- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,469

MÂY TRONG NHỮNG GIẤC MƠ

22 Tháng Tám 20155:48 CH(Xem: 16168)



LU QUYNH-MTNGMo



Sau hai tập thơ đã ấn hành (Sinh Nhật Của Một Người Không Còn Trẻ, NXB Văn Mới, Califorina, 2009 - Những Giấc Mơ Tôi, NXB Văn Mới, California, 2013), cuối tháng 7.2015 vừa qua, nhà thơ Lữ Quỳnh đã ấn hành tiếp tập thơ thứ 3, "Mây Trong Những Giấc Mơ", với một tâm thức nhẹ nhàng, thanh thoát như Mây và một cảm xúc sâu lắng, nhưng rất an nhiên tự tại:

 

giao thừa thức giấc
nhìn vầng trăng khuya
lời ba la mật
thoảng giữa trời hương
âm âm tiếng hạc
bài kệ đầu năm
mở lòng. bát ngát
một trời sao đêm
mười trang đại nguyện
vọng từ đáy tim
con. nam mô Phật

 

(Bài Đầu Năm 2015)

 

Phải chăng, Phật pháp đã giúp cho nhà thơ nhận chân được cái đang-là của Thực Tại Hiện Tiền đang trôi chảy bất tuyệt, của cái Không-Thời-Gian đẹp ngất vĩnh hằng? Phải chăng,  đây cũng chính là bản giao hưởng tuyệt hảo của "lời ba la mật"? Phải chăng, đó cũng là nơi chốn tối hậu, tột cùng của Thơ, của niêm hoa vi tiếu tịch mịch sấm động chân như diệu nghĩa huyền chi hựu huyền? Câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi.

 

Nhà thơ vẫn tiếp tục tự hỏi rồi tự trả lời một cách thơ mộng:

 

có khi lòng bỗng hoang mang
nhìn mây. mây xám. mưa giăng mịt mù
tưởng lòng trải với thiên thu
ngờ đâu lòng cũng thiên thu quan hoài
mưa rơi hiên vắng giọt dài
lắng nghe tiếng một. tiếng vài. chân như
bên kia bờ giác. thực hư
trăm năm đợi bóng trăng từ ngàn năm
và tôi nay cũng trăng rằm.

 

(Bờ Kia)

 

"tưởng lòng trải với thiên thu / ngờ đâu lòng cũng thiên thu quan hoài". Hai câu thơ thật cảm động sau những trải nghiệm dài lâu trong cuộc đời, nhìn nhận và thấu hiểu về Chân Không Diệu Hữu của vạn pháp. Hạt bụi mong manh của kiếp người đã, đang và vẫn "thiên thu quan hoài", để rồi nhà thơ tự cảm thán với tất cả niềm bi mẫn, "và tôi nay cũng trăng rằm".

 

Quy luật của đời người, sinh-lão-bệnh-tử, bất cứ ai cũng phải thọ nhận, bất khả khước từ. Vấn đề là, cung cách thọ nhận thế nào, ra sao? Xin hãy đọc chẫm rãi cách thọ nhận của nhà thơ:

 

cám ơn mùa đã đến rồi

niềm vui chợt dậy trong tôi xám ngần

mưa phùn gió bấc tình thâm

thắp lên ngọn nến bâng khuâng cuối ngày

thân tâm lạnh suốt mùa này

áo phong sương rũ bóng gầy lẻ loi

đông qua óng ánh vàng rơi

vàng rơi. chánh niệm vàng rơi. rơi vàng

 

(Làm Bạn Mùa Đông)

 

Ngôn ngữ thơ rất dung dị, chân thành. Nhưng ở phía trong, phía dưới mạch ngầm của chữ thơ, câu thơ lại có tiếng vang trầm sâu, vọng lại niềm tri ân, tri ngộ, "đông qua óng ánh vàng rơi / vàng rơi. chánh niệm vàng rơi. rơi vàng". Trước đây, Bích Khê có "Vàng rơi vàng rơi thu mênh mông" (Tỳ Bà) - Giờ đây, Lữ Quỳnh có "đông qua óng ánh vàng rơi". Hai màu vàng đều có một khoảng không gian rộng, "mênh mông", "óng ánh", nhưng "vàng rơi" của Lữ Quỳnh khi "Làm Bạn Mùa Đông" lại quay về "chánh niệm vàng rơi"! Phải chăng, đây là màu vàng của diệu âm, diệu pháp, khiến cho nhà thơ tận hưởng được hết niềm an lạc trong cô độc với "mưa phùn gió bấc tình thâm", "thân tâm lạnh suốt mùa này"?"vàng rơi. chánh niệm vàng rơi. rơi vàng". Câu thơ cuối của bài thơ mở ra những phương trời "óng ánh" linh lung giữa thực và mộng, gây không ít cảm xúc cho người đọc.

 

Cũng chính từ "vàng rơi. chánh niệm vàng rơi. rơi vàng" ấy, "áng mây vàng" linh diệu đã hiện ra, khi nhà thơ trong buổi xế chiều của cuộc đời, tưởng niệm về người Mẹ dấu yêu của mình:

 

giọt nước đựng trời mây

tàn hương bay lấp lánh

lắt lay bóng mẹ về

tóc con chừ điểm bạc

 

tám năm ngày mẹ đi

vẫn nụ cười trên mộ

trần gian đường gập ghềnh

hoàng hôn đời lệ nhỏ

 

một năm rồi mười năm

chỉ dài như hơi thở

thanh tịnh quang chân tâm

áng mây vàng tưởng niệm

 

(Áng Mây Vàng)

 

Hình ảnh của Mẹ, chính là "Áng Mây Vàng" mà nhà thơ hằng kính ngưỡng trong tâm thức, Nhất là trong buổi xế chiều của cuộc đời, sự kính ngưỡng ấy càng lắng sâu hơn, "một năm rồi mười năm / chỉ dài như hơi thở / thanh tịnh quang chân tâm / áng mây vàng tưởng niệm". Để rồi:

 

chừ nhìn mây bay

nhớ làm sao mẹ

đời mãi loay hoay

thương hoài bóng xế

ngày qua mỗi ngày

quán chiếu bát nhã

lệ ứa đêm dài

nghe kinh báo hiếu

 

(Tóc Mây Bay)

 

Cõi Thơ của Lữ Quỳnh trải dài hơn nửa thế kỷ qua, thấm đẫm một tâm hồn nhân hậu, dịu dàng. Đặc biệt, giọng thơ dung dị, chân thành, không hề làm dáng, kiểu cách, càng tôn thêm vẻ đẹp trong sáng trong thơ ông. Đối với bằng hữu thân thương, ông luôn có những hồi tưởng, cảm hoài "mênh mông nỗi buồn tử biệt", dẫu vẫn biết "cuộc đời là những giấc mơ bay":

 

sao Sơn về hoài trong giấc mơ tôi (*)

đêm thì ngắn mà giấc mơ trùng điệp

những niềm  vui bạn bè đem đi hết

để mình tôi ngồi  giữa quạnh hiu

sinh nhật cuối anh nâng ly cười nói

bên phạm duy.bảo phúc. từ huy

mười lăm năm rồi không nói năng chi

nhà cũng rượu cũng hoa. mà hương khói

anh có vui bên kia bờ. bến đợi

bạn bờ này. còn đếm nửa bàn tay

biết cuộc đời là những giấc mơ bay

và tự tánh quang minh bất sinh bất diệt

lòng vẫn mênh mông nỗi buồn tử biệt.

 

(Sinh Nhật)

(*) Sơn: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ghi chú của người viết.

 

Tình cảm của nhà thơ dành cho bằng hữu thật sâu nặng, như khi viết về "Người Ngồi Khâu Di Sản", khi nhớ về người bạn thân thiết của mình, nhà văn Trần Hoài Thư, thật chí tình, chí nghĩa:

 

thương bạn ngồi khâu di sản

văn học miền nam hai mươi năm

tóc bạn trắng. trắng như mây

tóc bạn trắng như tuyết New Jersey

thương bạn. thương bạn  lắm

văn học miền nam thì mênh mông

làm sao bạn khâu hết

cặp kính lão dày trể xuống

kim đâm vào tay không biết đau

lưng  bạn còng bảy mươi ba tuổi

bảy mươi ba năm ít ngày vui

năm tháng dài trả nợ sông núi

nhỏ máu từng trang viết ngậm ngùi

hai mươi năm di sản mây trôi

chỉ mình bạn ngồi khâu. khâu mãi…

 

(Người Ngồi Khâu Di Sản)

 

Nhà thơ cũng đã trải qua những giây phút hồi tưởng khi chìm vào trong giấc mơ bất chợt, một mình lặng lẽ nhìn "Biển Cát Tím Ở Big Sur" để thấy lại chính mình:

 

... thường trong giấc mơ

nhập nhòa hoàng hôn tím

có đứa bé vừa đi vừa nhìn lại dấu chân mình

vừa đi vừa nhìn sóng…

 

... đứa bé vừa đi vừa nhìn lại trong giấc mơ

là tôi. không đứng vững

mắt hoa vàng nhảy múa. không biết vì nắng

hay trái tim đang loạn nhịp thời gian.

 

(Biển Cát Tím Ở Big Sur)

 

Đó là giấc mơ rất đẹp, rất lung linh giữa Thực và Mộng. Thời gian không loạn nhịp, mà đang chảy trôi trong từng sát na tinh khiết của Thực Tại Hiện Tiền. Giấc mơ? Thì đã sao! Thực Tại Hiện Tiền? Thì đã sao!

 

Nhiên vậy!!!

 

Hãy nghe nhà thơ tâm sự tiếp:

 

trong những giấc mơ

ký ức trắng

như tấm gương soi

không giữ lại bóng.

 

trái tim tôi

sáng nay cho đi nhiều giọt máu

có hồng lên bầu trời

ngày cuối năm tuyết giá

 

lời vô ngôn

những giấc mơ nồng nàn

lạ lẫm…

sáng ra không nhớ gì.

 

chỉ là cõi hoang

chập chờn mây và mây…

 

(Mây)

 

Nhà thơ đã nhập thân vào Mây. Mây tinh khiết như giấc mơ. "lời vô ngôn / những giấc mơ nồng nàn / lạ lẫm" để rồi, "sáng ra không nhớ gì / chỉ là cõi hoang / chập chờn mây và mây". Thực và Mộng nhất quán trong cõi Thanh Tịnh miên viễn. Thơ đã dậy lên màu hương chín để cất lên tiếng hát diệu kỳ giữa thinh không diệu vợi!

 

"Mây Trong Những Giấc Mơ" đã có những chiêm nghiệm thật sâu lắng về Không-Thời-Gian, vẫn thấm đẫm Tình Đời, Tình Người. Nhà thơ, như một hành giả đang lặng lẽ Nhìn, lặng lẽ Thấy và lặng lẽ Nghe. "Mây Trong Những Giấc Mơ" cũng chính là những tâm tình chân thành nhất mà nhà thơ muốn trao gửi đến bạn đọc và bằng hữu xa gần.

 

Nguyễn Lương Vỵ

Calif., 05.08.2015

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 972)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1061)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1766)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5785)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5772)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13142)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29984)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81083)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20210)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 241)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”