- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,702

Hạt Bụi Mặt Nạ Và Chiếc Bẫy

26 Tháng Mười 20144:44 CH(Xem: 18030)
Ngoi- tranh HLNTan
Ngồi- tranh Huỳnh Lê Nhật Tấn


 
Hạt Bụi Hư Vô


Phẳng lỳ lớp sương phủ

Tôi nhìn mặt kẻ thị phi

bày mua bán thứ tình vụn vặt

hồn cay xa tán

 

Bụi hạt xuôi dòng bám bàn tay tanh hôi

Tôi phủi nổi sầu vách gõ

cung bậc sóng âm cuộn tròn lên

tường ẩm thấp ám hiệu

ông mặt trời gió trăng

Rọi khúc chiếu thơm

 

Tình yêu rọi núi đồi bóng lưỡng

ngắm ngày đi khổ đau ùa mây phẳng lặng

xoắn ốc tình nhân gian

 

Ôi năm ngón chân khổ ải ghìm chặt

Người có cánh bay

héo khô sinh trong cõi tạm buồn than

 

Những lác hình gợi phản

ánh sáng đốp mắt người long lanh

màn sương chảy...

 

Hãy nhắm mắt lại đi

soi mình nhân lên từ bốn cõi quay

tên gọi hiện về

 

Trời gương soi bể tách

Rạn nứt tình nhau

 

Sài Gòn, 18.10. 2014-

 


Chiếc Bẫy Muôn Loài

Một người cầm cây gậy dài

điểm viên đá quý rơi xuống

nằm im 

đẩy tôi tung lên.

 

Đàn chim bay về trời

Lưới dâng cao tiếng yêu hót

mật ngọt gảy cánh

 

Tôi nghiệm mình bị rình mò

tìm cung đàn âm dương bí mật 

mê tiếng bổngtrầm

giao hưởng trùng xa

cất tiếng mài hang gió đá du dương

 

Đêm tình ái đánh mùi

bốc khói thơm lừng

kẻ đi tìm khung cửa vô tận

khỏa chặt muôn ý niệm tan ra

 

Giữa đời sống tội lỗi

đôi mắt ảo mị lạc lối

từng vòng sáng lòa xô

ẩn hiện đẩy ngã rẽ đi 

ta tìm kẻ mặc áo dèm pha

 

Lời bịa đặt trổ lời dối trá

tiếng nói của loài rắn độc

cắn tha ý nghĩ nát vụn 

chúng ta nổi dậy

phía sau mối thù dâng cao

vỗ về ba bốn ngã đường ngu si

tắt lịm vụt u lòng tham chiếu

 

Cơn đói rét ngụ giữa mùa đông

sinh tồn ló dạng máu đông bầy đàn

 

Tôi thả trên tay trái tim biếndạng

móc lá bùa lưỡi hôn nhau

dịu ngọt mê man ngất đi

 

Hai tờ giấy trắng đen

đổ bóng cháy đỏ 

biến loài người đi bốn chân

hai tay hóa miệng tru

vòng hoa dấu tích

loài vượn hú chơi nhau tìm đàn

 

Sài Gòn  3.10.2014

 



Cái Mặt Nạ

Mỗi người tự vẽ chính mình

khác biệt méo mó

chân dung nguệch ngoạc vòng

đôi mắt lấp ló sợ hải

giữa thần tượng rỗng

 

Tôi đi tìm mọi thứ khắc họa

ở bất cứ ai ?

 

Tôi vẽ từng lỗ thở đánh hơi từ yêu thương phập phòng

đẽo gọt chúng nơi không khí mọt ẩm

Rơi rớt vô vàn miệng căng 

động đậy hát ra lời viễn xứ

 

Những lỗ tai treo lên cây cột điện

ở giữa bốn bức tường đất

để hai chân ngồi bệch xuống nghe ngóng

dĩ vãng được rao bán khắp nơi

bởi dấu ấn đọa đày.

 

Đất nước tôi

tự vẽ cái mặt nạ quỷ

Người ta chỉ muốn đục khoét giành giựt

sự sống quanh đây

Tiếng khóc than cạn dần

 

Tôi sợ bộ mặt nạ đen đốm dưới nước trôi sông

lạ hoắc treo khắp muôn nơi...

 

Chúng ta đang sống trong giờ phút cưu mang

tâm trí hốt hoảng

Tư tưởng tản xa khắc cong hình lửa đỏ

Một hình người nằm co ro

 

Ôi mặt nạ muôn màu nở rộ

Màn kịch lũ diễn viên la hét

đánh khoáy cả sự thật

 

Tôi đúc ra từ nơi đâu?

tôi vứt chúng mà lột xác

Vì họ vẽ ra chính tôi từ cái mặt nạ

Trong tiếng khóc vô loài.

 

Huỳnh Lê Nhật Tấn

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5807)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5799)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13157)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30001)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81100)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 323)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”