- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,820

LỜI CỦA NHỮNG CON NHEN Ở BÌA RỪNG SAU LƯNG TÔI

05 Tháng Ba 201812:54 SA(Xem: 11643)



ND 9
tranh Nghiêu Đề




CẮT TẮC


Hẵng các bạn có lúc phải làm vườn
Cầm kéo cắt vào mây gió
Quá miệt mài tôi danh trụi bàn tay

Điều gì xảy ra khi con tim khô máu
Như thế tốt hơn sống trên hỏa ngục này phải nhập vào vai diễn
Những đám mây tranh luận thường dừng ở đâu
Nơi ngọn kéo hay chết trên đầu lưỡi?

Bạn có thể trả lời mà không phải suy tư
Những trái hái được bằng mồ hôi thường có vị chua nồng
Dù sao cũng kiếm được đồng xu lẻ
Đổi vài câu thơ ở tiệm phô tô

Thể xác đau hay mắc nợ dông dài
Có đột tử thì tốt hơn phải sống
Bí ẩn gói trong sáu tấm vách buồn

Mỗi ngày tôi nhặt một ngón tay
Rồi lại cắt sang bàn tay khác…

 

LỜI CỦA NHỮNG CON NHEN Ở BÌA RỪNG SAU LƯNG TÔI

Tuy nơi đâu cũng thành nơi tử nạn, thông tin về nó như cái mốt
nhưng cái chết của luân thường khiến mưa trái mùa, lương tri đồng loại dửng dưng
lòng tin hoại tử trên bàn tay thế sự

Bạn bay theo tôi qua những cành mây khác

Đám người ấy sửa sai bằng mép lưỡi
nước bọt bật lửa
lời ma trơi rời rã
chúng ta muốn đêm vẹn nguyên chuẩn mực đất trời

Bà bay theo tôi qua nhánh hoang vu ăn muỗi mòng dòi bọ
tránh phát đạn vô hình đang rình rập chúng ta

Mỗi nhiệm kỳ náo xáo dọc đám người
ban phát cho nhau từng cơ tham tiếng vọng
có chữ cái từ lâu mục rỗng

Chúng gọi nhau lét xét dọc bìa rừng…

 

 

VỰC

Sông nói tôi yên bình trên đất nước mát lành
không, người người thấy nó đang giãy chết
lôi tuồn tuột nhà dân vào lòng sâu của nước
bức tử từ bên trong
mang dạng vẻ thản nhiên

Chiếc ghế gãy nói tôi tật nguyền vì bị hút máu
hỗn danh mang tên quyền lực
vì bọn dây mơ rễ má
không thể gọi giàu nhất thế gian
không dưng kéo nhau ra đầu thú
vạ lây tôi

Buổi sáng nói tôi bầm dập vì ngày
và nội tạng rã rời theo hệ thống…

 

ẨN

Đưa tay đôi mắt trũng sâu
quá vãng vô hình trú ngụ 
trong nàng hay trong ta

Dự phóng bàn chân chuột gút 
quằn quại đớn đau bất động
nghe tiếng mây dừng đỉnh nóc buồn

Hun hút phán xét
nhan nhản nạn tai 
biển khơi trơ trụi
đầm lầy chết chóc
bụi hồn nhiên
đèn xanh vừa đi vừa gật

Khoác lên mình tấm áo rách nát linh hồn chiều
lũ gió nhạo báng xương rổng
tủy sống từng đứng reo
đắm mê chạy theo hừng hực

Nằm tâm sự với cơn say
tim ẩn vào không gian trắng…

CHUYỂN HÓA

Thịt xương được nấu chín phơi bày trên mâm
Vực thẳm dưới chân
Thể xác đã mòn
Với con tim ngột ngạt
Ta những con chó không may mắn trên đường đua dù cố gắng về đến đích

 

Sự thật tồn tại khả kiến
Đám đông ấy tin vào bạo lực
Đấm nát mắt bão
Giữ lấy yên bình
Chán rực nản vang số kiếp 
Linh hồn trôi dạt
Họ chỉ nghĩ cái gì không cần nhớ

 

Về trong ánh sáng chuyển hóa
Không linh hồn 
Không thể điệu riêng mình 
Phải ta chết
Trước mặt các sinh vật có năng lực ngôn ngữ.

 

 

KHUẤT TỬ VÙNG SƠN CƯỚC

Cầu vồng tan dần đôi mắt chỉ còn vọng tưởng

Kinh nghiệm như rắn trườn về mang đầy nọc độc

Ước mơ lớn dần phía ấy

Giữa biển tiền thân vỡ khói

Đánh mất bầu trời ngọt ngào thầm đắm

Căng mình nhẹ nhàng thoát xác

 

Số kiếp chăn thả

Làm bạn với các triền đồi

Vi vu lộng lẫy

Các bọn dê con tinh nghịch

Mang niềm vui ngạo nghễ

Suối ẩn hiện mời chào

Đê mê muôn thuở

 

Em ở đô thành

Nghe kể phải cúi thật sâu

Mắt ông ấy khoét hẻm thiên thần đường gió

Mong rẻ tòa biệt phủ

 

Con dao rừng chặt vu vơ cánh bướm

Nghe nói nay mai đấu giá mùa xuân

Triền đồi bị bức tử

Con suối sẽ bị chặn nguồn

Dất nướccúi đầu im bặt

Đường sơn thôn biến mất

Hoa rừng

Buồn

Ngả

Về đâu...

 



CỪU

Con đường trên lưng 
sấm chớp dưới chân
móng vuốt chai mòn
quay về mê muội hát ca

giai điệu xô nhau
bầu trời háu nước
dặm dài chán nản
cuồng nộ hưng thịnh

chỉ lông bốc lửa
rát khô phương hướng
cát, cát lông mày
mắt trôi dạt
trên lưng con đường.

Bến Tre, tháng 01/2018.
Nguyễn Đăng Khương

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1070)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1148)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1835)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5868)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13181)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30067)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81206)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 366)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối