- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KHÔNG TÌNH YÊU NÀO BẤT HẠNH

21 Tháng Năm 20151:56 SA(Xem: 61462)
LTS: Chúng tôi nhận được bài phỏng vấn từ Dịch giả, nhà nguyên cứu văn hóa Phan Hồng Giang, đó là bài phỏng vấn được thực hiện bởi nhà thơ Hồng Thanh Quang phỏng vấn ông về : Sêkhốp, về vấn đề trí thức, về Hoài Thanh, và về... tình yêu...Tuy bài đăng ở báo "lề phải" nhưng bài phỏng vấn có những "giá trị" cao hơn là "chính trị" ở xứ Âu Lạc, nên dù ở báo "lề phải" hay "lề trái" chúng tôi xin được mạn phép chia sẻ cùng quí văn hữu và độc giả Hợp Lưu.
TẠP CHÍ HỢP LƯU


NGUYEN HONG GIANG-bw
Dịch giả, nhà nguyên cứu văn hóa Phan Hồng Giang



 

            " Nhắn tin cho tôi, ông dặn : “Đừng đề TS trước tên của tôi, chỉ cần ghi là Phan Hồng Giang là đủ !” Ở tuổi cổ lai hy, ông muốn bớt đi những thêm thắt không cần thiết cho cuộc sống của mình… Đối với tôi, ông luôn là một bậc bề trên cả về tuổi đời lẫn những gì chiêm nghiệm được trong cái gọi là “cõi đời bé tí” này. Và những gì ông nói luôn gợi mở cho tôi những suy nghĩ mới về những điều tưởng như rất cũ…" (Hồng Thanh Quang)

                                               

                                                    *

 

     Hồng Thanh Quang  :  Ông đã từng ở nước Nga bao nhiêu năm ?

     Phan Hồng Giang  :  Tổng cộng là 13 năm, gồm những năm học đại học, làm nghiên cứu sinh, thực tập sinh  và làm chuyên gia. Không quá nhiều và cũng không quá ít…

     - Tôi thấy nhiều người sang Nga làm luận án tiến sĩ  nhưng lại chọn toàn những đề tài mà chắc chắn các chuyên gia Nga  không thể am hiểu bằng người mình. Đề tài luận án tiến sĩ của ông là gì ?

    -  Có thể trong một đề tài cụ thể nào đấy (về các tác giả Việt Nam chẳng hạn) kiến thức  chuyên sâu về đề tài ấy của thầy hướng dẫn là không bằng người mình nhưng thầy giáo có thể truyền đạt cho nghiên cứu sinh ta phương pháp luận nghiên cứu, cách bố cục diễn giải các vấn đề đặt ra. Điều này là rất quan trọng với học vấn của NCS.

           Về phần tôi, tôi chọn đề tài luận án TSKH của mình là về tính quốc tế của văn học xô   viết. Tôi muốn khẳng định  rằng không có sự đứt đoạn từ văn học cổ điển Nga sang văn học Nga xô viết hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất của khái niệm này. Tiếp nối những giá trị truyền thống cao quý của văn học Nga, văn học Nga xô viết mang đậm tính quốc tế -  tính nhân văn, tính vĩnh cửu, tính nhân loại qua những tác phẩm ưu tú nhất của mình ( theo đánh giá của tôi).

      - Nhìn lại từ ngày hôm nay, ông vẫn hài lòng về luận án của mình ?

      - Đã 30 năm qua kể từ lúc bảo vệ xong luận án, cảm giác của tôi bây giờ cũng như ngày ấy là cảm giác của một thợ cày vừa cày xong sào ruộng của anh ta hay của một người hoàn thành ổn thỏa vai diễn của mình trên sân khấu…

      - Chúng ta ai cũng là sản phẩm của một hệ thống giáo dục nhất định. Ông nghĩ sao về hiện tượng “khỏi vòng là cong đuôi” khi một số người luôn tìm mọi cách gièm pha chính cái môi trường đã góp phần tạo dựng cho họ hành trang tri thức mà họ đang sở hữu ?  Phải chăng trí thức luôn là phản tỉnh ?

      - Thực ra trong cái vốn học vấn (tôi muốn nói đến lĩnh vực khoa học xã hội & nhân văn) mà nhiều người trong chúng ta có hôm nay, theo tôi, phần từ học đường mang lại có lẽ chỉ chiếm không quá 30%. Phần chủ yếu là do tự ta thu nhận được từ những trải nghiệm, chiêm nghiệm qua công việc, sách vở và cuộc sống. Đôi khi với một số người, hoàn cảnh giáo dục còn có hiệu ứng ngược : Hồi nhỏ tôi đã từng nhiều năm học bên Trung Quốc. Cung cách sinh hoạt theo kiểu “trại lính”  chỉ càng mài sắc thêm trong tôi những khao khát về tự do, khiến tôi dị ứng hoàn toàn với những gì là áp đặt, là trói buộc.

              Nếu dưới góc độ  tình nghĩa , sự phủ nhận những gì đã nuôi dưỡng mình thời trẻ là điều đáng trách thì  nhìn từ góc độ khác - góc độ nhận thức chẳng hạn - sự từ bỏ những gì có thời mình đã ngoan ngoãn tiếp nhận đôi khi lại là điều đáng mong đợi. Lấy ví dụ như những người từng  học  ở Trường Plekhanov chuyên dậy quản lý kinh tế theo phương pháp kế hoạch hóa -  tập trung bao cấp thì đạt điểm càng cao sau này càng dễ gây tác hại (!) khi  làm việc trên thực tế. Họ chỉ có thể ăn nên làm ra khi “phản tỉnh”, ngộ ra một điều đơn giản : kinh tế thị trường là thành quả lớn lao của trí tuệ loài người.

      - Văn học và văn học Nga…  Ông là một trong những dịch giả thành công nhất trong việc đưa các nhà văn Nga lại gần hơn với độc giả Việt Nam. Nhiều người đánh giá cao các dịch phẩm truyện ngắn Sêkhốp của ông.  Ông có thể cho biết vì sao ông lại chọn Sêkhôp ?

      - Vì văn chương của Sêkhôp rất đẹp và dung dị, rất đời thường, đầy tính nhân văn mà không cao đàm khoát luận. Thêm nữa cái tạng của tôi lại thiên về thích đọc thể loại truyện ngắn (ngoài Sêkhốp là Bunhin, Paustovski…) và “ngại” những trường thiên tiểu thuyết…

       - Sêkhốp đã dành rất nhiều trang viết của mình để nói về thân phận những người trí thức Nga. Và phần lớn những nhân vật trí thức của ông  đều bất hạnh và dường như đều vô ích đối với xã hội. Ông có thể lý giải vì sao không ?

        - Trí thức là loại người chỉ sở hữu tài sản duy nhất là cái đầu có kiến thức sâu rộng, biết suy xét theo cách riêng và biết lo nghĩ một cách vô tư nhất  cho quyền lợi chung của dân tộc và đất nước. Ở những nước có trình độ phát triển cao về văn minh vật chất - tinh thần thường không còn mấy ai nêu lên và bàn thảo về vấn đề trí thức vì trên thực tế dường như nó đương nhiên đã được giải quyết thỏa đáng từ lâu ( nhờ đó mà xã hội mới phát triển ! ). Vấn đề trí thức thường chỉ được bàn đến nhiều, khi xã hội còn lấn cấn về vai trò, chỗ đứng của trí thức, còn chưa rõ ràng về mối quan hệ giữa  chính quyền, trí thức và đông đảo nhân dân.

             Nước Nga thế kỷ XIX là nước Nga của chế độ chuyên chế Sa hoàng      đầy hà khắc, một môi trường  thuận lợi cho những kẻ vô học  mà  nham hiểm (như tên trộm ngựa chuyên nghiệp Gr. Raspuchin,  kẻ đã leo lên tới vị trí điều khiển triều đình), nhưng lại là môi trường hoàn toàn ô nhiễm đối với những ai có tầm và có tâm !   Bởi vậy thật dễ hiểu tâm trạng chủ đạo của giới trí thức Nga khi ấy là chán nản khi phải đối diện với  những điều phi lý đầy rẫy chung quanh mà  chỉ còn biết bất lực đứng nhìn! Sêkhôp đồng cảm với tâm trạng ấy và ông day dứt đưa vào những trang văn của mình…

      - Phải chăng đa phần các trí thức Nga trong thời của Sêkhốp đều xa rời thực tế, không biết rõ những nhu cầu thực của xã hội, lại luôn bị mặc cảm và tự giày vò mình bằng những mâu thuẫn nội tâm nên rốt cuộc lắm chữ mà không hữu dụng ?

       - Tôi chia sẻ với nhận xét chí lý và tinh tế của anh. Điều này hình như là căn bệnh mạn tính của trí thức không may mắn ở nhiều thời, nhiều nước. Nhưng tôi muốn nói thêm : Họ đáng thương hơn là đáng trách, họ đã là nạn nhân trước khi có thể là “bị cáo” bất đắc dĩ !

      - Con người nói chung, đặc biệt là trí thức, cần phải có những  khao khát tinh thần lớn hơn những ham muốn vật chất thì may ra mới bảo toàn được nhân cách của mình. Tiếc thay phần lớn chúng ta  đều bị lôi cuốn theo những cái gọi là bả phù hoa. Và đó có lẽ là  lý do khiến trí thức đánh mất đi vai trò  cần có của mình trong xã hội. Ông nghĩ sao về nhận xét này ?

         -  Suy nghĩ khá tiêu cực của anh, không may cho chúng ta là lại được thực tế xác nhận. Tuy nhiên cũng phải nói cho hết nhẽ là lỗi ở đây không hoàn toàn thuộc về giới trí thức. Không phải là những người siêu phàm, việc họ lo toan cho đời sống của bản thân, của gia đình, vợ con là điều dễ hiểu. Miễn là xã hội đừng lợi dụng nhu cầu ấy của họ để đẩy họ vào tình cảnh phải đánh đổi sự  im lặng “ngoan hiền” để nhận sự bảo đảm về vật chất và không bị chăm sóc thái quá về tinh thần.       

     Không có quy tắc nào không có ngoại lệ : Bên cạnh số đông khó thoát khỏi cảnh vợ con bìu ríu, cũng có không ít người sẵn sàng chấp nhận rủi ro, dấn thân vào cuộc đối đầu không cân sức với quyền lực của dùi cui và còng số 8 với niềm tin về sự  chiến thắng của công lý. 
 

       - Tôi nhớ đến nhân vật giáo sư trong “Một câu chuyện tẻ nhạt” của Sêkhôp. Vị giáo sư đó đã đạt được nhiều thành tựu trong khoa học, có uy tín cao trên thế giới, gia đình yên ấm… Vậy mà ông vẫn không cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình… Hình  như càng có trí thức thì con người ta càng dễ bị rơi vào tâm lý không thỏa mãn với hiện trạng của mình, khi những gì đạt được dù có vẻ thành công bao nhiêu cũng không đáng kể gì so với những giá trị tinh thần và đạo đức mà ta đã đánh mất trong hành trình vươn lên ?

     -  Tôi đồng tình với nhận xét chua chát của anh . Nhà văn Nga đầu thế kỷ XIX Griboêđốp đã viết vở kịch kinh điển mang tựa đề “Nỗi khổ vì có trí tuệ”. Càng biết lắm ngóc ngách của nhân tình thế thái, càng dễ thất vọng. Thế nên chẳng phải các cụ ta khi xưa đã từng hay nói : “Thiên hạ ngu si hưởng thái bình…”  đó sao ? Nhưng lại cũng phải chua thêm rằng  thường chỉ là trong một xã hội đầy khuyết tật mang tính hệ thống thì  cái gọi là thành công của người trí thức mới phải bị đánh đổi bằng sự sa sút của các giá trị đạo đức, tinh thần.

        -  Sêkhốp từng để cho một nhân vật của mình nói : “ Tôi không tin vào giới trí thức của chúng ta, giới trí thức đạo đức giả, dối trá, thần kinh, vô giáo dục, lười biếng, tôi thậm chí còn không tin cả khi họ vật vã và than thở, bởi lẽ những kẻ chèn ép họ cũng xuất thân từ chính trong giới của họ. Khi họ còn đang là sinh viên thì đó là một tầng lớp người tốt, trung thực, đó là hy vọng của chúng ta, là tương lai của nước Nga, nhưng chỉ cần những sinh viên đó bước ra ngoài đường cái để tự lập, trở  thành người lớn thì hy vọng của chúng ta và tương lai của nước Nga lập tức tan thành khói và còn lại trên cái phin lọc toàn những tiến sĩ nhà cao cửa rộng, những công chức háo của và những kỹ sư biển thủ…”. Ông nghĩ thế nào về câu nói đó ?

        -  Đấy là tâm trạng thất vọng giận dữ đến cùng cực của chính Sê khốp trước thực trạng suy thoái đạo đức nhanh chóng mọi nơi mọi lúc của  đám sinh viên trẻ khi gia nhập thế giới người lớn, những kẻ đã kịp thoái hóa từ lâu trong môi trường xã hội ô nhiễm vô phương cứu chữa. Trong cơn giận dữ , Sê khốp khó tránh rơi vào phiến diện, vơ đũa cả nắm. Dù sao thì tôi vẫn tin dòng chảy chính của cuộc đời phải là dòng trong, dòng của cái thiện, cái đẹp; “hết cơn bĩ cực đến thời thái lai !”.

       - Mọi sự so sánh, tất nhiên đều khập khiễng. Nhưng ông có thấy những nhân vật trí thức của Sêkhốp có những nét gần với những trí thức khổ hạnh trong một số tác phẩm của Nam Cao không ?

        - Nam Cao quả là gần gũi với Sê khốp cả về chủ đề tư tưởng-nghệ thuật cũng như về lối viết. Với các tác phẩm Sống mòn, Đời thừa, Trăng sáng…, Nam Cao đem lại cho văn xuôi Việt Nam hình ảnh khó quên về những người trí thức nghèo, bế tắc trong cuộc mưu sinh khó nhọc, thất bại trong việc thực hiện những mong ước nhỏ nhoi  rồi chết dần chết mòn trong sự lãng quên của  người đời…

        -  Ông nghĩ thế nào về nhận xét, ở đâu mà giới trí thức không trở thành tầng lớp thực sự tiên phong, điểm tựa thực sự vững chãi, trí tuệ thực sự đạo đức thì tất yếu phải dựa vào sức mạnh hoang dã của các tầng lớp khác nhằm thay đổi cách thức phát triển xã hội. Và rốt cuộc những biến thiên chính trị sẽ tàn khốc với nhiều hệ lụy dài lâu ?

         - Theo tôi, nhận xét này quá chính xác và sâu sắc. Người xưa đã đúc kết  rành rẽ : “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Xã hội không lúc nào ngừng vận động mà sự vận động nào cũng cần có những thế lực dẫn đầu. Thế nên nếu dẫn đường không phải là “nguyên khí”, là trí tuệ với các chuẩn mực đạo đức tối đa, thì sự hỗn loạn, sự “hoang dã” như anh vừa nhắc tới  là khó tránh, hệ lụy sẽ rất nặng nề. Những gì đã và đang diễn  ra ở Lybia là bài học nhỡn tiền.

    Tương phản với tình trạng ấy là bức tranh chuyển hóa khá suôn sẻ ở nước láng giềng Myanmar : Tôi tin chắc rằng  tổng thống  Thein Sein cũng là một bậc đại trí thức như thủ lĩnh phe đối lập -  nữ chí sĩ Aung San Suu Kyi. Những quyết định sáng suốt bất ngờ cách đây vài năm của vị tổng thống  xuất thân nhà binh ấy đã dẫn tới  sự bắt tay giữa hai con người này, những người đại diện cao nhất  cho quyền lực chính trị và tinh thần của nhân dân nước bạn. Hành động này đã  thể hiện mạnh mẽ ý chí hòa hợp đoàn kết của cả dân tộc, đưa đất nước Myanmar chuyển mình êm thấm từ độc tài chuyên chế quân phiệt sang thể chế dân chủ trước sự ngỡ ngàng mừng vui của bạn bè khắp năm châu.

     -  Xin lỗi,  với bản thân ông, TS Phan Hồng Giang, có khi nào ông cảm thấy tiếc về việc gì đó quan trọng mà ông đã không kịp làm khi còn đương chức không ?

     - Nếu  bám sát từng chữ trong câu hỏi của anh thì tôi không trả lời được. Thứ nhất, tôi chẳng có “việc gì quan trọng” gắn với chức vụ tầm tầm trước đây của mình cả - công việc chính của tôi là quản lý một viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật mà như anh biết rồi đấy,  công việc gọi là nghiên cứu (nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội & nhân văn) ở xứ “con rồng cháu tiên” này nông sâu, rộng hẹp thế nào chẳng nhiều người quan tâm và không có ảnh hưởng gì đến …“hòa bình thế giới” (!). Thứ hai, nếu quả có việc gì đó quan trọng thật liên quan đến tôi thì một mình tôi  làm sao hoàn thành được mà tiếc hay không tiếc !

            Xin lỗi, tôi có thể đàm đạo tiếp với anh nếu anh cho tôi “nắn” lại câu hỏi trên của anh ?

-       Dạ vâng, xin mời ông !

-       Tôi muốn đổi thành : “ Có điều mong muốn rất lớn nào mà cho tới giờ , khi còn đang sống (!), anh vẫn chưa được chứng kiến ?”

           Tôi đã có  dịp tham gia công tác tư vấn ở  Hội đồng Chính sách khoa học & công nghệ quốc gia (1997 - 2001) và Hội đồng Lý luận TƯ (2002 – 06). Là người làm việc trong lĩnh vực văn hóa, tôi cảm nhận rõ ràng sự xuống cấp nhiều mặt của lĩnh vực này mà nguyên nhân bao trùm trước tiên lại không nằm ở bản thân văn hóa. Với nhiệm vụ tư vấn của mình, cũng như nhiều thành viên khác của Hội đồng, tôi đã bày tỏ sự mong muốn các cấp có thẩm quyền  tiến hành cải thiện tình trạng văn hóa chung của đất nước bắt đầu từ  sự thay đổi mạnh mẽ thể chế  theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ, thượng tôn pháp luật. (Ý tứ này tôi đã trình bày trong bài “Xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội – Bắt đầu từ đâu ?”; bài này sau đó đã được đăng trên tờ “Văn nghệ công an” số ra ngày 6/12/ 2006).    Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ sự cần thiết phải  tiếp tục tiến hành đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới chính trị. Tiếc rằng chúng ta chưa làm được bao nhiêu theo hướng này. Kết quả là hoạt động của bộ máy nhà nước còn thiếu minh bạch công khai, quyền làm chủ của người dân còn bị vi phạm khá phổ biến, tham nhũng hoành hành chưa có dấu hiệu bị đẩy lùi, một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên thoái hóa chính trị, đạo đức, lối sống nghiêm trọng… Nếu tình trạng này còn kéo dài, chậm được khắc phục thì không thể mong đợi điều gì tốt đẹp hơn cho nền văn hóa nước nhà. Và đây quả sẽ là điều nhức nhối khôn nguôi của tất cả những ai quan tâm đến vận mệnh đất nước.

    - Tôi nhớ đến cha ông, nhà phê bình Hoài Thanh. Cá nhân tôi vẫn cho rằng đó là một tên tuổi lớn trong đời sống văn học nước ta  thế kỷ XX. Với tư cách là nhà nghiên cứu văn học, ông đánh giá thế nào về nhà phê bình Hoài Thanh ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời ?

  -  Tôi nghĩ rằng nhận định của anh là đánh giá tổng thể  về  nhà phê bình Hoài Thanh mà tôi chỉ có thể tán đồng. Đi sâu vào các giai đoạn khác nhau trong sự nghiệp văn học của Hoài Thanh, ta có thể thấy đâu đó những ý kiến cho rằng Hoài Thanh trước 1945 hay hơn Hoài Thanh sau mốc đó. Theo tôi, đánh giá theo kiểu này ít nhiều mang mầu sắc chính trị hóa. Dù đối tượng phê bình của ông có thay đổi, thay đổi rất nhiều nữa là đàng khác, thì theo tôi, phong cách phê bình của ông từ trong cội nguồn vẫn là nhất quán – ông vẫn luôn trung thực với chính mình, vẫn “tự chiều mình” chỉ bình phẩm những gì cá nhân ông yêu thích, vẫn “lấy hồn ta để hiểu hồn người ”, văn chương của ông vẫn nhẹ nhàng, tinh tế và sâu lắng, không có vẻ gì là  đao to búa lớn.

             Không có cầu thủ nào đá trận nào cũng hay. Không có nhà văn nào  viết cái gì cũng “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Hoài Thanh cũng  không phải là ngoại lệ. Tác phẩm chưa hay vì nhiều lẽ khác nhau không tiêu biểu cho sự nghiệp của nhà văn. Chính những trang viết hay mới làm nên gương mặt nhà văn. Trước 1945, Thi nhân Việt Nam có thể nói là tuyệt tác xuất thần của ông khi vừa ngoài 30 tuổi. Sau 1945, ông  viết rất sâu, rất hay về  Truyện Kiều, về Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Hoa tiên, về cụ Phan Bội Châu. Ông ghi nhận một cách đầy thuyết phục sự xuất hiện ban đầu đầy hứa hẹn của Giang Nam, Thanh Hải, Lê Anh Xuân, Lưu Quang Vũ, Lý Phương Liên, Nguyễn Duy… Tập Di bút và di cảo  hàm chứa nhiều suy tư thâm thúy mà sinh thời ông chưa muốn công bố, được in ra năm 1993, cũng là cuốn sách nên đọc.

         Thiết nghĩ với một đời người qua đi như  chớp mắt, làm được nhiều việc hữu ích như Hoài Thanh đã làm thật đáng trân trọng.

 - Ông nghĩ thế nào về câu nói, một nhà phê bình văn học thường xuất phát từ một nhà văn không thành công ?

 - Tôi nhớ trong cuốn  Đaghextan của tôi có chi tiết khá hài hước được R. Gamzatov ghi lại trong sổ tay như sau :

              “Ở Trường Đại học văn học chúng tôi đã có một sự diễn biến thế này.   Năm thứ nhất – có 20 nhà thơ,  4 nhà văn xuôi và 1 nhà viết kịch. Năm thứ hai – có 15 nhà thơ, 8 nhà văn xuôi, 1 nhà viết kịch và 1 nhà phê bình. Năm thứ ba -  có 8 nhà thơ, 10 nhà văn xuôi, 1 nhà viết kịch và 6 nhà phê bình.  Đến cuối năm thứ năm – chỉ có 1 nhà thơ, 1 nhà văn xuôi, 1 nhà viết kịch, còn lại  tất cả  đều là nhà phê bình ! Chuyện  đó tất nhiên là chuyện tiếu lâm, phóng đại. Nhưng điều có thật là nhiều người  bắt đầu nghề viết  bằng thơ, sau đó chuyển sang viết văn xuôi, viết kịch  rồi cuối cùng viết các bài phê bình…”.

      Từ đây có thể nhận ra cái gọi là “hạt nhân hợp lý”  trong nhận xét anh vừa nêu : dường như viết phê bình là dễ nhất trong các thể loại văn chương.

      Thực ra lật xới sâu thêm có thể thấy ý kiến trên có phần phiến diện. Nói đến văn chương, ta mặc nhiên nói đến những trang viết hay, chất lượng cao. Những trang viết dở không đại diện cho bất cứ cái gì, thậm chi còn là tai họa cho người đọc, ít nhất cũng làm họ mất thì giờ quý báu của mình. ( Năm 1936, trong cuốn Văn chương và hành động, phàn nàn về tình trạng tràn ngập các tác phẩm dở trên văn đàn, Hoài Thanh từng van nài các nhà văn  nếu chưa viết được cái gì ra hồn, “ xin hãy làm  một việc đại ân đại nghĩa là … tạm ngừng viết !”). Dưới góc nhìn này thì có thể kết luận rằng trong bất cứ thể loại nào, viết được cho hay là điều rất khó như nhau. Tôi chưa từng biết người nào làm thơ dở, viết văn xuôi cùn mà lại có tác phẩm phê bình hay. Và xưa nay dường như  các cây bút đáng gọi là “tài năng phê bình” xem ra có vẻ rất hiếm hoi !

    - Ông đã bao giờ nghe thấy cha mình nói một lời tiếc nuối nào không về những gì đã viết ?

     - Nghe trực tiếp từ ông thì chưa nhưng tôi biết về cuối đời ông đã bày tỏ sự không hài lòng với những bài viết mang tính chất “tự kiểm điểm”, tự phê phán cuốn Thi nhân Việt Nam và cả những bài tham gia cuộc tranh luận về nghệ thuật với  các ông Hải Triều, Bùi Công Trừng, Phan Văn Hùm.

Ông không hề cổ súy cho quan điểm “nghệ thuật vị nghê thuật”, “trốn vào tháp ngà, ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi thống khổ của  dân vô sản” như các đối thủ đã gán oan cho ông. Ông chủ trương văn chương phải vị nhân sinh, nhưng phải là thông qua thứ văn chương mang đặc trưng nghệ thuật thực sự.

        Cuối đời, vào đầu năm 1982, khi tâm sự với con trai cả của mình là nhà văn Từ Sơn, ông đã đặc biệt trân trọng tác phẩm Thi nhân Việt Nam : “ Cha viết văn đã 50 năm, nhưng công việc  cha thích nhất là dạy học và bình thơ, bình thơ hay, vô luận là của ai. Cha biết văn chương của cha cũng vầy vậy thôi. Nếu không có cuốn Thi nhân Việt Nam thì không chắc gì  người ta đã công nhận cha thực sự là một nhà văn”. Xin nhớ : mãi 6 năm sau, đến năm 1988, cuốn Thi nhân Việt Nam mới hết gây e ngại và được phép in lại !

       - Sêkhôp  có nhiều truyện ngắn hay về tình yêu, lãng mạn, cảm động. Thế nhưng các tư liệu thực tế cho thấy, trong đời sống riêng tư, Sêkhôp rất bất hạnh.  Ông có thể lý giải điều này không?

       -   Tôi nghĩ điều anh nói không có gì lạ cả. Giữa câu chuyện được mô tả trong tác phẩm và cuộc đời riêng của tác giả không phải lúc nào cũng có sự tương đồng. Ấy là chưa nói đến việc nếu trong đời riêng gặp nhiều bất hạnh thì  biết đâu điều này càng khiến người viết đi tìm hạnh phúc trong thế giới tưởng tượng hư cấu để bù đắp lại sự thiếu hụt…, như nhà văn nghèo khó A.Grin đã  gửi gắm hy vọng của mình vào những Cánh buồm đỏ thắm đầy mộng ảo…

     Thực ra trong đời  Sêkhốp cũng đã có những tháng ngày hạnh phúc : Những lúc ấy, ông đã  được yêu và quan trọng hơn cả là  yêu được một người. Những  ngày vì bệnh tật, ông phải ở Ialta, một thành phố trên bờ biển phía nam nước Nga , trong xa cách với người yêu , sau này là vợ - nữ diễn viên Olga Knipe. Nàng đã viết cho ông những dòng thư đầy yêu thương : “Ôi, em thật muốn được ngồi trong căn phòng của anh, để nghỉ ngơi thật yên lành, thật yên lành bên anh, sau đó sẽ trêu chọc anh, nói đủ lời ngô nghê, pha trò cười cho anh. Anh còn nhớ không, anh đã tiễn em lên cầu thang, và cầu thang lúc ấy đã kêu cót két một cách đáng ghét ? Lần ấy em yêu anh quá chừng. Ôi, em cứ viết như  một con bé học trò mãi thế này …”.

     Sêkhôp đã đáp lại : “Em yêu thương, em thân thiết, cô diễn viên tuyệt vời của anh, anh vẫn sống, khỏe mạnh, anh đang nhớ tới em, khao khát gặp em… Trời vẫn không có một giọt mưa, tất cả đều khô héo, nói gọn lại là sau ngày em đi, ở đây thật buồn chán. Không có em, anh đến phải treo cổ lên mất thôi…  Trời vẫn nắng chang chang. Có đàn sếu bay qua , kêu buồn tẻ . Anh yêu em, Ôlia ạ”.

       Ngay cả khi gặp chuyện không mong muốn trong tình yêu,  đó chưa chắc đã là điều đáng phải than vãn. Cô gái Natali trong tuyệt phẩm cùng tên của I.Bunhin  đã nói với người yêu sau bao buồn khổ xa cách :  “ Không có tình yêu nào bất hạnh đâu anh ạ.  Lẽ nào điệu nhạc buồn nhất  trên thế gian này lại không mang đến  hạnh phúc ?”. Lý lẽ của cô Natali kể cũng dễ lọt tai đấy chứ ? Tôi nghĩ với Sêkhôp cũng vậy, chưa chắc ông đã là người bất hạnh trong tình yêu…

     - Câu hỏi cuối cùng : Dịch giả Phan Hồng Giang có cảm thấy mình là người hạnh phúc trong tình yêu ?

    -  Cứ theo quan niệm của cô Natali vừa nhắc ở trên thì kiểu gì tôi cũng là người hạnh phúc trong tình yêu. Nhưng thôi trả lời như thế thì có vẻ không nghiêm túc lắm. Xin nói thật với anh hồi còn trẻ tôi  cũng đã gặp không ít trắc trở trong tình yêu.  Nhờ giời là  đến tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh”,  tôi đã may mắn tìm được người ý hợp tâm đầu, biết yêu thương nhau, giúp nhau trong công việc, tôn trọng cá tính khác biệt của nhau, cùng chia sẻ những lo toan cho cuộc sống thường ngày và cho con cháu.

        Tuổi già không có gì quý hơn sự bình yên. Và tôi đã có nó./.

  ____________

 
NGUYEN HONG GIANG2

 Bài đã đăng trên phụ trương của báo Đại đoàn kết - Tinh hoa Việt, số 3

 ra ngày 10/5/2015                                                                       

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 201)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 122)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2308)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1499)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1368)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2371)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1878)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2521)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1768)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2276)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1768)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11681)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18260)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17306)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2371)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2521)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3796)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3824)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 201)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1877)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3527)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3159)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2307)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2276)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2426)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2623)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 122)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1499)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1368)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2542)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4370)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14840)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30986)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37636)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12687)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13994)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5030)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7491)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6634)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7034)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7968)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9718)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8944)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11841)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.