- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,277

Báo chí thế hệ mới

24 Tháng Chín 20142:56 SA(Xem: 16559)



VOA 09-23_BAO CHI
Internet và kỹ thuật đang phát triển nhanh mau chóng thay đổi cách thức mọi người nhận tin tức và cách thức các nhà báo đưa tin. Nay có thêm những cách để kể chuyện nhiều hơn bao giờ hết so với trước đây. Thông tín viên VOA Elizabeth Lee tường thuật rằng Một trường học ở Los Angeles đang dạy cho các nhà báo thuộc thế hệ kế tiếp với sự hỗ trợ của phòng tin dùng kỹ thuật hiện đại nhất.

Khi Faith Miller muốn học ngành báo chỉ ở đại học, thì cô không nhận thức được kinh nghiệm thực tế sẽ ra sao.

“Tôi không trông đợi ở trường là tôi sẽ tường thuật những câu chuyện có thật và tôi không biết rằng sẽ phải dành bao nhiêu công sức để làm việc ấy.”

Khác với các bạn học đồng môn thuộc các thế hệ trước, sinh viên tại Trường Báo chí Anneberg ở Đại học Nam California học cách đưa tin dưới đủ mọi hình thức, trong đó có truyền hình, đài phát thanh và mạng Internet. Và theo ông Willow Bay, giám đốc Trường Báo chí, thì đấy chưa phải là tất cả. Ông nói:

“Ngày nay chúng ta trông đợi các nhà báo phải có khả năng sử dụng tất cả các loại công cụ kỹ thuật để tra cứu các câu chuyện, kiểm tra phần tra cứu, phân tích phần tra cứu ấy. Chúng ta trông đợi họ phải thông thạo các kỹ năng kể chuyện bằng các phương tiện đa truyền thông. Chúng ta trông đợi họ ngày càng là cánh tay tiếp thị và phân phối của chính mình, để đưa các bài viết của mình ra trước các cử toạ và phổ biến các bài viết đó càng xa càng tốt.”

Họ học tất cả các kỹ năng đó tại một trung tâm truyền thông mới toanh, được xây dựng như một phòng tin hiện đại. Có một văn phòng dự án luân lưu ở giữa trung tâm, với các màn hình theo dõi trên cao truyền nhiều kênh khác nhau. Hơn 90 bàn làm việc toả ra khắp phòng, nơi các sinh viên nghành báo chí làm việc về truyền hình, truyền thanh, và mạng Internet cùng nhau hợp tác.

Giáo sư ngành báo chí kỹ thuật số, ông Robert Hernandez nói các nhà báo tương lai cũng phải thông thạo về kỹ thuật, và điều đó có nghĩa là học các ngôn ngữ thảo chương điện toán cơ bản.

“Họ cần phải biết cách thức hoạt động của mạng Internet và có khả năng biến hoá cùng với mạng.”

Giáo sư Hernandez biểu diễn một số công cụ hiện đại mà các nhà báo mạng có thể dùng để tường thuật một cách khác:

“Bạn có thể tường thuật một quang cảnh dưới góc 360 độ qua điện thoại của mình. Ta có thể kể một cơn lốc trông ra sao, nó làm trốc gốc cây cối như thế nào. Qua điện thoại, có một ứng dụng có thể kết nối những hình ảnh lại với nhau.”

Sinh viên cũng có thể theo học một lớp trải nghiệm Google Glass, một thiết bị kết nối với mạng Internet và ghi lại hình ảnh cùng âm thanh.

Anh Will Federman, một sinh viên báo chí in và kỹ thuật số, nói:

“Tôi nghĩ chúng ta đang tiến vào một thị trường mà nếu ta không có hàng loạt kỹ năng rộng rãi và rất ít kiến thức về mọi thứ thì khó mà ta có thể tìm được một công việc.”

Mục tiêu không phải chỉ là chuẩn bị cho sinh viên vào thế giới thực tế mà còn giúp họ đủ thành thạo để thích nghi nhanh chóng với kỹ thuật luôn thay đổi.

Nhưng cùng với kỹ thuật mới là những vấn đề mới về đạo đức và các nhà báo tương lai phải cẩn thận dò dẫm. Đó là nhận định của giám đốc điều hành trung tâm truyền thông, bà Serena Cha:

“Trên vũ đài báo chí, ta phải cân nhắc cẩn thận. Làm sao để dạy cho sinh viên cách sử dụng các công cụ một cách có trách nhiệm? Phải, kỹ thuật mới thường nêu lên những câu hỏi mới bởi vì ta có thể thao túng sự thực còn nhiều hơn cả trước đây.”

Các thành viên trong ban giảng huấn nói cốt lõi của tất cả kỹ thuật này, là sinh viên vẫn cần phải học hỏi báo chí truyền thống: làm thế nào để viết và kể lại một câu chuyện một cách thuyết phục, mà vẫn chính xác, công bằng và cân đối.

Elizabeth Lee

01.09.2014
Nguồn: VOA Tiếng Việt

  • Từ khóa :
  • VOA
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1095)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1165)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1846)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5881)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5858)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13189)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30089)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81229)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 553)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối