- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

145 NĂM TẦM NGUYÊN TRUYỆN KIỀU

01 Tháng Mười Một 201510:46 SA(Xem: 59274)

                                

KhucDan-tranh NgocMai(VIETNAM.NET)
Tranh Ngọc Mai - (Vietnam.net)



        

          Kiệt tác Truyện Kiều (Kim Vân Kiều truyện, Đoạn trường tân thanh) của đại Thi hào Nguyễn Du (1765 - 2015)  ngay từ khi ra đời (khoảng cuối thế kỷ 18 hay đầu thế kỷ 19), nhất là sau khi được danh sĩ Phạm Quý Thích, người giao du thân tình với Nguyễn Du đọc và cảm tác thành bài thơ nổi tiếng“Thính đoạn trường tân thanh hữu cảm”, liền trở thành một tác phẩm thi ca nổi danh vang dội khắp trong và ngoài nước Việt Nam từ đó đến nay. Từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, đa số các học giả, nhà biên khảo, tiêu biểu nhất là Trương Vĩnh Ký, A. Michels, E. Nordemann, Kiều Oánh Mậu, Chiêm Vân Thị, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Khánh Diễn, Lê Văn Hòe, Tản Đà, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Thạch Giang, Đào Duy Anh thường công bố các công trình phiên âm, chú giải, khảo dị Truyện Kiều theo tập truyền “nhuận sắc”: Lấy một hay nhiều bản Nôm xưa, cho là đáng tin cậy để đối chiếu, tuyển chọn thậm chí còn tạo ra từ, câu mới một cách chủ quan theo thẩm mỹ của mình nhằm tạo ra một bản riêng mới. Dĩ nhiên, hệ quả không tránh khỏi là tạo ra rất nhiều các dị bản Truyện Kiều và sự truyền bá mỗi thời, mỗi nơi mỗi khác như đã từng xảy ra với các bản Truyện Kiều của Trần Trọng Kim – Bùi Kỷ (miền Nam), Đào Duy Anh (miền Bắc). Người sau không biết đâu là bản chính, tiêu chuẩn để thưởng thức, đánh giá và giảng dạy, học tập cũng như nghiên cứu, phiên dịch một cách khoa học.

         Do đó, một vấn đề bức thiết, nan giải đã luôn tồn tại và đeo đẳng các nhà biên khảo, phiên âm, phiên dịch Truyện Kiều từ hơn 1 thế kỷ nay đó là: vì nguyên bản (thủ bút gốc) của Nguyễn Du cho đến nay đã tuyệt tích không còn hy vọng tìm thấy và chỉ mong sao tìm lại được một văn bản chữ Nôm gần nguyên tác nhất của Nguyễn Du như Dự án “Phục nguyên văn bản Truyện Kiều được đồng thuận cao” của Hội Kiều học Việt Nam đã đề ra nhằm hướng tới Kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại Thi hào nguyễn du (1765 - 2015) và vinh danh đại Thi hào dân tộc Nguyễn Du[1]. Bài viết này sẽ lược thuật quá trình tầm nguyên văn bản Truyện Kiều từ xưa đến nay và chúng tôi cũng xin gợi ý, phác thảo một phương pháp phục cổ văn bản Truyện Kiều với hy vọng có khả năng gần với nguyên tác.

 

1. 145 năm tầm nguyên văn bản Truyện Kiều          

         Dấu chứng đầu tiên về sự tìm kiếm nguyên tác của Nguyễn Du có lẽ là từ quan Bộ Công Nguyễn Hữu Lập tự Nọa Phu, với lời tựa Đoạn trường tân thanh do ông sao chép và san cải vào năm 1870 đã thuật lại: “Gần đây được thấy quyển truyện Kim Vân Kiều do Lương đường Phạm Lập Trai đề từ với các lời bình của Liên Trì ngư giả Vũ Trinh và Châu Sơn tiều lữ Nguyễn Lượng. Truyện này xuất xứ từ chính thủ bút của Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du Tố Như ông được lưu truyền từ 50 năm nay, kể lại câu chuyện phong tình với lời văn thật điêu luyện (…)  Nay biết đó chính là phong tình đích thực của Tố Như.”[2]. Nguyễn Hữu Lập tự nhận đã “san cải” lại vì thấy có những chỗ chưa được thuần nhã, cần phải luyện đạt đôi chữ.

         Năm 1915, cụ Phạm Kim Chi nhân việc thông ngôn ở Hà Tĩnh, cụ đã mượn được bản gia truyền của dòng họ Nguyễn Du là bản Nôm Kim Túy tình từ (có chú thích Hán văn của chính Nguyễn Du) từ Tiến sĩ Nguyễn Mai, cháu 5 đời của Nguyễn Du lưu giữ, rồi ông cho phiên âm, dịch nghĩa ra tiếng Việt in thành sách Kim Túy tình từ [3] (bản in năm 1917). Cụ Nghè Mai cũng đã viết bài tựa bằng chữ Hán vào năm Duy Tân thứ 9 (1915). Bản Kiều này thường được gọi là “bản Phạm Kim Chi” hay “bản Tiên Điền”

         Trong lời tựa sách Truyện Thúy Kiều[4]1925, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim đã bày tỏ chủ ý là lấy bản Phường làm cốt, muốn giữ cho đúng như các bản cũ khi nhặt nhạnh các bản cũ rồi so sánh với các bản mới để hiệu chính lại cho gần được như nguyên văn, chứ không phải muốn cho hay hơn thì có lẽ không sai lầm bao nhiêu. Vậy là hai cụ đã cố gắng cẩn trọng giữ nguyên lời, nguyên văn của Nguyễn Du.

        Nhà nghiên cứu Hán nôm Vũ Văn Kính đã hướng tới phục nguyên tác phẩm Truyện Kiều qua công trình Tìm nguyên tác Truyện Kiều [5], theo lời giới thiệu của tác giả thì công trình này được biên soạn từ trước năm 1975. Với phương pháp hiệu khảo dựa trên lý thuyết cấu trúc kết hợp với hiệu đính cổ điển tác giả hy vọng có thể khôi phục nguyên tác Truyện Kiều, tác giả đã dựa vào 3 bản chữ Nôm: bản Kiều Oánh Mậu. 1902; bản Quan Văn Đường. 1925; bản Duy Minh Thị. 1879 và 5 bản Quốc ngữ: bản Bùi Kỷ –Trần Trọng Kim; bản Tản Đà; bản Bùi Khánh Diễn; bản Lê Văn Hòe; bản Phạn Kim Chi để kết hợp thành một bản Truyện Kiều đúng nguyên tác.

         Năm 1965, nhóm Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Đức Vân biên soạn Truyện Kiều, đã đặt vấn đề truy tìm văn bản cổ Truyện Kiều và tra cứu, hiệu đính lại văn bản Truyện Kiều tương đối gần với nguyên tác. Chủ yếu dựa vào 3 bản chính: Kim Vân Kiều tân truyện, Liễu Văn đường. 1871, Kim Vân Kiều tân truyện của Trương Vĩnh Ký.1875, Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu.1902. Đào Duy Anh cho ra đời bản Truyện Kiều in trong phần Phụ lục của  Từ điển Truyện Kiều năm 1974[6] (bản thảo xong vào năm 1965), theo “Lời đầu sách” của tác giả, bản Truyện Kiều này đã được hoàn thành sau khi đối chiếu chỗ dị đồng của bản Liễu Văn đường (1871), bản Quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký và tham dụng các bản khác.

        Năm 1996, Đài RFI (Pháp) có buổi phóng vấn Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Kiều do Thụy Khuê thực hiện [7]. Theo đó, Học giả Hoàng Xuân Hãn đã cho biết cụ chỉ chú trọng vào mấy bản truyện Kiều chữ Nôm khoảng đời Tự Đức, quan trọng là bản Nôm chép tay xưa nhất còn lại: “Trong các bản, có một bản ở trong Nam thấy đương còn những dấu vết hoàn toàn đời Gia Long. Không có đời Minh Mạng. Thì mình chắc chắn bản ấy người ta sao lại một bản từ đời Gia Long” rồi tiến hành hiệu khảo, đính ngoa nhằm “tái lập văn Kiều đời xưa” hay là “nguyên lời Nguyễn Du” và cụ Hãn gọi là: bản Kiều Tầm Nguyên, tìm cái gốc”. Tuy cụ Hãn cho biết đã nghiên cứu Kiều nửa thế kỷ nhưng mãi đến năm 1996 cụ mới tiết lộ phương pháp khảo cứu của mình. Từ khi cụ Hoàng Xuân Hãn tạ thế cho đến nay, việc xuất bản di cảo nghiên cứu Kiều của cụ vẫn còn dang dở.

         Sau khi cụ Hoàng Xuân Hãn đưa ra phương pháp nghiên cứu Truyện Kiều tầm nguyên, một phong trào đi tìm bản Nôm cổ Truyện Kiều đã được khởi phát. Ở hải ngoại, Nguyễn Bá Triệu (Mỹ) đã mượn được bản Nôm Đoạn trường tân thanh do Nguyễn Hữu Lập san cải, chép tay năm 1870 (bản này do Đàm Quang Hưng phát hiện) để biên soạn  Truyện Kiều - Chữ Nôm và khảo dị [8] xuất bản vào năm 1999. Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã nhận được bản sao Kim Vân Kiều tân truyện do Duy Minh Thị đem khắc in tại Phật Trấn – Việt Đông bên Trung Quốc năm 1872 từ nhà nghiên cứu Alexandre Lê ở Pháp rồi tiến hành hiệu khảo, đính ngoa theo phương pháp khoa học hiện đại về văn bản, ngữ học và xuất bản sách Tư liệu truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị[9] vào năm 2002. Tác giả đánh giá là bản Nôm cổ quý giá nhất.

        Vào năm 2002, nhà nghiên cứu Truyện Kiều, Nguyễn Quảng Tuân đã qua Paris, vào Thư viện Liên trường Đại học Ngôn ngữ Đông phương đã tìm được bản Nôm Liễu Văn Đường 1871, đời Tự Đức thứ 24 và đã cho ra đời sách Truyện Kiều – Bản Nôm cổ nhất Liễu Văn đường 1871 [10]do ông phiên âm và khảo dị. Năm 2004, ông phó giám đốc Thư viện Nghệ An Đào Tam Tỉnh tình cờ tìm thấy tại gia đình thầy Nguyễn Thế Quang (Thanh Chương, Nghệ An) một bản khắc in Kim Vân Kiều tân truyện do nhà tàng bản Liễu Văn Đường xuất bản năm 1866, đây là bản Nôm thuộc hàng cổ nhất hiện nay và Nguyễn Quảng Tuân đã dựa vào để phiên âm, khảo dị và biên soạn sách Truyện Kiều - Bản Nôm Cổ Nhất 1866 [11] cùng năm 2004, nhưng do bản này bị mất 18 tờ (36 trang gồm 864 câu) nên soạn giả đã bổ khuyết bằng các trang của bản Nôm cùng nhà in là Liễu Văn Đường 1871.

          Cũng vào năm 2004, nhà nghiên cứu Truyện Kiều Nguyễn Khắc Bảo và Nguyễn Trí Sơn phiên âm khảo đính bản LVĐ1866 để ra đời cuốn Truyện Kiều: Bản cổ nhất - khắc in năm 1866. Liễu Văn Đường - Tự Đức thập cửu niên [12], các tác giả đã lấy bản Nôm Thịnh Mĩ Đường 1879 để bổ khuyết những trang bị mất của bản LVĐ 1866. Sau đó đến năm 2009 Nguyễn Khắc Bảo khai triển và biên soạn cuốn Truyện Kiều – Văn bản hướng tới phục nguyên [13], cũng kết hợp 2 bản LVĐ 1866, TMĐ 1879 lại thành 1 bản cổ và tham chiếu trên 40 văn bản chữ Nôm, Quốc ngữ nhằm phục nguyên Truyện Kiều với rất nhiều từ cổ được xem là gần lời Nguyễn Du.

        Nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Thạch Giang xuất bản sách  Đoạn trường tân thanh – Bản khắc năm 1834 [14] vào năm 2005. Tác giả phiên khảo, đối chiếu, khảo dị với các bản Nôm Quan Văn Đưởng 1906 và bản Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim.

         Năm 2006, nhà nghiên cứu Hán Nôm Đào Thái Tôn, ngược lại với Nguyễn Tài Cẩn, lại lấy bản LVĐ 1871 được đánh giá là bản tiêu biểu của Truyện Kiều hệ Thăng Long ít bị nhuận sắc nhất để  biên soạn sách Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều - bản Liễu Văn Đường năm 1871[15], tác giả vận dụng phương pháp văn bản học và  ngữ âm lịch sử - đính ngoa để trả lại “nguyên lời Nguyễn Du”.

         Năm 2013, Tiến sĩ Phan Tử Phùng đứng ra chủ biên sách Truyện Kiều Bản UNESCO. Quốc ngữ - Nôm đối chiếu [16], cùng hợp soạn có Phan Văn Các, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Thế Hào, Trần Đình Tuấn. Sách này được biên tập mới theo các tiêu chí đã được giới thiệu trong hồ sơ khoa học của Ban vận động đệ trình UNESCO, đề nghị vinh danh Nguyễn Du  nhằm chào mừng sự kiện Nguyễn Du, nhà thơ lớn, nhà văn hoá lớn của Việt Nam được UNESCO vinh danh. Sách chủ yếu lấy nội dung các bản Kiều Nôm cổ làm căn cứ, lấy tính phổ cập, tính lan tỏa rộng của Truyện Kiều và lấy sự trong sáng, rõ ràng của văn phong tiếng Việt làm tiêu chí để biên tập. Trong Tạp chí Hán Nôm, số 1/2013, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Cường đã có bài viết Phác thảo phương hướng biên khảo bản Truyện Kiều tầm nguyên tập giải trong điều kiện mới, tác giả đã tuyển chọn các văn bản cổ như LVĐ 1866, NHL 1870, LVĐ 1871, DMT 1872, Tăng Hữu Ứng 1874 để làm bản trục và tham chiếu nhiều bản Nôm và Quốc ngữ (kể các các bản dịch tiếng nước ngoài) với tiêu chí phiên Nôm chuẩn xác chữ Nôm theo ngôn ngữ của thời đại Nguyễn Du, chọn lựa các chú giải giá trị mang tính “cộng đồng”, kết hợp phân tích tâm lý, thi pháp và liên ngành: lịch sử, văn hóa, Nho giáo…, đối chiếu nguyên truyện.

          Năm 2015, hướng đến kỷ niệm 250 năm ngày sinh Nguyễn Du, Hội Kiều học Việt Nam và Nhà xuất bản Trẻ ấn hành sách Truyện Kiều[17] (Ấn bản kỷ niệm 250 năm năm sinh đại Thi hào Nguyễn Du). Sách mới chỉ phát hành phục vụ hội thảo quốc tế về Nguyễn Du do Viện Hàm lâm Khoa học Xã hội và UBND tỉnh Hà Tĩnh đồng tổ chức ngày 8/8/2015. Tập thể tác giả trong Ban văn bản Truyện Kiều gồm, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Nguyễn Văn Hoàn, Hoàng Xuân Khóa, Vũ Ngọc Khôi, Nguyễn Hữu Sơn,  Trần Đình Sử, Vương Trọng đồng biên soạn, hiệu khảo và chú giải dựa vào 8 bản Truyện Kiều chữ Nôm mà họ cho là đáng tin cậy. Các tác giả không chấp nhận việc đưa vào Truyện Kiều những chữ, những từ mới chưa từng có trong các văn bản Nôm đáng tin cậy trước đây và việc hiệu khảo phải căn cứ vào các bản Nôm khắc in ngay trong thế kỷ XIX, cụ thể là các bản Liễu Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường, Quan Văn Đường, Duy Minh Thị…Bản ảnh ấn Truyện Kiều phần chữ Nôm căn cứ theo thủ bút được cho là của Tam nguyên Vị Xuyên Trần Bích San (1838-1877), in lại trong Truyện Kiều tập chú của  Trần Văn Chánh do nhà Hán Nôm học Thế Anh hiệu chỉnh.

- Nhận định chung:

       Các công trình san cải, biên khảo trên về phục nguyên Truyện Kiều từ 145 năm qua (1870 đến 2015), có thể phân thành 2 loại: 1/ Chọn một văn bản Kiều chữ Nôm xem là bản gốc (hay bản sao nguyên gốc) từ chính thủ bút của Nguyễn Du để san cải, nhuận sắc và phiên âm, chú thích hoặc lấy bản Kiều  có niên đại cổ nhất hiện nay làm bản cốt yếu để hiệu khảo, đính ngoa và tham chiếu các bản Nôm, Quốc ngữ khác để có thể phục nguyên được nguyên lời, nguyên ý Truyện Kiều của Nguyễn Du. 2/  Tuyển chọn mấy bản Nôm Kiều cổ gần với nguyên tác nhất, có tầm quan trọng, tiêu biểu và tham chiếu tất cả các bản Nôm, Quốc ngữ khác để tiến hành phục nguyên lại Truyện Kiều. Ngoài tập truyền nhuận sắc, san cải quen thuộc của nhà Nho xưa, nói chung các tác giả hiện nay về phương pháp khảo cứu, đều chịu ảnh hưởng phương pháp của Học giả Hoàng Xuân Hãn: Chú trọng về giá trị bản Nôm xưa và gần nguyên tác nhất, áp dụng phép kỵ húy để xác định niên đại văn bản, đính ngoa lại chữ Nôm, từ cổ trong Truyện Kiều theo ngữ âm lịch sử và đối chiếu 2 bản Kim Vân Kiều chữ Hán gốc với bản chuyển thể chữ Nôm của Nguyễn Du để tìm lại nguyên lời, ý của nguyên tác Truyện Kiều.

        Tuy nhiên, do mỗi nhà mỗi ý, thuận theo tri thức, phán đoán của mình nên đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, chưa đi đến nhất trí về văn bản học để chọn văn bản Nôm nào xứng đáng hơn hết làm bản chính (bản trục). Bản NHL 1870 tuy là bản chép tay từ thủ bản của Nguyễn Du nhưng đã được san cải, nên khó biết chắc đâu là nguyên gốc và nhuận sắc nếu không đối chiếu kỹ lưỡng các bản Kiều xưa nhất hiện còn. Có bản được xem là gần nguyên tác nhất như bản PKC 1915, bản NTG 1834 nay không mấy ai tin tưởng vì không có chứng cứ văn bản chữ Nôm xác đáng về niên đại và ngay cả bản Kiều Nôm chép tay mà cụ Hoàng Xuân Hãn tin cậy thì hiện vẫn chưa ai tìm thấy mà có vẻ như đó cũng chính là bản DMT 1872 và bản này Nguyễn Tài Cẩn đã đánh giá là bản cổ nhất (thời điểm bản LVĐ 1866 chưa được khám phá). Chúng tôi đồng thuận với kết quả nghiên cứu rất thuyết phục của Đào Thái Tôn về DMT 1872 khi ông đánh giá là không đáng tin cậy và không xứng là bản Nôm cổ gần nguyên tác Truyện Kiều. Bản xưa nhất hiện nay có niên đại chính xác vẫn là bản LVĐ 1866 nhưng tiếc rằng bị thiếu mất 18 tờ nên Nguyễn Quảng Tuân đã dùng LVĐ 1871 để bổ khuyết còn Nguyễn Khắc Bảo chỉ bổ khuyết các trang thiếu của LVĐ 1866 bằng bản TMĐ 1879. Trong khi đó Đào Thái Tôn nhất định chỉ lấy LVĐ 1871 làm bản chính. Nhóm Phan Tử Phùng, Nguyễn Tuấn Cường ngược lại đã tuyển chọn một số văn bản chữ Nôm tiêu biểu, xưa nhất còn lại làm  bản trục rồi tham chiếu các bản khác (Nôm, Quốc ngữ) với tinh thần tích hợp. Riêng Hội Kiều Học đã dựa vào thủ bản Truyện Kiều chữ Nôm theo lời của cụ Giản Chi là do ông nội lưu lại, tương truyền là của Trần Bích San không phải là một văn bản có xuất xứ, niên đại đáng tin cậy.[18]

         Một khi chưa nhất trí cao về bản trục thì làm sao có thể tính đến giá trị khoa học của công việc hiệu khảo, hiệu đính, đính ngoa theo mục đích tái lập nguyên lời và ý của Nguyễn Du? Cho nên theo chúng tôi, trước hết cần thiết phải xác định thuyết phục văn bản Truyện Kiều chữ Nôm nào hội đủ điều kiện về văn bản học có niên đại chính xác và gần nguyên tác nhất.

 

2. Phác thảo Truyện Kiều phục cổ - Kim Vân Kiều truyện  金 雲 翹 傳

        Mọi người đều biết, kể từ khi Truyện Kiều ra đời và phổ biến, đã có rất nhiều dị bản xuất hiện và nảy sinh rất nhiều câu chữ dị biệt do truyền thống đính ngoa, nhuận sắc tự do của mỗi nhà. Nguyên gốc bản thảo của Nguyễn Du nay vẫn chưa tìm thấy, nếu tính từ năm 1820 sau khi Nguyễn Du qua đời cho đến năm 2015 (Truyện Kiều được xuất bản mới nhất) đã là 195 năm, gần  hai thế kỷ qua thì sự dị biệt so với nguyên tác rất là lớn, nhưng nếu chỉ tính từ 1820 đến 1866 là năm nhà tàng bản Liễu Văn Đường khắc in Kim Vân Kiều tân truyện (bản xưa nhất hiện nay) là 46 năm, nếu tính bản chép tay Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Hữu Lập năm 1870 là 50 năm và  bản khắc Liễu Văn Đường 1871 sẽ là 51 năm, nói chung 3 văn bản này chỉ cách xa năm mất của Nguyễn Du là khoảng nửa thế kỷ mà thôi. Như vậy: thời gian càng xa với thời điểm 1820 bao nhiêu, sẽ có càng nhiều dị biệt, sai lệch phát sinh bấy nhiêu và ngược lại, thời gian càng gần với thời điểm 1820 bao nhiêu thì sự dị biệt, sai lệch càng ít đi so  với nguyên tác bấy nhiêu. Đây là một sự thật hiển nhiên, nhưng rất quan trọng mà hầu hết mọi nhà đã lãng quên.

          Do đó chúng tôi chỉ chọn 3 văn bản cổ hiện còn có niên đại chính xác là LVĐ 1866, NHL 1870, LVĐ 1871[19] (xem hình)[20] làm văn bản

KieuHINH 20-dvt

cốt yếu[21] để hiệu khảo và lấy sự kết hợp của 2 bản LVĐ 1866 và LVĐ 1871, sau khi đã bổ khuyết, đính ngoa giữa 2 bản và tham chiếu bản NHL 1870 để mong có thể tái lập lại toàn vẹn bản LVĐ 1866. Hai bản LVĐ 1866 - 1871 cùng nhà tàng bản khắc in cách nhau 5 năm và đã được các nhà nghiên cứu (Nguyễn Quảng Tuân, Thế Anh…) xác nhận không khác nhau mấy về câu và chữ, có thể bổ khuyết và hiệu đính lẫn nhau để tái lập 1 bản hợp nhất. Nếu so với các bản Nôm khác sau chúng thì sự biến đổi, sai lệch cũng ít hơn  nên có thể được xem là đại diện cho bản Nôm gần nguyên tác nhất. Bản chép tay của nhà Nho Nguyễn Hữu Lập ở kình thành Huế có niên đại 1870, là một bản trung gian giữa thời kỳ 1866 – 1871 cũng là bản quan trọng để giúp nhận ra những chỗ nhuận sắc, san cải của Nguyễn Hữu Lập. Bản NHL 1870, có thể nói là bản tiêu biểu đầu tiên cho sự biến đổi, phân lập thành hai hệ văn bản: 1/ Hà Nội (hay còn gọi là bản Phường)  và 2/ Huế (hay còn gọi là bản Kinh) và từ đây lại phân rẽ thành một hệ khác đó là hệ Miền Nam, đại diện là bản DMT 1872, là bản chịu ảnh hưởng sâu sắc của 2 hệ Hà Nội và Huế.

         Một khi đã xác định được 3 văn bản cổ để làm bản cốt yếu (bản nền, trục) là các bản LVĐ 1866, NHL 1870, LVĐ 1871, việc đầu tiên và quan trọng nhất chính là phiên âm chuẩn xác cùng với việc đính ngoa chữ Nôm có tham chiếu cách phiên Nôm của các học giả tiền bối, quan trọng nhất là các bản quốc ngữ Truyện Kiều của Trương Vĩnh Ký, Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh vì các bản này rất phổ biến từ Bắc chí Nam và các tự điển, tự vị xưa như của Đắc Lộ, Béhaine, Taberd, Huỳnh Tịnh Paulus Của, Génibrel…. Tuy vậy, chúng tôi nhận thấy vẫn tồn tại những chữ Nôm, từ cổ trong Truyện Kiều mà hiện nay vẫn chưa hoàn toàn thuyết phục, vẫn còn nhiều tranh cãi, do đó cần thiết phiên âm, đính ngoa lại. Việc tham chiếu các bản Nôm và Quốc ngữ  khác chỉ chú trọng vào tiêu chí làm sao phục hồi được nguyên lời và ý của Truyện Kiều ở thời đại tác giả Nguyễn Du (1765 - 1820) chứ không phải là tuyển chọn cách đọc, nhuận sắc nào hay nhất rồi ghi nhận một cách máy móc[22]Sau khi đã đọc Nôm, đính ngoa chuẩn xác 3 bản cổ (1866 – 1871) chúng tôi sẽ tiến hành bổ khuyết, phục chế lại bản LVĐ 1866 đã bị mất 18 tờ bằng 864 câu ở bản LVĐ 1871. Có thể xác định những câu chữ của LVĐ 1871 dùng để phục hồi LVĐ 1866 là chính xác nếu đối chiếu với NHL 1870. Không có dấu vết chứng tỏ LVĐ 1871 đã tham khảo bản NHL 1870 vì sau khi Nguyễn Hữu Lập sao chép Truyện Kiều, hoàn thành vào sau tiết Trung Thu (tháng 8) năm 1870 ở  Bộ Công, Huế (ghi cuối lời tựa) thì phải một thời gian khá lâu sau mới phổ biến và bản DMT 1872 đã chứng tỏ sự ảnh hưởng này. Hệ văn bản Huế đã ảnh hưởng vào miền Nam hơn là miền Bắc, các văn bản Hà Nội hầu như độc lập không chịu ảnh hưởng từ hệ Huế (Đào Thái Tôn, Nguyễn Tài Cẩn). Có rất nhiều câu giống nhau giữa NHL 1870 với LVĐ 1866 và 1871, (nhất là ở những trang mà LVĐ 1866 bị khuyết ). Đáng chú ý là bản NHL 1870 có một vài chỗ giống LVĐ 1866 mà không giống LVĐ 1871 nhưng có chỗ lại giống với LVĐ 1871 mà không giống với LVĐ 1866, chứng tỏ cả 3 bản  đã từng tham khảo cùng 1 bản chung nào đó, có thể là rất gần nguyên bản của Nguyễn Du. Những chỗ khác nhau giữa NHL 1870 và LVĐ 1866 – 71 đều do Nguyễn Hữu Lập tự ý nhuận sắc, hay kỵ húy để tạo  ra từ ngữ, câu mới nhưng có nhiều chỗ được khảo dị và ghi là “nhất tác” từ thủ bản của Tố Như. Do đó, từ bản đã phục chế (LVĐ 1866 – 71) trên nếu có những chữ Nôm, từ cổ xem ra không ổn về âm, nghĩa, không thuận với thi pháp, không phù hợp với nguyên truyện chúng tôi sẽ cân nhắc cẩn trọng để dùng  NHL 1870 thay cho một số chỗ cần thiết.

         Chúng tôi gọi là “phục cổ” Truyện Kiều chứ không có tham vọng tầm nguyên hay phục nguyên Truyện Kiều đúng như bản gốc.Phục cổ” là trở về với thời đại cổ xưa, càng gần thời điểm 1820 càng tốt vì như thế mới có hy vọng phục hồi lại gần với nguyên lời, nguyên ý của Thi hào Nguyễn Du. Văn bản Truyện Kiều phục cổ do chúng tôi tái lập sẽ lấy nhan đề khởi thủy do Nguyễn Du đặt là Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳 chứ không lấy nhan đề Đoạn Trường tân thanh hay Truyện Kiều như chúng tôi đã khảo chứng qua bài viết “Nhan đề gốc của truyện Kiều”[23].

 

3. Lời kết

        Suốt hơn một thế kỷ qua, biết bao các học giả, nhà biên khảo đã nỗ lực, dày công truy tìm văn bản Truyện Kiều xưa nhất với hy vọng có thể phục nguyên được một văn bản Truyện Kiều gần với nguyên tác của đại Thi hào Nguyễn Du và được mọi người đồng thuận cao về tính xác thật, khoa học. Nhưng, cho đến nay cũng chỉ dừng lại ở sự tương đối, tạm thời chưa đi đến nhất trí vì đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tranh luận giữa quan điểm và phương pháp luận của cá nhân và tập thể. Trước hiện trạng này, chúng tôi xin đề xuất một quan điểm và phương pháp khác với hy vọng góp phần tìm lại được một văn bản Truyện Kiều gần với nguyên tác của Nguyễn Du.

        Để hướng đến một văn bản cổ theo tinh thần “Phục nguyên văn bản Truyện Kiều được đồng thuận cao” của Hội Kiều học Việt Nam, chúng tôi đã phác họa một văn bản Truyện Kiều phục cổ - Kim Vân Kiều truyện dựa vào bản Nôm cốt yếu là LVĐ 1866 và tham chiếu, tích hợp LVĐ 1871, NHL 1870 nhằm phục chế 1 văn bản Truyện Kiều xưa nhất hiện nay, chỉ cách thời điểm đại Thi hào Nguyễn Du qua đời năm 1820 vào nửa thế kỷ. Trong văn bản này, chúng tôi sẽ không du nhập bất cứ từ ngữ, câu cú nào từ các bản Kiều Nôm sau 1871 khác với 3 bản chính yếu trên, dù những nhuận sắc đó có hay hơn. Nếu như sau này phát hiện ra một văn bản trước 1866, thì văn bản Truyện Kiều phục cổ của chúng tôi chắc chắn sẽ có những dị biệt ít hơn nhiều so với các bản từ sau 1871 đến nay. Chúng tôi hy vọng  rằng, với bản  Truyện Kiều phục cổ này, sẽ có khả năng tái hiện lại diện mạo Truyện Kiều vốn có, giữ gần đúng với nguyên lời, nguyên ý của tác giả Nguyễn Du.

ĐINH VĂN TUẤN
(Biên Hòa ngày 30  tháng 10 năm   2015)



Chú thích:



[1] Công văn Số: 701/BVHTTDL-DSVH ngày 06 tháng 03 năm 2013 nguồn:

http://cinet.vn/Documentdetail.aspx?sitepageid=40&documentid=3914

[2] Nguyễn Quảng Tuân (phiên âm – khảo dị), Truyện Kiều - Bản Kinh đời Tự Đức 1870, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. 2003

[3] Phạm Kim Chi (sưu tập và chú thích) Kim Túy Tình Từ, Nguyễn Thành Điểm xuất bản, Sài gòn 1917, NXB Tri Tân tái bản năm 1973

[4] Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim (Hiệu khảo), Truyện Thúy Kiều, Vĩnh Hưng Long Thư Quán xuất bản. (in lần thứ hai, chữa lại rất kỹ và rất đúng với bản Nôm cổ) 1927

[5] Vũ Văn Kính, Tìm nguyên tác Truyện Kiều, NXB Văn Nghệ TP. HCM & TT Nghiên Cứu Quốc Học-1998

[6] Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, Nxb KHXH. 1974

[7] Thụy Khuê-  Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Kiều, nguồn: http://thuykhue.free.fr/hxh/kieu.html

[8] Nguyễn Bá Triệu, Truyện Kiều - Chữ Nôm và khảo dị, Việt Lang Publishing House, Canada 1999

[9] Nguyễn Tài Cẩn, Tư liệu Truyện Kiều Bản Duy Minh Thị 1872. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2002

[10] Nguyễn Quảng Tuân (phiên âm – khảo dị), Truyện Kiều – Bản Nôm cổ nhất Liễu Văn đường 1871, NXB Văn học. 2002.

[11] Nguyễn Quảng Tuân (phiên âm – khảo dị - chú giải), Truyện Kiều - Bản Nôm Cổ Nhất 1866  mới phát hiện, NXB Văn học., Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.  2004

[12] Nguyễn Khắc Bảo và Nguyễn Trí Sơn (phiên âm khảo đính), Truyện Kiều: Bản cổ nhất - khắc in năm 1866. Liễu Văn Đường - Tự Đức thập cửu niên, NXB Nghệ An. 2004

[13] Nguyễn Khắc Bảo (Khảo đính và chú giải), Truyện Kiều - Văn bản hướng tới phục nguyên, NXB Giáo Dục Việt Nam,  2009

[14] Nguyễn Thạch Giang (phiên khảo), Đoạn trường tân thanh – Bản khắc năm 1834, NXB VHTT 2005

[15] Đào Thái Tôn, Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều - bản Liễu Văn Đường năm 1871, NXB KHXH 2005

[16] Phan Tử Phùng (chủ biên), Phan Văn Các, Thế Anh, Nguyễn Khắc Bảo, Trần Thế Hào, Trần Đình Tuấn, Truyện Kiều Bản UNESCO. Quốc ngữ - Nôm đối chiếu, NXB Lao Động 2013

[17] Theo Nguyễn Đức Cảnh, Truyện Kiều - Ấn bản đặc biệt kỷ niệm 250 năm năm sinh Đại thi hào Nguyễn Du, nguồn: http://www.thuvienhatinh.org/index.php/gioi-thieu-sach-moi/399-truyen-kieu-an-ban-dac-biet-ky-niem-250-nam-nam-sinh-dai-thi-hao-nguyen-du

[18] Nguyễn Quảng Tuân, Bản Nôm in trong quyển Truyện Kiều tập chú không phải bút tích của Trần Bích San, Tạp chí Hán Nôm số 3/2000

[19] Ba bản Nôm cổ này được lấy từ nguồn http://nomfoundation.org/nom-project/Tale-of-Kieu

[20] Các ảnh bìa LVĐ 1866, 1871 lấy từ nguồn: http://nomfoundation.org/nom-project/Tale-of-Kieu, riêng tờ bìa của NHL 1870, do thủ bản bị rách nát nên Đàm Quang Hưng đã phục chế lại nhưng đã bị Lê Thành Lân, Nguyễn Tuấn Cường  nghi ngờ không đúng gốc, nên chúng tôi chỉ trích trang cuối bài tự của Nguyễn Hữu Lập, có phần lạc khoản và tờ đầu tiên của nội dung Truyện Kiều để thay cho bìa sách, theo Nguyễn Quảng Tuân, Truyện Kiều – Bản Kinh đời Tự Đức – 1870, Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2003.

[21] Nguyễn Quảng Tuân trong tham luận Để tìm lại nguyên tác Truyện Kiều (Hội nghị chữ Nôm Quốc tế, Hà Nội. 2004 – Thư viện Quốc gia Việt Nam - Hà Nội) cũng đã đánh giá cao về 3 văn bản cổ này “Với ba bản Nôm cổ ấy, chúng ta có thể  dùng làm tư liệu  để  đối chiếu với các bản quốc ngữ đã được phổ biến rộng rãi mong sao tìm lại được nguyên tác của Nguyễn Du”, nhưng tiếc rằng tác giả chỉ chú trọng vào việc “đối chiếu” chứ không dùng 3 bản này nhằm “tìm lại nguyên tác Truyện Kiều”  như chúng tôi đã phác thảo để tái lập một văn bản tích hợp 3 văn bản cổ đó, có khả năng gần nguyên tác nhất. Quyển Truyện Kiều - Bản Nôm Cổ Nhất 1866 tái bản lần thứ 3 (2013), có sửa chữa kỹ lưỡng theo các bản Nôm cổ  của Nguyễn Quảng Tuân là một bằng chứng và sau này ông không có thêm một công trình nào khác liên quan đến.

[22] Xem Đinh Văn Tuấn, Một vài chữ Nôm và  từ cổ đặc biệt trong Truyện Kiều, Tạp Chí Ngôn Ngữ số 8/2013

[23] Đinh Văn Tuấn, Nhan đề gốc của Truyện Kiều , Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S. 6(113) (2014)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Mười Một 201512:50 CH(Xem: 59974)
Bạn lên một toa tàu / Giữa tiếng động ồn ào, cầm tấm vé / Trên tay, đập như cánh bướm / Bạn chăm chú tìm số ghế, không ngẩng đầu lên / Tìm mãi / Không thấy bên kia đường, bên kia sân ga, cuối đường hầm / Những người đưa tiễn bạn vẫy khăn /
22 Tháng Mười Một 201511:02 CH(Xem: 50614)
có một người vừa bỏ trần gian / theo gió mây về đến thiên đàng / mang trong tim trăm nghìn cung điệu / mang trong hồn vạn cánh thơ thơm /
22 Tháng Mười Một 20151:16 CH(Xem: 50296)
Thôi con ở lại,thầy về / Chân đi trong cõi mù che mất đường / Một mùa thu rớt trong hương / Lạnh lan từng kẽ tóc sương bơ thờ /
18 Tháng Mười Một 20154:52 CH(Xem: 41174)
Vô cùng thương tiếc Nhà văn PHÙNG NGUYỄN đã từ trần vào ngày 17/11/2015 tại Adventist Hospital, Takoma Park, tiểu bang Maryland, USA, hưởng thọ 65 tuổi.
15 Tháng Mười Một 20152:57 SA(Xem: 62481)
Sau một thời gian khá dài tạm ngưng xuất bản báo in của Hợp Lưu, chúng tôi quyết định sẽ theo chiếu hướng phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật truyền thông, để tái bản Tạp Chí Hợp Lưu in, đồng thời phát động việc ấn hành các tác phẩm có giá trị của các học giả và tác giả ngoài cũng như trong nước.
15 Tháng Mười Một 20152:36 SA(Xem: 67414)
Tác phẩm được chọn để mở đầu hoạt động của Nhà Xuất Bản Hợp Lưu là biên khảo mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu và Bà Hoàng Đỗ Vũ, về một đề tài sôi động dư luận suốt bốn thập niên qua, tức vấn đề “tranh chấp biển đảo” Đông Nam Á.
15 Tháng Mười Một 20152:00 SA(Xem: 41442)
Nhạc sĩ Anh Bằng, sinh ngày 5 tháng năm 1926, tại Nga Sơn, Thanh hóa. Ông đã đóng góp rất nhiều cho nền âm nhạc. Nhạc của ông đa dạng phong phú với đủ mọi giai điệu khác nhau. Ông định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1975, và kể từ đó cho đến nay, ông đã tiếp tục hăng say sáng tác nhạc. Cả cuộc đời ông gắn bó với âm nhạc, ông đã để lại hơn 650 nhạc phẩm trong kho tàng văn học nghệ thuật Việt Nam.
05 Tháng Mười Một 201511:57 CH(Xem: 58910)
Aviva Imhoff, nguyên giám đốc truyền thông Mạng Lưới Sông Quốc Tế / IRN, đưa ra nhận định: Trung Quốc đang hành xử một cách hết sức vô trách nhiệm. Chuỗi đập Vân Nam sẽ gây ra những tác hại vô lường nơi hạ lưu, gây rối loạn toàn hệ sinh thái con sông Mekong xa xuống tới Biển Hồ, nó như một chuông báo tử cho ngư nghiệp và nguồn cá vốn là thực phẩm của ngót 70 triệu cư dân sống ven sông.
02 Tháng Mười Một 201510:03 CH(Xem: 54098)
Nhớ, cho đến khi không còn nhớ được / Cho đến khi nheo mắt nhìn mây / Vẫn thấy tóc em môi em trong đó /
01 Tháng Mười Một 20155:00 CH(Xem: 58401)
Đêm trước khi ông chết, vợ ông để ý nghe có tiếng chim trên cây bên hông nhà kêu gù gù mấy tiếng. Bà thì thào với mấy con: “Đây là điềm xấu cho ba con rồi. Người ta nói chim cú đến nhà kêu ba tiếng là trong nhà có người sắp chết”. Cậu con trai nói với mẹ là cậu đã nhiều lần thấy mấy con chim nầy lúc chập choạng tối thường bay về đậu nghỉ trên cây bên nhà chốc lát rồi bay đi mất.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7553)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14605)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13440)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13967)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1469)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1826)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1924)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1912)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1026)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2072)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1448)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 1867)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1172)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 1958)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2559)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4215)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1008)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1210)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1640)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2129)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10111)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26614)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33223)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33244)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7859)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10306)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1469)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3274)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3178)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3094)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3440)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4854)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4447)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5748)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.