- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HẬN LÒ ĐƯỜNG

30 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 58897)

 


nguyenhoangnam-lamdong-content

 Ảnh Nguyễn Hoàng Nam



LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, nhà văn Lê Minh Nhựt đang sống và làm việc tại Cà Mau Việt Nam. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu truyện ngắn "Hận Lò Đường" của tác giả Lê Minh Nhựt đến cùng quí văn hữu cùng bạn đọc Hợp Lưu.

TCHL



Ông nội của Tư Giáo có một thời làm Chủ ấp của ấp Cây Giá nên thường được gọi là ông Chủ Giá. Ông Chủ Giá sở hữu một lò đường ngay doi Ma, không có bảng hiệu nên người ta đặt tên luôn là lò đường Chủ Giá.

Đất đai ở ấp Cây Giá không trồng trọt được thứ gì. Trồng cây ăn trái thì lèo đèo lẹt đẹt mấy trái cam nhỏ hơn trái chanh mà chua lét; cây dừa là loại dễ tính cũng chẳng lớn lao gì nổi, còi cọc dần mòn rồi rũ đọt khi chưa kịp ra buồng. Chỉ có trồng mía là tốt. Ấp Cây Giá nhìn đâu cũng thấy bóng dáng cây mía: trong vườn, ngoài ruộng, cặp mé sông…cả trước nhà cũng trồng mía thay cho hàng rào quanh sân.

Nhờ vậy, lò đường Chủ Giá có mía để ép quanh năm suốt tháng. Những lúc đông ken ép không kịp, mía chất đống ngoài bãi; lớp đâm tược mọc thành cây, lớp trở mình lên men nồng nặc cả xóm.

 

Tư Giáo vẫn nhớ như in một buổi chiều năm 1959.

Đâu chừng chạng vạng, cánh khuân vác ráng lên hết ghe mía cuối cùng thì nghe có tiếng tàu sắt ầm ầm chạy ngang. Được chừng năm phút sau thì đám mía hai chục công bên sông của chú Sáu Dân phát hỏa; kế đến, tất cả các ruộng mía phía bên sông đối diện lò đường cũng đồng loạt cháy rừng rực. Gần nửa tiếng sau thì tàu sắt chạy về, tàu chạy đến đâu ruộng mía bắt lửa cháy theo tới đó. Lính tráng trên tàu dùng súng phun lửa phun liên tục lên bờ. Sự việc xảy ra trong chớp nhoáng, tới chừng hay được thì cả ấp cây Giá đã trở thành một biển lửa. Ruộng mía chưa kịp đánh lá; còn thứ gì bắt lửa ngon bằng lá mía khô. Tàu cập vô doi Ma, lính tráng ùa lên bao vây cả khu vực lò đường. Thiếu tá Quảng “chó điên” từ mũi tàu vừa bước xuống đã giáng thẳng ma trắc vô đầu một người khuân vác gần đó để thị uy. Tư Giáo năm đó được mười lăm tuổi, thấy máu tuôn xối xả, sợ quá bèn chui vô đống xác mía bên hè để trốn.

Sau khi chùi máu dính trên cây ma trắc, thiếu tá Quảng gầm lên:

- Thằng Chủ Giá đâu! Bò ra đây cho tao coi!

Ông nội của Tư Giáo mặt chuyển sang đỏ bầm, từ từ quỳ hai chân chống hai tay xuống đất bò từ cửa lò đường bò ra chỗ thiếu tá Quảng. Tới chỗ thiếu tá Quảng thì mặt ông Chủ Giá đã chuyển sang màu tái, từng thớ cơ trên mặt ông cứ giật giật liên hồi. Lúc ông nội bò ngang, Tư Giáo ở trong chỗ nấp còn nghe tiếng ông nghiến răng trèo trẹo.

Thiếu tá Quảng ngồi trên bó mía cao ngất chắn ngang trước sân, sau tràng cười sằng sặc như đang lên cơn điên, hắn nhịp nhịp cây ma trắc và rít qua kẽ răng:

- Nghe kỹ nè ông già, ấp Cây Giá kể từ nay không được trồng mía nữa. Trồng mía là làm ổ cho Việt Cộng ém, là chống lại Quốc gia. Phải đốt hết. Còn cái lò đường của ông, dẹp đi. Ai mà biết trong mấy thằng làm công cho ông không có Việt Cộng nằm vùng? Nể tình ông từng làm chủ ấp nên tui mới xử lý như vậy chớ nếu không thì đã xài cái đó rồi…

Thiếu tá Quảng trỏ cây ma trắc xuống dưới sông về phía chiếc tàu sắt đậu, qua ánh lửa của ruộng mía đang cháy rần rật người ta nhìn thấy một vật hình thù kỳ dị đang chập chờn uốn éo, được đặt chính giữa boong tàu: Nó trông giống một chiếc bàn nhổ mạ nhưng dài và chân thì thấp hơn, một đầu dính với hai cây cột song song vươn lên trời. Lửa lan tới con kinh bên hông lò đường, hắt lên vật đó và nhảy múa trên một lưỡi búa khổng lồ sáng loáng được treo cao chính giữa hai cây cột. Máy chém!

Thiếu tá Quảng có máu điên nên được người ta đặt cho biệt danh là Quảng “chó điên”. Chó điên bạ đâu cũng cắn còn thiếu tá Quảng đi tới đâu là bắn giết, đốt phá tới đó, tới khi nào thấy máu mới hả dạ. Đến ngay ông Sáu Dân là ông già ruột, Quảng “chó điên” còn cho lính còng tay đem về quận giam cả tuần lễ ngoài đó, nữa là…

Cả lò đường trừ cánh lính của thiếu tá Quảng, còn lại hơn chục con người làm thuê cho lò đường chẳng ai dám hé răng nửa lời. Lúc này lửa đã cháy đến sát lò đường, nhờ xung quanh có mấy mương nước ngăn lại nếu không chắc lò đường đã cháy ra tro. Lửa vây ba phía chỉ chừa có mặt trước, tức mặt sông. Trời lặng gió nên lửa bốc cao ngọn, liếm thẳng lên trời soi tỏ từng gương mặt đầm đìa mồ hôi. Tất cả trông giống như đang bị nhốt trong hỏa ngục.

Dường như hỏa ngục đã lại làm thiếu tá Quảng sôi máu chó điên lên thêm chút nữa. Hắn không nhìn ông Chủ Giá nữa mà nhìn vào lửa. Không biết bao lâu, hắn mới nhảy từ đống mía xuống chỗ ông Chủ Giá vẫn còn đang quỳ dưới đất. Mắt thiếu tá Quảng đỏ quạch một màu lửa. Một tay túm tóc, tay kia dùng ma trắc nâng cằm ông Chủ Giá lên. Giọng hắn âm u như vọng về từ cõi a tỳ:

- Tui đổi ý rồi, ông già. Tất cả phải tham gia vào trò chơi mới. Không những ấp Cây Giá không được trồng mía, lò đường phải dẹp mà cả ông và tụi làm thuê cho ông nữa…tất cả…

Quảng “chó điên” bỏ lửng câu nói, nhìn về phía tụi lính hất hàm ra hiệu rồi trỏ vào phía trong lò đường. Trong tốp lính có hai thằng bước vào, lát sau ì ạch khiêng ra một chảo đường sền sệt đang sôi ùng ục đặt xuống trước mặt ông Chủ Giá.

Người đầu tiên tham gia “trò chơi” của thiếu tá Quảng chính là người khuân vác ban nãy bị đánh một cây ma trắc vào đầu. Hai thằng lính khiêng chảo đường giờ đè chặt người này xuống đất. Thiếu tá Quảng lấy cái muỗng sắt, múc đường từ trong chảo ra cứ thế mà rót thẳng lên mình người ta. Rót hết muỗng đường thiếu tá Quảng đếm: Một! Hai thằng lính buông tay ra. Người bị đè dưới đất vùng bật lên vừa chạy vừa la làng và chạy thẳng ra mé sông, phóng xuống nước.

Hai. Ba. Bốn….Bảy. Tám. Chín… Mười một. Mười hai. Thiếu tá Quảng đếm tới Mười Hai thì có mười hai người bị rót đường lên người và phóng xuống sông.

Tiếng “mười hai” vừa rời khỏi miệng thiếu tá Quảng thì ông Chủ Giá đột nhiên bật dậy, gầm lên: Quảng chó điên! Mày không phải là con người. Tao liều mạng với mày! Ông già sáu mươi lăm tuổi lao về phía thiếu tá Quảng với cây đòn xóc nhọn hoắc không biết chụp được ở đâu trong lúc đang quỳ dưới đất. Quảng “chó điên” kịp né người qua một bên, cây đòn xóc đâm vào cánh tay đang cầm muỗng sắt để rót đường. Tụi lính bu lại đè chặt ông Chủ Giá xuống đất đấm đá liên tục. Quảng “chó điên” rút súng ra bắn chỉ thiên, nạt lớn:

- Tụi bây tránh chỗ khác, không biết nhẹ tay với người già cả sao?

Mặc chỗ cánh tay bị cây đòn xóc ban nãy đâm vào máu còn đang chảy ròng ròng ướt cả một bên tay áo, thiếu tá Quảng đến bên cạnh ông Chủ Giá đang thở thoi thóp dưới đất. Chân đạp lên mình ông, tay trái thì giật ngược đầu ông già hướng về phía lò đường:

- Nghe nói lò đường của ông nấu đường ngon nhứt vùng này, bữa nay thử coi ông có bí quyết gì không. Chắc là trong thịt da, xương cốt của ông cũng có đường ở trỏng. Tụi bây khiêng ông già này vô trong cho tao!

Sau tiếng thét của thiếu tá Quảng “chó điên”, tụi lính hè nhau khiêng ông Chủ Giá vô phía trong. Tư Giáo chỉ nghe đánh “sầm” một tiếng, giống như có tiếng vật gì rơi xuống mặt ao vừa tát cạn nước, đầy sình non.

Tư Giáo biết, phía trong lò đường có gần một trăm chiếc chảo sắt khổng lồ chiếc nào chiếc nấy đầy nhóc đường chảy, đang sôi sùng sục.

***

Thiếu tá Quảng “chó điên” chết vào cuối năm 1961. Không phải bởi đội “Diệt ác” của ấp Cây Giá.

Tuy rằng Quảng bị bắt sống tại nhà vợ bé của hắn ở cuối ấp lúc nửa đêm bởi đội “Diệt ác” nhưng sau đó đã bị giải vô Cứ chuẩn bị đưa ra xét xử trước nhân dân.

Khoảng bốn giờ sáng, người canh gác phát hiện Quảng đã biến mất khỏi nơi giam giữ. Hắn bị trói gô quăng dưới một căn hầm bí mật – nơi mà chỉ có Lãnh đạo Cứ với các đội viên đội “Diệt ác” biết. Khả năng Quảng tự cởi trói và trốn khỏi hầm là hoàn toàn không thể, bởi một bên đùi hắn đã bị thương khá nặng do chống trả trước khi bị bắt. Xung quanh còn vương vãi dây trói bị cắt dứt bằng dao. Vậy là có người giúp đỡ hắn trốn thoát. Trong Cứ có nội gián?

Với một bên đùi bị thương thì chắc chắn Quảng “chó điên” chưa thể đi xa, trừ phi có người giúp đỡ. Muốn ra khỏi Cứ thì chỉ có một con đường đó là đường sông. Đường sông thì làm sao thoát khỏi các chốt chặn. Lãnh đạo Cứ khẳng định: Quảng vẫn còn ở đâu đó trong Cứ.

Do khẳng định Quảng vẫn còn ở Cứ nên người ta cứ quần đi quần lại từng gốc cây, kênh rạch, căn hầm trong Cứ mà quên mất có một cái lò đường bỏ hoang tuy không nằm trong Cứ nhưng cách đó không xa là mấy. Tới sáng bét, khi ai nấy đều đã mệt phờ râu thì được tin báo là phía lò đường có ai đó đốt khói lên nghi ngút. Lát sau, nghe có tiếng tàu sắt mở hết tốc lực chạy vô rồi dừng ở chỗ lò đường bỏ hoang. Trưa một chút, có tin ngoài quận: quân cảnh đang đồn rần thiếu tá Quảng bị Việt Cộng đưa vô chảo nấu đường để trả thù. Lúc đem thiếu tá Quảng xuống tàu thì thấy giống như một con rùa bị lật ngửa, chỉ ló cái đầu với hai tay hai chân ra bên ngoài, còn khúc mình ngập trong chảo đường đã đặc cứng, không sao cạy đem ra được.

Tin còn nói thêm là, trên tường lò đường có dòng chữ ghi bằng máu: “Lễ tế ông Chủ Giá”.

Cả Cứ cùng dân ấp Cây Giá tới đó mới bật ngửa, chạy đi kiếm Tư Giáo. Từ lúc phát hiện Quảng mất tích cho đến trưa không ai thấy bóng dáng Tư Giáo – đội viên đội “Diệt ác” ở đâu.

Cuối ấp Cây Giá, vợ bé của thiếu tá Quảng đau bụng đẻ vào xế chiều.

Sau vụ thiếu tá Quảng, ngoài quận tung lính vô bình định ấp Cây Giá. Ấp Cây Giá trở thành vùng trắng, tự do trút xả bom đạn. Chịu không nổi, cả ấp rút hết vô sâu trong Cứ. Đến sau tiếp thu, dân ấp Cây Giá mới lục tục kéo nhau về chốn cũ. Hầu như nhà nào còn người thì cũng về lại đất của mình, không còn đủ cây cối để cất một căn nhà tươm tất thì cũng phải ráng dựng một căn chòi, trên nền nhà cũ.

Chỉ có chỗ lò đường bỏ hoang giờ vẫn còn là một đống gạch vụn, nằm vun lên như một nấm mồ, lạnh ngắt.

***

Nghe nói ở phía dưới hạ lưu sông Cái xưa kia có một cái doi gọi là doi Ma vì thời chiến tranh giặc giã, có nhiều thây ma thường trôi tấp vào. Sau này sông Cái đổi dòng xoáy thẳng vô doi, doi Ma biến thành vịnh.

Vừa qua khúc cua của con sông, vịnh đã bất thần hiện ra. Không quen đường, đôi khi tài công giật bắn cả mình vì hình thù của nó trông giống như vết ngoạm cật lực của một con cá mú khổng lồ trong lúc giận dữ. Mỗi khi nước ròng, vịnh phơi ra lô nhô những gạch vụn, đá tảng bám đầy rêu xanh rờn. Bãi đá này mỗi khi nước lớn lại trở thành một cái bẫy ngầm cực kỳ nguy hiểm cho tàu bè, xuồng ghe qua lại. Đã có không biết bao vụ tai nạn xảy ra chỗ cái vịnh này. Dân đi đường sông gọi nơi đây là vịnh Đá Ngầm.

 Phía trên vịnh Đá Ngầm, sát chỗ bực sông lở, xuất hiện một căn chòi. Dân ấp Cây Giá không biết nó được dựng lên từ khi nào, nhưng khi phát hiện ra, người này hỏi người kia thì ai nấy cũng đều ngơ ngác. Thây kệ, chỗ đó vô chủ từ lâu, trước sau gì cũng bị văng xuống dưới sông. Quan tâm làm gì! Phía trước chòi, có cột một chiếc tam bản nhỏ. Cứ tầm bốn năm giờ sáng, một người đàn ông trên dưới năm mươi tuổi từ trong chòi bước ra, mở dây cột chiếc tam bản. Trước khi bơi ra sông, người đàn ông này còn nói vọng trở vô căn chòi tối om: Tui đi thăm lú nghen ông Tư! Chiếc tam bản bơi lòng vòng trên sông một hồi trở lại chỗ căn chòi đúng lúc mặt trời vừa lên trên biền dừa nước chừng nửa con sào. Người đàn ông ban sớm giờ bước lên căn chòi với một chiếc can nhựa nằng nặng cộng với tiếng búng lách chách của mớ tôm hay mớ cá trong đó. Từ khoảng chín giờ trở đi đến xế trưa là thời gian người đàn ông ngâm mình dưới bến. Y chỉ làm có mỗi việc: Mò mẫm từng viên gạch dưới nước và cọ rửa từng viên một cho đến khi sạch hết mớ rong rêu bám xung quanh và thảy lên bờ. Thỉnh thoảng trong chòi cũng vọng ra tiếng ho húng hắng của một ai đó mà người đàn ông gọi bằng “ông Tư”, nhưng chưa có ai từng thấy “ông Tư” bước ra cửa chòi.

Đến ngày người ta thấy đống gạch đã đầy vun xếp ngay ngắn bên cạnh căn chòi thì vịnh Đá Ngầm đã sạch bách, không còn một cục gạch hay một tảng đá nào nữa. Những viên gạch cứng như đá cầm hai cục lên giáng vào nhau đến tóe lửa mà vẫn không bể. Có người vì tò mò nên ban đêm len lén ăn cắp vài cục về nhà coi thử. Trên mỗi cục gạch đều có đóng dấu: Lò đường Chủ Giá. Lạ một điều là khi sờ vào, cục gạch lại có mùi rin rít ngòn ngọt như mùi đường chảy và như thoảng mùi thịt khét. Hoảng quá, người này vội vàng đem trả mấy cục gạch ăn cắp về chỗ cũ.

***

“Thiếu tá Quảng khảm cho hồi năm năm chín đó! Mười hai người có cái sẹo y chang như vầy. Chỉ mình tao là còn sống tới bây giờ!”. Mỗi khi có chừng năm trăm đồng rượu là ông già Chín Thơm lại cởi áo, giơ lưng khoe vết sẹo như một con rết chạy dài từ cổ xuống khỏi lưng quần. “Thằng Quảng rót đường dở thấy mẹ, phải chi nó đều tay một chút thì tao bít luôn chỗ đi ỉa rồi!”. Đám cưới, đám gả, giỗ quảy, thôi nôi đầy tháng…bất kể ở đâu, bất kể mưa hay nắng, cho dù có mời hay không, hễ quan khách vừa đặt đít xuống ghế là đã thấy ông già lót tót từ đâu chen vô ngồi giữa bàn. Ăn uống chấm mút lấy lệ, sau đó chiếu lại “phim tài liệu năm một ngàn chín trăm năm chín” – cái tên do dân ấp Cây Giá đặt cho. Đám tiệc nào xuất hiện ông già Chín Thơm thì coi như chủ nhà muốn cắn lưỡi tự vận vì ông cứ kể đi kể lại một cách xà quần, không cho ai ăn uống gì hết. Vậy mà câu chuyện vẫn huyên náo như thường, đó là vì người ta chờ cho ổng sần sần rồi rủ nhau cười rần rần, khích tướng:

- Thôi đừng có nói dóc cha nội ơi!

- Đù mẹ thằng nào nói tao nói dóc!

- Vậy có ngon diễn lại cái cảnh cuối cùng: ông nhảy xuống sông năm đó thì tụi tui mới tin là thiệt!

Ngay lập tức, ông già vừa múa túy quyền từ trong đám ra tới bờ sông miệng vừa la làng: Trời ơi nóng quá, cứu tui với bà con ơi! Rồi nhảy ùm xuống nước, lặn một hơi, sau đó thả tàu qua phía bên kia sông, nơi có cái chòi rách teng beng. Chưa hết, sau khi leo lên bờ ông già còn làm một động tác hết sức kỳ quặc: Tiến đến sát vách chòi, cởi chiếc quần ướt mem ra, một dòng nước bắn lên theo hình cầu vồng rót thẳng vào vách…sau đó rùng mình mấy cái. Khỏi cần giải thích, ai cũng biết ông già vừa làm xong chuyện gì!. Mười lần như một.

Trên quãng đường đi từ chòi về nhà ông già Chín Thơm vẫn chưa hết cơn say, động thứ gì cũng chửi: từ đứa con nít vô phước bị ông chộp dính đến mấy gốc me, gốc chuối bên đường cũng bị ông già bứt trụi hết lá. Thứ gì ông cũng kêu bằng “Quảng chó điên” rồi huơ chân huơ tay tán loạn như thể đang cố gạt thứ chất lỏng nóng chảy vô hình nào đó đang được rót lên lưng mình.

Dân ấp Cây Giá từ lâu đã thuộc lòng vụ thiếu tá Quảng hồi năm 1959. Nhưng có vài điều mà không một ai biết, ngoại trừ ông già Chín Thơm, nhờ ông già mà cả ấp Cây Giá mới ráp được “bộ phim tài liệu” một cách trọn vẹn:

- Biết cái thằng đang ở trong chòi bên sông là ai không? Con của thằng thiếu tá Quảng đó! Nó đang nuôi ai? Trả lời được, chặt đầu tao xuống làm ghế ngồi! Nó nuôi Tư Giáo – kẻ thù truyền đời của mình. Để làm gì hả? Để nấu đường! Để trả thù! Trả thù đó, biết chưa?

Chuyện này thì dân ấp Cây Giá không tin mấy vì vài người trong họ tận mắt thấy: Chính tay người đàn ông – con của thiếu tá Quảng ẳm ông già nhẹ như bông gòn vô chòi khi y phát hiện ông già nằm cong queo trước cửa chòi của mình vào một buổi sáng. Rồi nấu cháo đút từng muỗng, múc nước kỳ cọ, tắm rửa. Cả tháng trời vẫn không thấy ai đến nhận, cho tới bây giờ khi y biết được ông già đó là Tư Giáo thì Tư Giáo vẫn sống nhăn răng chớ có thấy bị nấu đường hay trả thù gì đâu.

Bí thế, ông già Chín Thơm trỏ vô đống gạch:

- Tụi bây không thấy gì hết à? Nó mót gạch để xây lò đường, chừng nào lò đường xây xong thì số của Tư Giáo cũng tận!

- Nhưng sao tụi tui nghe nó nói: Đống gạch đó mò lên định để dành làm cái nhà coi cho được một chút? Nó còn nói thêm: nhưng điệu này chắc là ông Tư Giáo ổng xài trước quá. Coi bộ ổng cũng không cầm cự được bao lâu nữa, yếu lắm rồi!

Ông già Chín Thơm hậm hực:

 - Tụi bây là một lũ đui, không nấu đường thì nó cũng thả Tư Giáo trôi sông. Để rồi coi!

 - Để rồi coi! Tụi thanh niên nhại lại.

 Nhưng cho dù ông già Chín Thơm có lội thêm vài chục lượt qua sông, đứng đái đến mục cả vách chòi thì vẫn chưa thấy được cái cảnh Tư Giáo bị con của thiếu tá Quảng đem quăng vô lò nấu đường hay thả trôi sông để trả thù. Mà người trôi sông lại là ông già Chín Thơm. Dân ấp Cây Giá kể lại rằng: lần đó ổng ực tới hơn một lít, không ai thách đố gì cả, lẳng lặng men ra mé sông nhảy xuống rồi lặn luôn. Đến khi phát hiện ra thì ổng đã tấp vô vịnh Đá Ngầm.

Người vớt ổng lên lại là con của thiếu tá Quảng.

 Sau vụ ông già Chín Thơm chết trôi, ở ấp Cây Giá, dường như mọi chuyện cũng phai đi ít nhiều.

 Nhưng nhìn từng nhịp dầm có vẻ thanh thản của người đàn ông trên chiếc tam bản mỗi sáng đi đổ lú trên sông kia, dân ấp Cây Giá không ai dám chắc: Đã đến lúc coi chuyện cũ như là những câu chuyện phiếm có thể kể trong lúc trà dư tửu hậu. Vì, không phải ai cũng thích nghe người khác nhắc lại chuyện cũ, bởi ngoài chuyện vui thì vẫn còn có những chuyện khi được nhắc nhớ, nó gợi về những kỷ niệm không vui. Có khi còn hơn thế, đó là cả một mối hận. Dù từ lâu, nó đã thành sẹo, ở trong lòng…

LÊ MINH NHỰT

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 56202)
t ôi gian lận vuốt lên sống lưng bình nguyên em hừng lên bầy thuỷ tộc tôi gạ gẫm ngồi kề em. vọc nước. và trăng. và cuộc tình lầm
21 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 55654)
Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu truyện ngắn "Vết đế giầy" gởi từ Tuyên Quang của Vũ Xuân Tửu, một câu chuyện về gót giày, mặt, biển đảo và nước mắt. TCHL
18 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 58678)
Ngày tôi gặp chị, chị hãy còn xuân sắc, thứ nhan sắc mặn mà đằm thắm của "gái một con trông mòn con mắt". Chị nhỏ tí tẹo như con chuột nhắt, riêng đôi mắt lại to, hun hút như lòng giếng sâu thăm thẳm. Tôi nhìn đôi mắt chị, rờn rợn. Chị giam ai trong lòng giếng?
18 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 50714)
c ạnh căn phòng gỗ thấm nước mưa tháng Sáu quên mất bản tình ca mùa hè những con mối hát trong câm lặng sau một hồi rồi cũng lặng yên.
18 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 61344)
Đ ừng vội trách những gì chưa nói hết Mai em về.. Còn luyến tiếc nào không Chẳng hạn như thông quấn quít nhau đến chết Biết vậy thôi cũng đủ nao lòng
17 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 56358)
m ới đó mà rằm đã lên trăng đã lên trên một nền trời trong khuôn mặt vẽ. rất tinh ròng trong trí nhớ. màu xanh hồng. xa xưa
17 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 56801)
G iăng tấm lưới châu ngày gió lộng. Trở gót mà xem núi bạc đầu Nghiêng vai hứng lấy vô biên mộng Lưng trần tầm tả tiếng mưa mau.
17 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 60686)
Khi những ngón tay rời khỏi anh tìm lên thân em Cũng là khi đêm mở mắt soi dấu bàng hoàng Ta phân thân đôi vực bờ mê sảng Em vỡ cuồng trầm uất đa mang
17 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 54457)
Nghe nhiều người khen cuốn Ba người khác của nhà văn Tô Hoài, tôi cố tìm đọc. Đọc xong thì hoang mang… Nói cho ngay, đấy là cuốn sách viết khéo với nhiều cảnh đời sống động và được “lên hương” bằng yếu tố gợi dục đậm đà. Quả là cái khéo của bà hàng xén chợ phiên biết bày bán bắt mắt những món hàng xanh xanh đỏ đỏ …
17 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 47135)
Tác giả của tập truyện “gối đầu giường” với biết bao nhiêu thế hệ độc giả “Dế mèn phiêu lưu ký” đã qua đời sáng nay, 6/7/2014 tại nhà riêng ở Hà Nội, hưởng thọ 95 tuổi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 6924)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13881)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13271)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 91)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 127)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 132)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 376)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 162)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 428)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2541)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2698)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 372)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 406)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3399)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3798)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 209)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 307)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 362)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2679)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9493)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 25982)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32320)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32663)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7301)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9637)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2300)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2321)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2407)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2754)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 4999)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4263)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3911)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5038)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.