- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Chuyện Đời Nay

24 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 62879)

ngannammaytrangbay-nghoangnam-content

Ngàn năm mây bay -ảnh Nguyễn Hoàng Nam


Bà Tư quay lưng bước vội vào máy bay, hình ảnh đứa con trai và hai đứa cháu nội đứng vẫy tay nhìn theo hằn sâu vào tâm trí đã cằn cỗi, nhàu nát của bà. Suốt đoạn đường lái xe ra phi trường, bà và thằng con trai cưng quý của bà đã không có một mẩu đối thoại nào, dù từ mấy tuần nay Bà đã không ngừng lẩm bẩm tới lui hàng trăm lần những điều muốn nói với con lần cuối. Quái, từ ngày xóm giềng đưa xác ông Tư về, bà đã trải qua bao nhiêu trận đói khát, xách nhiễu, một mình nuôi hai con khôn lớn giữa hai làn đạn, bà chưa một lần ngần ngại, chả sợ sống chết. Vậy mà bây giờ,ở ngay giữa lòng cuộc sống ấm yên no đủ này, trái tim đã được cuộc đời và tuổi tác tôi luyện của bà lại thường xuyên co thắt, rụt rè. Cánh cửa máy bay hạ xuống, một tay ôm ngực khi không đau nhói, tay còn lại bà quệt vội những giọt nước mắt bỗng dưng ràn rụa trên gò má nhăn nheo. Đằng sau cánh cửa đóng chặt đó là giọt máu, khúc ruột, tình yêu, lẽ sống duy nhất của bà.

Máy bay cất cánh lên tầng không, bên dưới trùng trùng lớp lớp những bãi tuyết tiếp nối nhau, trắng bóc một màu bôi xoá. Mặt hồ Michigan đóng băng cứng ngắt, lạnh nhạt chôn sâu quãng đời ngắn ngủi bà sống ở Mỹ với vợ chồng thằng Hùng. Vẫn cái thói quen hằng chục năm nay, bà lẩm bẩm nói chuyện với ông Tư. Có thể nào bà vừa tỉnh dậy từ một giấc mơ.Nhưng sao cái mùi đau xót, mất mát vẫn còn hừng hực đến thế, như cái mùi bốc lên trong chiếc xe lam ngày bà vĩnh viễn mất Ông.

Vài năm trước đây, lòng đầy tự tin, từ quê nhà bà đáp máy bay sang Mỹ sau khi nghe tin con trai và con dâu lục đục. Bà thật không hiểu nỗi cái thằng con dở hơi, có vợ ngoan hiền như con Hà mà cũng không đủ sức cột thắt thì làm được cái ngữ gì. Bà nhớ rõ như in ngày bà bị bệnh u nan tử cung phải vào nằm bệnh viện, con bé nhà quê hiền lành đã ngày đêm túc trực chăm lo săn sóc cho bà. Khi lâm bệnh nặng, gọi con trai từ Mỹ về, bà và đứa con gái của bà đã dàn xếp cho thằng Hùng lấy nó. Họ hàng xa không bằng láng giềng gần, con bé cùng quê thân thiết với con Thảo con gái bà, gần đây chăm sóc Bà như mẹ ruột, sẵn sàng là người vợ nâng khăn sẻ áo cho thằng con trưởng ở Mỹ chỉ biết nai lưng làm lụng kiếm tiền, chẳng có chút tơ tưởng, hiểu biết gì về giống cái.

Sinh ra và lớn lên ở miền quê lam lũ, Bà cần cù làm lụng, cuộc sống đơn thuần những buổi sáng làm ruộng cho đến khi trời chạng vạng tối về nhà lo trong lo ngoài. Ngày gặp ông Tư, bà trân trân nhìn bàn tay và khuôn mặt thư sinh trắng nõm như bức tranh sơn thuỷ đã có lần bà được thấy qua, rồi để yên cho tiếng tiêu êm tai và những ngón tay thoăn thoắt của ông vuốt cổ bà. Gia đình hai bên không môn đăng hộ đối, các cụ chê Bà gái quê ít chữ.Chỉ ba tháng sau, bà bỏ quê bỏ ruộng, ông bỏ nhà bỏ đất đưa bà ra Đà Nẵng lập nghiệp. Hai vợ chồng sống chật vật, ông Tư không một lần hối tiếc. Ngày thằng Hùng chào đời, bà quỳ sụp khấn vái tổ tiên, cầu cho thằng con sống khoẻ mạnh, no đủ, có chữ có nghĩa, quan trọng nhất bà cầu cho nó có khí khái của ông Tư. Khi binh đoàn của Ông Tư ra quân, bà một mình gánh thằng Hùng vượt xóm xuyên làng đem con về quê cũ.

Làng quê Bà nằm ngay trên tuyến đường binh lửa. Ban đêm Việt Cộng đến quấy nhiễu. Ban ngày lính quốc gia về ra oai. Ngày ngày bà còng lưng ra sức cầy cấy, đêm về bao nhiêu lúa gạo phải nộp hết cho bộ đội. Đói rách lam lũ là đời sống thường tình của dân nghèo trong xóm chợ. Khi thằng Hùng lên bốn và con Thảo mới ba tháng tuổi còn nằm yên trong bụng, đang gánh lúa ra chợ, bà đổ quỵ xuống khi chứng kiến cảnh thằng con bé xíu lẽo đẽo theo sau chiếc xe chở xác ông Tư về, vắt vẻo chân trong chân ngoài. Dân làng nói ông Tư bị đạn bắn vào thái dương, xác vứt bên kia núi. Người ta trao cho gia đình bà cái bằng tử sĩ trong khi tự tay bà đào đất mai táng chồng. Đặt tấm hình cái mặt còn non choẹt của ông Tư lên bàn thờ, bà thề độc sẽ mang hết sức mình bảo bọc thằng con thoát khỏi số phận cha chú nó.

Ông Tư mất đi, thằng Hùng con Thảo trở thành mạch sống duy nhất của Bà. Ngày tháng đốt rụi tuổi xuân. Cuộc sống cơ cực, khắc khổ khiến Bà gầy rộc, cằn cỗi hơn cây khô mùa hạn. Ban ngày bà bận rộn luôn chân luôn tay việc đồng áng, chật vật, tất bật miếng ăn. Ban đêm là lúc bà sống lại. Bà ngồi đăm đăm nhìn tấm hình ông Tư trên bàn thờ, lắng nghe tiếng tiêu ngày nào văng vẳng ru bà vào giấc ngủ đầy mộng, của những tháng ngày ngắn ngủi Bà cùng ông Tư xắn quần trầm mình dưới cái nắng gắt của cát biển Đà Nẵng, những đêm trời mưa âm ỉ ông Tư đốt củi, bà quấn chặt thằng Hùng ấm áp cuộn sát một bên. Người ta có thể cướp trâu, cướp đất, cướp nhà cửa của Bà, nhưng cái kho tàng quý giá bất khả xâm phạm chính là tình yêu son sắt bà có với Ông.

Thằng Hùng ngày càng khôn lớn, được gia đình ông Tư thương yêu, dạy dỗ, nuôi ăn nuôi học. Niềm vui duy nhất của bà là khi nghe người ta khen nó nhìn giống ông Tư như khuôn đúc. Mà quả thật như vậy, mặt mày nó trắng trẻo thư sinh, chữ nghĩa lưu loát, lớn lên ngoài đồng ruộng, mà mắt nó sáng rực mỗi khi Cô Út mang về cho cuốn sách mới. Bà chạy chọt cho con đi học trường cao đẳng sư phạm. Khi ra trường, lý lịch tối, bà lại ra công đút lót mua cho nó cái chân giáo viên quèn ở trường làng bên kia núi. Tưởng là yên ổn, ngày công an đến gọi thằng con đi nghĩa vụ quân sự, bà lên cơn chửi đổng.Tổ cha cái xứ sở khốn nạn, mẹ con bà chả có nghĩa vụ gì với cái đất nước cùng khổ này nữa. Ba ngày sau, khi thằng Hùng vừa tròn 23 tuổi, bà bấm bụng đẩy con lên tàu vượt biển. Mới ngoài tuổi 43, tóc bà bạc trắng qua đêm, bà mất ăn mất ngủ cho đến ngày được tin chiếc tàu mang thằng Hùng đi khỏi cuộc đời bà đã đáp bến bình an.

Đêm hôm đó bà quỳ trước bàn thờ. Lần đầu tiên kể từ ngày ông Tư mất, bà cho phép mình khóc ròng. Những giọt nước mắt chảy ngược từ bao năm được dịp xối xả. Bà khóc như trận mưa đầu mùa, gội rửa cho ráo những tháng ngày bất hạnh, những nỗi sợ hãi, những cơn ám ảnh. Bà khóc mừng thằng con đã thoát khỏi cái chết, cái nghèo, cái số phận bi thảm, bất an của dân tộc bà. Bà khóc thương cho cái cảm giác ly tán, mất mát mơ hồ.Từ nay về sau, bà sẽ chẳng bao giờ còn có dịp chăm chút cho thằng con cưng quý nữa.

***

Ngày đặt chân xuống thành phố tuyết trắng, lòng bà rộn ràng biết mấy. Thằng Hùng dang tay ôm Mẹ, bà vừa hít ngửi, vừa luống cuống, lọng cọng vuốt cái mặt, cái đầu, cái lưng dài của nó. Niềm vui hội ngộ chưa đầy, bà đưa mắt nhìn quanh, mặt bà đanh lại: “Vợ con mày đâu sao không thấy?” Thằng Hùng thản nhiên: -Tụi nhỏ đi học. Hà đang ở HorseShoe? Bà trợn mắt: -Ho sù cái gì? Mẹ hỏi sao con Hà không đi đón Mẹ? Thằng Hùng chậm rãi: -HorseShoe là sòng bài cách nhà chừng một tiếng đồng hồ lái xe. Hai hôm nay Hà ở lại HorseShoe không về nhà.

Suốt đoạn đường lái xe, thằng Hùng im lặng, bà Tư mở mắt thao láo nhìn đường xá, quang cảnh, miệng kể chuyện huyên thuyên. Xe lái xuyên qua những cánh đồng trắng xoá, những hạt tuyết trắng rơi lan man như những hạt mưa bụi ở quê bà, bao phủ, bủa vây tứ phía. Bà chặc lưỡi: -Băng tuyết phủ kín đồng ruộng cây lúa làm sao sống nổi hả con? Cũng chẳng buồn chờ thằng Hùng trả lời, bà nói tiếp chuyện nhà, chuyện họ hàng, chuyện xóm làng. Nói đến chuyện xu gia, bà chép miệng: -Sao mày im thin thít thế kia. Kể chuyện vợ con cho mẹ nghe. Hai đứa bây có chuyện gì?

Ngày tháng trôi qua ở Mỹ, đã nhiều ngày, nhiều tháng Bà ở với con trai, con dâu và cháu nội. Chuyện vợ chồng thằng Hùng mãi đến bây giờ bà cũng không hiểu ra. Đàn bà đàn ông ở thời đại này, trên cái xứ sở quái đản này, cứ như loài dã thú không đầu không đuôi, không trước không sau.Thuở xưa còn ở quê nhà, trước khi thằng Hùng từ Mỹ về, con Hà quấn quít bên Bà không rời một bước.Tướng tá tròn trịa có vẻ nhân hậu, bắp chân săn vồng, đôi mông tròn mẩy khiến mấy ông già không dời nổi mắt, còn các bà mẹ như bà chỉ nghĩ đến chuyện rước nàng dâu mắn đẻ về cho con trai. Ngày thằng Hùng từ Mỹ về thăm nhà, con bé nhà quê như con bò mộng đã đóng ách, liu ríu quanh quẩn bên chân bà. Mặc kệ họ hàng khuyên can con bé đít to đầu teo không tương xứng với thằng con có chữ có nghĩa của mình, bà khăng khăng gả ghép nó cho con trai. Hôm thằng Hùng bằng lòng lấy nó làm vợ, nó sụt sịt kêu tiếng Mẹ, bà cảm động rơi nước mắt nhớ lại giấc mơ gái quê một thời của mình khi bà lẽo đẽo theo gót ông Tư. Mới ngày hôm qua đó thôi, bà nghe chính mình lẩm bẩm... rồi bà giật mình nghe tiếng cười rộ của con Hà và đám đàn bà trẻ. -Bà già nói gì? Giọng con Hà văng vẳng: -Bả đang diễn tuồng than thân trách phận. Ai thèm để ý. Tràng cười the thé nổi lên, rồi tan biến, bà chỉ kịp nhìn thấy những cánh chân trần bắp vế núc ních trên những chiếc giày xanh đỏ, cao nhồng nhọn hoắt đang lộp cộp bước xa dần. Chúng nó lại kéo nhau đi Ho-Sù. Bà nhớ ra thằng cháu nội đã giải thích: Bà nội, hỏng phải ho-sù, Horseshoe. Cái gì đó liên quan đến giày với ngựa. Bà làu bàu: mã mẹ mấy con đĩ ngựa.

Thật ra Bà Tư đâu phải là người không biết phải trái. Bà sang Mỹ chỉ với một tấm lòng duy nhất là hàn gắn tình cảm cho vợ chồng chúng nó. Đã nhiều lần bà cố gắng tìm cách gợi chuyện với con dâu. Bà thường bắt đầu bằng những kỷ niệm xưa cũ, cố tìm đâu đó trong cái bộ mặt khinh khỉnh, thái độ lạnh nhạt, hỗn láo của con Hà tấm lòng của con bé nhà quê chân chất ngày nào. Hồi mới sang, chân ướt chân ráo chưa hiểu trật tự xứ Mỹ, nóng lòng thấy thằng con và hai đứa cháu cưng của mình ngày nào cũng ăn mì tôm và pi-xà, bà xót ruột nặng nhẹ với con dâu. Có lần bà vô tình mắng nó: Mày tô son trét phấn làm gì mà để con cái bê bối, luộm thuộm. Mày tròn ủng tròn ỉnh mà để thằng chồng đói mốc đói meo. Mày là cái ngữ đàn bà thứ gì? Con Hà quay ngược lại, sát đến nhìn thẳng mặt bà đáp trả: Đàn bà xứ Mỹ thời nay không đần độn như các bà thời xưa. Nhà quê, xấu xí, mốc meo từ đầu tới chân. Có gì hay ho mà lên mặt dạy đời. Thật là hết chịu nỗi, bà quát: Cái con mất dạy. Thằng chồng mày không biết dạy mày nên mày mới ra nông nổi này.Con Hà cười khinh khỉnh: Bà già nói điên nói khùng mà lần này nói trúng, con trai bà mà có bản lãnh thì ngữ này đã khá hơn từ lâu.

Đêm hôm đó, bà thức chờ thằng Hùng đi làm về. Thằng con tội nghiệp, nghe Mẹ mắng nó đàn ông nhu nhược, nó dựng cổ vợ dậy cho một cái bạt tai. Bà nghe hai vợ chồng to tiếng, con Hà kêu cảnh sát, rồi giận dữ xách giỏ bỏ đi mấy ngày không về. Thấy thằng Hùng xấc bấc xang bang, mặt mày hốc hác, một mình lo ăn, lo uống, lo bài vở, đưa đón con đi học, bà lại thương con và ân hận. Bà tự nhủ từ nay sẽ thôi xen vào chuyện chúng nó. Có ông Tư hiểu tấm lòng của bà, ngày bà từ giã con gái và cháu ngoại rời quê cha đất tổ, ý nguyện duy nhất của Bà là dùng tình thương yêu chân thật để hàn gắn cho vợ chồng nó. Có lẽ nào chính bà đã già, lỗi thời, không hiểu được vai trò vợ chồng thời nay, hay vì Bà nhà quê trơn trất không đủ khôn ngoan lý lẽ với con dâu, con bé nhà quê đã có lần bà yêu thương nó như con ruột của Bà.

Cằn nhằn, mắng mỏ, dỗ dành,năn nỉ con dâu, cố gắng đủ cách cũng không thay đổi được gì, bàTư tự xăng tay áo lo cơm lo nước cho con cho cháu. Con Hà được dịp rảnh tay chân ngày càng đổ đốn. Cứ đến chiều thứ Sáu cuối tuần là nó lên quần lên áo biến mất.Thằng Hùng đi làm đêm. Nó đi làm ngày. Hai vợ chồng như mặt trăng mặt trời tránh gặp mặt nhau. Cuối tuần, thằng Hùng chở Mẹ và hai con đi đây đó. Cuộc sống sinh hoạt thường ngày của mấy cha con không bận tâm gì đến nó. Nó thay xác đổi dạ. Chỉ cái tướng tròn trịa xưa nay còn nguyên vẹn, ngày một ủn ỉn hơn. Mặt nó trắng bệt. Da nó căng phồng. Mắt xanh môi đỏ,người không ra người, ngợm không ra ngợm. Nó mê nhất là kiếm ra đồng tiền. Rồi đem đồng tiền đi mua sắm, nướng sạch ở sòng bài, chả ngó ngàng gì đến chồng con.

Lời ra tiếng vào, mấy bà bạn già cùng quê mách bà, thấy con Hà cặp bồ đi chơi ở sòng bài. Bà thương con, thương cháu dấu nhẹm không nói gì với con. Tận trong thâm tâm, bà Tư tự trách chính mình. Lỗi bà đã gả ép thằng Hùng với nó. Ở quê Bà, đàn ông đàn bà đã một lần lấy nhau là ăn ở suốt đời. Bà chỉ biết lâm râm khấn vái. Ở cái xứ không có mồ mả tổ tiên này, con người như cái cây bị bứng rể, không ông bà phù hộ, con Hà sống dở người dở thú, thằng Hùng thì dở sống dở chết.

Càng ngày, tình cảnh càng tệ hại hơn. Bà và con dâu ở cùng nhà, đôi lúc ngồi cùng mâm mà không ai nói với ai tiếng nào. Thằng Hùng đã từ lâu chả còn thiết gì đến quan hệ vợ chồng, chúi đầu vào sách vở và công việc không quan tâm gì đến chuyện tình cảm. Cho đến khi con Hà ngang nhiên đi chơi với bạn trai không còn nể nang gì nữa. Thằng con trai của Bà xưa nay phong giáo nhẹ nhàng, giờ đây đổi tính đổi nết, cộc cằn, say xỉn, thô lỗ. Nhìn cái gia đình tan nát của nó, Bà nhớ lời ông Tư năm xưa thường nói phải dám bỏ cái cần bỏ và dám làm điều cần làm mỗi khi Bà ái ngại việc ông bỏ nhà bỏ của vì Bà. Cái đầu già nua của Bà hôm nay lại bận rộn bưng bức.

Đêm hôm, con Hà dẫn bạn trai về nhà tiệc tùng, Bà quen giấc hằng đêm thức đến 3 giờ sáng chờ con đi làm về cơm nước rồi mới đi ngủ. Thằng con ngồi xuống bàn ăn mặt mày mệt mỏi, Bà ôn tồn gợi chuyện: -Con à, dạo này con Hà hết thuốc chữa, nó đưa bạn trai về nhà cợt nhã trước mặt Mẹ. Con tính sao... Chưa nói dứt câu, thằng Hùng vất đôi đũa đập chén cơm vào bàn, nước canh văng tung toé vào mặt hai mẹ con: -Trời ơi, sao khổ quá hả trời, sống sao cho nỗi với hai người đàn bà chỉ giỏi chì chiết nhau. Mẹ muốn con phải làm sao cho Mẹ vừa lòng. Hơn bốn giờ sáng, thằng Hùng rồ máy xe phóng ra đường, bà mở cửa nhìn theo, ngoài trời bông tuyết rơi trắng xoá, hơi lạnh trời đêm hắt vào, ngấm sâu vào lằn da sớ thịt, bà rùng mình nhìn lên bầu trời, cái xứ sở gì mà cả ngôi sao cũng không có, lấy đâu mà soi đường dẫn lối. Lần đầu tiên trong đời Bà không biết sắp tới sẽ phải làm gì. Ông bà tổ tiên đang ở đâu? Sao Bà thấy trơ trọi và lạc hướng. Bà quay vào nhà lặng lẽ thu dọn chén miểng. Rồi thấy đau nhói, Bà ngồi bệch xuống sàn nhà hai tay ôm lấy ngực, nghe miếng miểng trong lòng mình vỡ vụn. Ở đây, trong căn nhà này, trên xứ sở này, Bà thừa thãi vô dụng. Bà thấy mình như ngôi sao lẩn biến trên bầu trời, chực tắt.

Những ngày cuối năm, trời lạnh đến tê cứng, con người và vạn vật đều chạy nước rút. Mấy bà bạn già cùng quê biết bà sắp trở về quê sống liên tục rủ rê nhóm họp. Gặp nhau cũng chỉ để ca cẩm. Con Hà và đám bạn chợ búa của nó cũng bận rộn suốt ngày với khách khứa làm móng tay móng chân mùa lễ,rồi còn thì giờ thì xe xua tiệc tùng. Hai bàn tay núng nứ của nó mùa này móng dài nhọn hoắt sơn màu đỏ chót. Thấy bà trân trân nhìn, nó dương cặp mắt lồi, trề cặp môi thịt chảy xệ: bộ rảnh lắm sao mà nhìn trân nhìn tráo. Chẳng hiểu sao bà lại nghĩ đến cảnh làng quê ngày nào ông cậu nó chọc tiết heo đỏ ối mừng gả nó cho thằng Hùng của Bà. Bà nhìn nó cười hiền lành. Nó đá lông nheo đắc ý xách ví xỏ giày lồng ngồng bước ra cửa, miệng không quên xỉa xói: Bà già bây giờ học văn minh nước Mỹ bắt đầu biết điều hơn rồi đó. BàTư im lặng không nói gì, từ bao giờ, bà đã bỏ ngoài tai những điều chướng tai gai mắt.

Thật ra Bà đang tập trung để ý đến thằng Hùng. Mấy hôm nay không hiểu sao mặt mày nó có vẻ tươi vui hơn khiến bà cũng vui lây. Hôm qua nó đi làm về, mặt tươi cười, miệng kể chuyện liến thoắng. Có hôm nó ăn cơm khen Mẹ nấu ngon, nhắc đến món thịt ngâm nước mắm của Bà, rồi hỏi thăm Mẹ có cần con chở đi chợ. Đêm đêm bà thấy nó ngồi trước máy vi tính lẻng bẻng cười. Có khi bà nghe nó to nhỏ như chuyện trò với ai đó, ánh mắt nó mơ màng nhìn đăm đăm vào một bóng hình trên màn ảnh. Có thật hay không, thằng con yêu quý nhất đời của bà đang thật sự sống lại. Ông Tư phù hộ, bà lầm bầm khấn vái, nhưng rồi chợt nhận ra mình sai trái, bà chăm bẳm nhìn thằng con rồi chép miệng làu bàu: cái thằng mất nết, vợ hư chồng dại chỉ làm khổ con khổ cái.

Suốt tuần lễ giáng sinh và tết dương lịch trước khi bà về Việt Nam, thằng Hùng nhẹ nhàng, vui vẻ, lo lắng cho Bà hết mình.Rạng sáng ngày giáng sinh, hai thằng cháu nội dậy thật sớm mở quà. Con Hà đi đêm về khuya, mặt nặng mầy nhẹ rầy la tụi nhỏ để yên cho nó ngủ. Thằng Hùng hôm nay khuôn mặt cũng trẻ thơ như hai thằng cháu nội, Bà thấy nó mở ra một hộp quà gói giấy màu xinh xắn, nó ngồi thừ ra nhìn đầy vẻ cảm động, rồi mặt nó rạng rỡ cầm cuốn sách lên lật tới lật lui. Bên ngoài trời lạnh như căm, nó chạy ra cửa tóc tai chỉnh tề nhờ thằng con nháy giùm tấm bóng. Bà nhìn nó dọ hỏi, nó cười thành tiếng hỏi Mẹ hôm nay muốn làm gì.Trưa hôm đó, mặt cho bão tuyết, thằng Hùng chở Bà và hai thằng con trai đi Michigan thăm đồng hương.

Trên đường về, giả vờ ngủ bà nghe giọng thằng Hùng nhỏ nhẹ nói điện thoại.Ai đó bên đường giây làm nó cười. Nụ cười trong mắt nó rạng rỡ hệt như hồi còn bé mỗi lần chạy ra đầu ngõ đón bà gánh lúa về. Lòng Bà chợt ấm áp. Mùa xuân có lẽ rồi cũng sẽ trở về, như bao lần ly tan, mất mát, cuộc đời rồi cũng xoay vòng tuần hoàn. Bà chợt hiểu ra, đã nhiều lần bà tiếp tay giúp xoay chuyển cuộc đời nó, nhưng đã đến lúc bà phải buông tay để chính nó tự tìm cho mình cứu cánh.

***

Mùa hè miền Trung nóng bức, nằm đong đưa trên chiếc võng trước hè, đứa cháu đang nịnh bà ngoại xin tiền đứng bên cạnh phe phẩy chiếc quạt mo to tướng. Điện thoại reo, bà nghe giọng con Thảo tươi cười, rồi nó đưa điện thoại: Mẹ ơi, anh Hai gọi từ Mỹ nè. Tim bà rộn ràng. Chẳng hiểu sao từ ngày trở về quê, bà cứ mong thầm trong lòng một điều gì đó.Chính bà cũng không biết rõ bà chờ đợi tin gì vui. Có lẽ bà bám vào chút hy vọng từ ánh mắt rạng rỡ của thằng Hùng những ngày cuối trước khi bà rời nước Mỹ.Thằng con trai hỏi thăm Mẹ, rồi bỗng ngập ngừng: Mẹ à. Con báo mẹ tin vui. Hà mới qua khỏi cơn bệnh thập tử nhất sinh, đang dần dần hồi phục. Vợ chồng con đã hoà thuận trở lại. Bà im lặng, đưa mắt nhìn dàn hoa giấy đỏ rực dưới cái nắng gay gắt. Ánh nắng vàng rực bỗng dưng đổi màu trắng xám. Xa xa những hạt mưa bụi bất chợt lất phất, nhoà nhạt, hệt như những hạt tuyết trắng xứ người, phủ lắp, lạnh ngắt.

Buông điện thoại, lòng bà lặng câm, mắt bà vô vọng dõi về một phương trời xa xôi, vô định. Bão tuyết và vực thẳm, ai đó đang bứt khúc ruột của bà, ném xuống.

Nguyên Yên

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Năm 20159:34 CH(Xem: 54458)
Trong số mười người chúng tôi bị bắt bởi chiến dịch khủng bố mùa thu tháng 9 năm 2008 thì Ông Nguyễn Kim Nhàn là người duy nhất hiện vẫn đang còn bị tù đày. Tôi thường gọi những người dân oan như ông, như chị Trần Ngọc Anh, chị Phạm Thị Lộc, vợ chồng chị Cấn Thị Thêu... là “dân oan hóa dân chủ” vì họ đã không chỉ dừng lại ở việc đòi quyền lợi chính đáng cho bản thân và gia đình mình, mà đã tham gia vào các công việc, các phong trào đấu tranh vì Nhân quyền, Tự do và Dân chủ.
14 Tháng Năm 20155:55 CH(Xem: 55124)
Là những người viết văn đã nhiều năm tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam (HNVVN), đã góp sức xây dựng Hội qua thời chiến cũng như thời bình, đã đau xót trước sự xuống cấp ngày càng nghiêm trọng của Hội trong những năm gần đây và tích cực góp ý với Hội để khắc phục tình trạng ấy; đến hôm nay, nhận thấy tình trạng suy thoái của Hội đã trở nên không thể cứu vãn nếu không có sự thay đổi nhiều điều căn bản trong điều lệ và tổ chức của Hội để Hội thực sự là một tổ chức nghề nghiệp tập hợp những người viết muốn xây dựng một nền văn học Việt Nam đích thực, tự do, nhân bản;
14 Tháng Năm 20155:36 CH(Xem: 57228)
Ngày 05.05.2015 nhà văn Võ Thị Hảo đã tuyên bố từ bỏ hội Nhà văn Việt Nam, cùng ngày tổ chức này gạch tên 9 nhà văn khác đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh trong phiên họp bầu đại biểu đi dự đại hội toàn quốc. Dân Luận (DL) đã trao đổi với nhà văn Võ Thị Hảo (VTH) về vấn đề mà chị coi là một vụ Nhân Văn Giai Phẩm mới...
14 Tháng Năm 20153:44 CH(Xem: 57366)
Trong phiên bỏ phiếu bầu đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc diễn ra ở TP. HCM ngày 5/5, lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN) đề nghị những người tham dự gạch tên chín người sinh sống ở TP. HCM và tham gia Văn đoàn độc lập. Những tưởng hành động này là "đòn giáng mạnh" vào các hội viên của Văn đoàn độc lập, tuy nhiên nó đã gây một hiệu ứng ngược khi hàng loạt những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng khác Tuyên bố từ bỏ Hội nhà văn VN (DL)
13 Tháng Năm 20155:54 CH(Xem: 56735)
Với Nguyên Ngọc và Văn đoàn Độc lập, vấn đề còn nguyên. Làm gì với tự do đã giành lại sau khai trừ rồi ly khai? Làm gì với mục đích độc lập tách rời ra khỏi Hội? Ra khơi, lên đường, hay lo ngại “phạm pháp” sẽ khiến nhòa nhòa trong vận hành của hệ thống? Tháng 5-1954, hai chữ “Độc lập” thét vang trong lồng ngực của năm mươi ngàn binh sĩ chiến thắng trận Điên Biên, để cuối cùng là một nền độc lập hà khắc trong toàn trị. Tháng 5-2015, “vì một nền văn học Việt Nam tự do, nhân bản” in đậm trên trang web của Văn đoàn Độc lập. Công chúng trông chờ câu trả lời.
13 Tháng Năm 20154:31 SA(Xem: 57816)
Qua tháng tư rồi Anh có trở về ngày bình thường Như đi bác sĩ, làm tình và các thứ Mình lại hẹn nhau mùa điên năm sau
13 Tháng Năm 20154:22 SA(Xem: 51633)
LTS:Cận cái chết, nhìn cái chết ... một tâm trạng đau buồn, ray rứt. Những ra đi vĩnh viễn, mất mát và bấu víu vào mất mát. Nuối tiếc. Trịnh Duy Kỳ đến với Hợp Lưu lần đầu với 28,5 với những cái trên. Xin giới thiệu đến độc giả.
13 Tháng Năm 20154:18 SA(Xem: 54793)
Mấy tay bạn trai của Nga nhiều lúc cũng âm mưu, đưa Nga vào những chỗ nhạy cảm, rồi đòi hỏi này nọ, nhưng Nga cương quyết từ chối. Không phải là Nga không thèm muốn. Thì thịt da ai chả là người. Nhiều lúc ở bên các chàng chuyện trò tâm sự. Rồi chân tay đụng chạm, ôm ấp hôn hít, cũng rực hết người lên. Những muốn mặc kệ cái sự đời…
13 Tháng Năm 20154:12 SA(Xem: 56219)
Tin nhắn chú Tư e không qua khỏi đêm nay làm Nhiên đờ đẫn. Nhiên đóng cửa phòng mạch, chạy chẳng kịp chào ai. Đường vào nhà chú ngoằn nghèo rắc rối tựa ma trận. Sau rốt Nhiên vẫn đến được theo quán tính. Sự âm u lạnh lẽo cô buồn bàng bạc khắp nhà. Một vùng cấm mấy chục năm nay không hề có bóng đàn bà. Chú cấm tiệt. Cấm luôn thằng con trai duy nhất, không được có bạn gái.
13 Tháng Năm 20154:03 SA(Xem: 58380)
Không ngủ được. là khi không được ngủ Mở hai mắt ngó chằm chặm quanh mình Ngủ không được có vì tờ mộng rách Dạ thưa nường đồi núi chợt rung rinh
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8870)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15805)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14821)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15180)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2402)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3092)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4338)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5719)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3143)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4620)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4134)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4891)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3491)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3722)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3843)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4860)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2454)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 3054)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3137)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3646)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11723)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28120)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34511)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34592)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9245)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11507)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2402)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5719)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5184)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5238)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4568)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6530)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5770)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7592)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.