- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐÊM Ở BIỂN ĐÔNG

07 Tháng Hai 20172:11 SA(Xem: 55021)

 


20170103065050-da-vanh-khan-ehzq
đảo Đá Vành Khăn


( Như một nén tâm hương…)

 

 

 

Đêm hôm nay trăng sáng. Mặt biển êm ả chỉ lăn tăn gợn sóng. Hộ tống hạm HQ10 Nhật Tảo đã vùi dưới đáy biển trên 40 năm, đêm nay dường như đang giũ mình lấp lánh dưới đáy trăng.

 

Như mọi đêm, hạm trưởng trung tá Ngụy Văn Thà điểm danh, giọng âm âm lất phất trong ánh nước :

- Nguyễn Thành Trí

- Có !  - Thiếu tá hạm phó dáng vẻ thư sinh, đứng lên trên chiếc chân còn lại dõng dạc.

- Hoàng Duy Thạch

- Dạ có… Thưa trung tá, xương cốt của tôi bị bùn cát vùi quá sâu rồi.

Một giọng rổn rảng phía sau vang lên :

- Đù má ! Vùi như vậy mới còn nguyên vẹn. Không hiểu vì sao tướng tá tôi to như thế này mà xương cốt nhẹ tênh tênh, trôi đầu một nơi tay chân một ngã.

Một con cá vừa nghiêng mình, ánh vảy bạc chui qua lỗ thủng trên ngực đầy rong rêu của thượng sĩ người nhái Đinh Hữu Từ.

- Nguyễn Thành Trọng – Người hạm trưởng tiếp tục

- Có.

- Phạm Tiến Chung.

- Có.

- …

- …

- Người cuối cùng, người thứ 75…

Giọng trung tá Thà bỗng ngèn ngẹn :

- Chúng ta vừa mới tìm được trung sĩ Phạm Ngọc Đa, anh đã cô độc trôi nổi trên biển những 42 năm nay.

Bóng một người lướt thướt đi lên, tái nhợt. Anh ta ôm từng người và khóc :

- Các anh tề tựu ở đây, dù lạnh lẽo nơi đáy biển vẫn còn có chiến hạm tránh mưa tránh nắng. Riêng tôi thân xác trôi dạt ba ngày nhưng hồn phách phiêu linh nơi đầu gềnh cuối thác, cho tới nay mới tìm được các anh.

Tiếng khóc râm ran vang lên. Đàn cá vội dạt ra xa.

 

Hạm trưởng Thà ngửa mặt lên trời :

- Các anh em có nghe mùi gì đang thoảng đến không ? Mùi gì mà trên 40 năm nay chúng ta mong đợi mà chưa được một lần thưởng thức ?

 

- Mùi hương hoa ! – Lại gã người nhái họ Đinh to xác mau đói trả lời.

 

- Phải rồi ! – Hạm trưởng xúc động : Từ đất liền tưởng niệm chúng ta. Ba miền đất nước đang tưởng niệm chúng ta. Sài Gòn, Đà Nẵng và cả Hà Nội đang xuống đường tưởng niệm chúng ta.

 

- Nghe bảo ở Vũng Tàu nhóm anh Trần Bang bị côn đồ giật vòng hoa. Ở Sài Gòn, nơi tượng đài đức thánh Trần bọn chúng xua lũ quét dường ra ngăn cản. - Hạm phó Thành Trí nói trong buồn bực.

 

- Đù móa ! – Gã người nhái tên Từ hét lên : Để tui về vặt cổ chúng nó hết cho xong!

 

Cũng hạm phó, Nguyễn Thành Trí, người có dáng thư sinh giơ cao chiếc nạng làm bằng thân rong, bảo :

- Không cần. Sẽ có người xử bọn chúng ngay thôi.

 

- Nhưng sao là nghĩa sĩ Hoàng sa mà không phải liệt sĩ ?- Ai đó hỏi vọng lên

 

- Chúng ta không cần. – Hạm phó Thành Trí ồn tồn : Khẩu hiệu của chúng ta là : Đất nước là trên hết, khác với những liệt sĩ hiện nay.

 

- Nghe bảo, người ta đang khởi công xây khu tưởng niệm cho chúng ta, vậy chúng ta có về trú ngụ nơi đó không?

 

Ngụy Văn Thà đưa mắt dò nhìn từng người một, sau ông phất tay :

-Không. Chúng ta phải ở lại đây. Chúng ta và chiến hạm còn phải canh chừng Hoàng Sa cho đến khi nào Hoàng Sa trở về tay Việt Nam chúng ta.

Hạm phó Thành Trí :

-Đất nước Việt Nam chúng ta dễ tới ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ, nhưng cha ông chúng ta vẫn dành lại được trọn vẹn lãnh thổ. Hôm nay cũng vậy, nhất là thời khắc chuyển giao này,Hoàng Sa là của chúng ta nay mai thôi.

 

-Đù móa Trung cẩu ! - Gã người nhái Đinh Hữu Từ lại văng tục : Đổ Mười nó, hôm qua tui thấy máy bay chúng chở vợ ra đảo Chữ Thập bên Trường Sa chụp hình tự sướng.

 

 

- Chúng nó bán hết rồi ! – Thành Trí lẩm bẩm.

 

Bổng hạm trưởng Thà đứng phắt dậy :

- Phạm Văn Qúy đâu ?

- Có mặt.

- Chuẩn bị khởi động chiến hạm. Tất cả vào vị trí. Chúng ta lần này không đi tuần tra Hoàng Sa như mọi đêm. Nhiệm vụ chúng ta là bảo toàn lãnh thổ đất nước, Trường sa cũng vậy. Đêm nay chúng ta trực chỉ hướng nam. Đại úy Hoàng Duy Thạch, mở hết tốc lực chạy về Trường Sa.

 

Và HQ1O Nhật Tảo rẻ nước, lao vun vút trong đêm. Và như một con tàu ma, và đúng là một con tàu ma.

Đêm đã khuya, mảnh trăng đã ngã về tây. Đáy biển lờ mờ trong ánh lân tinh. Bỗng nhiên vẳng đâu xa xa tiếng ai nỉ non ai oán :

- Việt Nam ơi, thời gian quá nửa đời người và ta đã tỏ tường rồi…

Nguyễn Thành Trí rùng mình :

- Uả, hình như ai đang hát bài ‘ Việt Nam tôi đâu » của Việt Khang ?

Hạm trưởng quay lại hỏi Duy Thạch :

- Chúng ta đang ở đâu ?

 

- Dạ gần đảo Gạc Ma

 

 

- Có những bóng đen đang ẩn nấp trong các dãy san hô, thưa hạm trưởng. - Nguyễn Thành Trọng đang xoay nòng pháo nói vọng xuống.

 

- Từ từ, không được bắn. Hình như không phải bọn Tàu.

Những bóng đen lần lượt ra khỏi nơi ẩn nấp, tiếng hát càng rõ dần.

- Có tất cả 65 người. – Tay người nhái hét lên : Đù móa Việt Cộng !

Thành Trọng chòm chòm trên tháp pháo :

- Bắn chưa chỉ huy ?

 

- Bắn chết mẹ chúng đi ! – Aí đó hét lên.

Hạm trưởng phất tay :

- Không được bắn.

Rồi ông bước tới phía đám đông, hỏi một người đang cầm một cán cờ đã gãy :

- Các anh là ai ?

 

- Chúng tôi là những oan hồn đã chết ở đảo Gac Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988.

 

- Sao gọi là oan hồn ?

- Vì chúng tôi chết mà không được bắn như các anh. Chúng tôi là những tấm bia. – Nói xong anh ta chỉ vào những lỗ thủng to như miệng chén trên cơ thể : Các anh thấy đó, đạn 12ly 7 xuyên qua và chúng tôi ngã xuống như những vật tế thần !

 

 

- Anh tên gì ?

 

- Thiếu úy Trần Văn Phương.

 

- Tôi nghe nói trận chiến đảo Gac Ma các anh có 64 người, sao hôm nay 65 ? Người mặc thường phục kia là ai ?

 

Một người đàn ông gầy gò đen nhẻm bước lên :

- Tôi là Trương Đình Bảy, ngư dân Bình Sơn Quảng Ngãi mới bị Trung Quốc sát Hại.

 

- Chúng tôi nghe báo chí nói là tàu lạ ?

 

- Tàu lạ cái con đĩ mẹ nó ! – Người đàn ông nổi giận : Tàu là Tàu chứ lạ chó gì !

 

- Tại sao hồn phách anh không về với xác thân anh ?

 

- Vì tôi là một oan hồn. Không ai bênh vực cho tôi, không ai dám nói kẻ đã giết chết tôi là ai.

 

Nguyễn Thành Trí quay qua hỏi đám đông đang liêu xiêu theo sóng nước :

 

- Vì sao các anh hát bài hát khi nãy ?

 

- Chúng tôi không còn tổ quốc. Chúng tôi không biết Việt Nam tôi đang ở đâu. Chúng tôi sống dật dờ trên những mõm san hô, thân xác chúng tôi cũng như thân xác các anh tan rửa trong lòng đại dương, nhưng hồn phách các anh còn có chiến hạm và trọng pháo che chở, chúng tôi không một tấc sắt trong tay.

Hạm phó Nguyễn Thành Trí hỏi tiếp :

- Nếu chúng tôi mời các anh lên tàu các anh có đi không ?

Dứt lời đã nghe thấy hai bên nhao nhao. Hạm phó dang hai cánh tay về phía hai bên tiếp tục :

- Ân oán 30 năm nhồi da xáo thịt đã qua lâu rồi. Tôi và các anh đều là những người hy sinh cho đất nước. Đất nước, dân tộc là trên hết. Trên cả hận thù . Chúng ta cùng một kẻ thù chung. Chúng ta cùng là người Việt. Tất cả điều đó lẽ nào không làm nên một cuộc hòa giải dân tộc, điều mà trên dương gian người thật đang cố làm. Vậy hãy để những con ma chúng ta làm gương trước họ.

Lời nói vừa dứt thì tất cả hai bên nhào tới ôm chầm lấy nhau khóc lóc râm rang một góc biển.

Tất cả cùng lên tàu. Tiếng hát lại cất lên. Lần này lời hát vang lên hùng tráng , trong pha lẫn giọng Bắc và Nam :

- Từng đoàn người đi chẳng nề chi / Gìa trẻ gái trai giơ cao tay / Chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược…

 

Và hộ tống hạm HQ 10 Nhật Tảo hú lên một hòi còi lanh lảnh, mở hết tốc lực phăm phăm rẽ sóng về phía mảnh trăng trôi đằng tây, nơi đất liền mong đợi.

 

 

NGUYỄN HUỲNH

Ngày 19/01/2016.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
09 Tháng Hai 20173:24 SA
Khách
Có lẽ khi đọc câu chuyện này, mọi người cũng cho rằng đây là một truyện ngắn hư cấu từ những câu chuyện có thật. Riêng tôi, tôi tin rằng câu chuyện này cũng có thật. Các anh ra đi, hồn vẫn bám tàu bám biển. Gần bốn mươi năm qua, không có bao người tưởng nhớ đến các anh (ngoại trừ những người thân). Hồn của các anh vì thế càng khó tụ lại, cứ thế lang thang trong giá lạnh, nước buốt hằng mấy mươi năm. Chỉ đến gần đây, nhờ tấm lòng của người còn sống hướng về các anh mà nỗi băng giá của các vong linh được sưởi ấm. Điều đó sẽ giúp các anh được siêu thoát.

Người viết câu chuyện này hẳn cũng là người hiểu về thế giới tâm linh. Cầu mong cho tất cả các anh được siêu thoát nhẹ nhàng.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 5345)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 4610)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 6509)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 4284)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 4256)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 7172)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 6085)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 6371)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 7119)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 7027)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9441)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16245)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15256)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15605)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1533)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1824)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2167)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4283)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6085)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5458)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6049)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1506)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1778)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1983)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1868)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1675)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1495)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1664)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1679)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12424)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28670)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35206)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35077)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9950)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12053)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1193)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2167)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2310)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2680)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7079)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6504)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8480)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.