Chân dung nhà thơ Phan Thanh Bình - 2018


LTS: Lầu đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Nhà thơ Phan Thanh Bình sinh năm 1973 tại Hải Dương Có thơ đăng báo tại quê nhà Bình Thuận từ năm 1990. Hội viên Hội VHNT Bình Thuận năm 1992 (bút danh Thy Sinh). Hội viên Hội nhà văn TP.HCM năm 2017. Có thơ đăng ở các báo trong và ngoài nước.

Tác phẩm đã xuất bản:

  1. Phẳng & Nghiêng (thơ 2015)
  2. Chạm & Vuốt (thơ 2017)

Hiện sống và viết tại Sài Gòn.

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu một bài thơ xuôi đặc biệt của anh.

TẠP CHÍ HỢP LƯU


 

Socrates là nhà thơ

Platon cũng là nhà thơ

Arisotle đích thị là nhà thơ.

 

Những tâm hồn phiêu linh đi khắp bầu trời từ khi họ đến mặt đất này làm thơ và kể chuyện.

 

Newton yêu say đắm chính bà mẹ mình, viết bài thơ lực vạn vật hấp dẫn. Einstein cô độc giữa muôn trùng khi viết bài thơ về thế giới cong. Edison phải lòng ai đó đã làm ra bài thơ bóng đèn dây tóc.

 

(…)

 

Thích Ca Mâu Ni khai nhãn loài người bằng bài thơ luân hồi khiến chúng ta run rẩy vừa đi vừa sợ.

 

Jesus Christ chính là bài thơ khi Người chịu đóng đinh trên thập giá. Bài thơ buộc niềm tin phải hiện tồn.  

 

Họ là những nhà thơ dù họ chả viết một câu thơ nào

Trước sự lãng mạn của họ, chúng ta tự biến mình thành kẻ tu hành

Trước sự vị tha và ích kỷ của họ, chúng ta bảo nhau cầu nguyện.

 

Họ lãng mạn sứ giả. Chúng ta lãng mạn sinh tồn. Họ thuần khiết, chúng ta suồng sã?

 

Họ là bài thơ tôn kính. Còn chúng ta làm thơ cho nhau, an ủi nhau mà sống, chia sẻ nhau mà vui/buồn. Chúng ta mặc nhiên lấy cảm hứng từ họ làm trí tuệ của mình.

 

Tôi kính cẩn dâng các nhà thơ khai sáng đóa trữ tình nồng nàn trên mặt đất!

Làm tôi.

 

Cuộc lãng mạn sinh tồn.

Tôi viết cả trăm bài thơ nhưng bài nào cũng hỏng. Người đàn bà yêu tôi, em cũng đã ngoại tình.

 

Thơ ơi thơ! Tôi là nỗi buồn của mẹ, là thất vọng chán chường của em, là ái ngại của chính tôi khi chọn thơ cứu rỗi linh hồn.   

 

Nhìn vào cách làm thơ có thể vẽ đường hồi quy về thi sĩ. Kẻ yếu đuối chăm câu thơ bóng nhẫy. Kẻ thủ dâm lấy chữ làm bằng. Kẻ đốn mạt trấn lột từ phá lên cười hố hố.

 

Tín niệm là thứ mà thi sĩ bất tài lợi dụng, lừa bịp mình và phỉnh phờ người khác. Có tín niệm thiện tất có tín niệm ác. Thơ khởi sinh từ tín niệm chỉ là thứ phân non.

 

Sở trường âm tính quá dài đã làm hỏng văn chương. Hình như thơ đã hỏng lâu rồi, hỏng ngay từ thời Thơ Mới?

Thơ Mới chỉ gọi được nỗi buồn ra đếm.

 

Bài thơ hay là bài thơ nuôi dưỡng được tâm hồn tôi từ lúc còn trẻ đến già mà bài thơ vẫn đẹp.   

 

Thay vì định nghĩa thơ, tôi đi tìm thi sĩ

Thi sĩ va đập trong bối cảnh thơ như người trong cuộc. Ví dụ: “Này của Xuân Hương mới quệt rồi”. Tôi gọi là thi sĩ tham dự.

 

Thi sĩ lấy chữ thêu tranh, áp đáo ngôn từ tôi gọi là thi sĩ không tham dự.

 

Cuộc tham dự văn chương không có người đến sớm hay người đến muộn nhưng rất nhiều người đến cùng lúc thành ra cuộc ngộ sát.  

 

Kinh Bắc Hoàng Cầm, sim tím Hữu Loan, khúc độc hành Quang Dũng đưa tôi lên đỉnh núi, thả buông tôi ở đấy. Tôi không rơi mà tôi lơ lửng. Gió cào xước cơ thể tôi, quất vào tôi những lằn roi tím bầm rỉ máu. Nhưng kỳ diệu ở những lằn roi thơ là vết thương tự lành. 

 

Lê Đạt phu chữ cho thơ bằng xác hoa thiếu nữ môi hường. Tôi thèm uống nước sông, ông lại mời tôi nước cất. Ông giả say, tôi cũng giả say. Ông giả sống, tôi cũng giả sống. Phút cuối một đám tang tôi đã thấy, có chữ nào thì bóng ông chữ ấy.

 

Làng Chùa của Nguyễn Quang Thiều ràn rạt hơi đất phả hương đêm làm chúng ta kiệt sức mỗi ngày vào buổi sáng. Ông trao cho chúng ta văn bản thơ, nhưng ông vẫn cất đâu đó một văn bản thơ khác

Những hồi tưởng từ cánh đồng cào cấu giấc ngủ đô thị. Chúng ta nhường nhau hiến dâng nhưng lại tranh nhau cái chết.

 

Người đàn bà miền Nam gốc đước sợ múc cạn nỗi buồn. Vẫn múc …

Chị treo thơ lên cây đợi chim về ăn sáng. Chị treo ngược Nguyễn Thị Ánh Huỳnh giữa lưng chừng trời mà gọi. Càng gọi càng bơ vơ.

 

Khi con người nhân tính hơn và lũ thủ dâm thơ được chôn cùng với chữ (chắc phải sang phần sau thế kỷ này) thì người ta mới nhận ra Dư Thị Hoàn thật sự tan vỡ.

 

Tự đấm vào mặt tôi sau tuổi bốn mươi. Giá như đừng có thơ cho em, đừng đi tới mùa thu cùng người đàn bà với giò phong lan trong bản nhảm âm phẳng và nghiêng thì bây giờ tôi đã không nói bậy và sám hối mỗi ngày.

 

Thi sĩ. Kẻ phiến diện từ căn tính nên bài thơ toàn góc nhìn phiến diện.

 

Đi tìm bản thể con người là ý nguyện văn chương vừa đáng giận vừa đáng thương của thi sĩ. Bản thể con người nằm ở quá trình sáng tạo lại con người.

 

Sáng tạo lại con người! Hãy để thơ đẩy con người đến chỗ tự do nhất để con người thoát linh.

 

Con người thoát linh sẽ kể cho chúng ta nghe câu chuyện mà chúng ta chưa từng biết hoặc chúng ta không thể nào tượng tượng nổi. Tả cho chúng ta ghi chép về những tình cờ, bộc phát hoặc di trú của cuộc đời.

 

Văn chương hậu hiện đại suy cho cùng là văn chương phiến diện tuyệt đối.

 

Bài thơ càng phiến diện càng hứng thú như thể nó được viết ra để đọc một lần rồi biến mất hoặc hiện chìm trong bài thơ phiến diện khác.  

 

Mọi thứ đến rất nhanh, ra đi cũng rất nhanh. Tuyệt diệu như loại men dậy hết hương vị ngọt ngào trở thành độc tố.

 

Thi sĩ hậu hiện đại. Kẻ phiến diện toàn năng. Kẻ bước vào văn chương bằng câu chửi thề và bước ra khỏi đời sống bằng cách duy nhất là tự tử.

 

Người đàn bà yêu thơ thấm nỗi buồn trên từng đầu ngón tay. Cả bầy quạ chọn tóc nàng làm tổ. Những thớ thịt gồ ghề trên cơ thể nàng đã xác tín rằng nàng vừa lưu manh vừa mất nết.

 

Tôi thả đồng tiền cổ vào tách trà. Vị quân vương đoái tiếc máu xương. Ông cứ buồn vui, Tôi cũng buồn vui. Đồng tiền sủi tan ý nghĩ. Tôi nhắp giọt mồ hôi người trồng từ cánh đồng trà xanh ngát. 

 

Sinh ra không cô đơn, mỗi chúng ta được mười hai bà mụ cầm cho tiếng khóc. Nhưng cuộc đời đẩy chúng ta vào vực thẳm cô đơn, thiếu dưỡng khí để nuôi các giác quan. Chúng ta trở nên cầm chừng, chúng ta trở nên mực thước …. Cho đến ngày chúng ta chỉ còn là xác bay lơ lửng. Không thể chạm chân lên mặt đất.  

 

Tôi chọn em và thơ để sống mỗi ngày được nhiều hơn 24 tiếng.

 

Em đừng treo anh vắt vẻo lên câu thơ, bắt anh giữ thăng bằng cùng thời cuộc. Anh yêu mến đám đông nhưng đám đông trì níu anh đến chết.

 

Em chỉ đau ngón chân đã làm anh đau cả bàn tay phải. Những bờ huyền thuần khiết đã nhường nhịn em, những hờ lan mệt mỏi đã nhường nhịn em. Anh cũng nhường nhịn em dù anh không phải là người đàn ông tốt nhịn.

 

Cơn gió rừng tràn qua ngôi nhà chúng ta rơi lại những hạt mưa cậu bé và cô bé, chúng quấn quít lấy nhau, tìm nhau trao đổi chất. Rồi những hạt mưa chui vào trong thân cây, êm ái thọ linh ở đời sống khác.  

 

Lá bài cổ chợt hiện lên khung cửa sổ. Thiên thần hòa đồng cùng quỷ sứ. Vừa như gửi lời chúc an lành vừa như cảnh báo hiểm họa tình yêu sẽ khó lường nếu ai trong chúng ta rút phải sợi dây của quỷ.

 

Phiến diện anh, những phiến diện anh, như tiếng tù và lăn lan trên mặt hồ nước đọng, như tiếng chó tru tréo sủa người trong đêm xá tội.

 

Em có thể xếp những nguệch ngoạc anh tung tóe khắp nơi liền thành dải mã vạch, nhưng sẽ chẳng bao giờ, chẳng bao giờ em ghép được anh hoàn chỉnh.  

 

Mỗi lần đọc thơ là em đã phản bội anh hoàn hảo.

 

Bài thơ viết cho em, mỗi ngày anh viết lại, bởi anh chưa đủ tài năng xóa dấu vết kế thừa, bởi câu thơ anh chưa đốt hết họa ngôn bám vào tâm trí em khiến em không bay lên được, bởi em chưa phát sinh em trong đời sống của anh những âu lo mới/cũ.

 

Nguyện dâng em căn duyên thi sĩ, cảm ơn người đến sửa bản in anh!

 

10/2018

Phan Thanh Bình

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1071)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5818)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5800)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13158)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30005)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81108)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20218)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 328)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”