- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Những cơn man dại của trái phá

17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 55967)

dangmyhanh-_divaohoangda-content
Đặng Mỹ Hạnh

LTS: Đặng Mỹ Hạnh là một nữ nhiếp ảnh gia của những “Xứ sở rừng mưa” như tựa một bút ký của cô. Nếu nhiếp ảnh là đam mê chính, văn chương là đam mê thứ nhì mà cô tự định nghĩa: "Tiếp cận với nghệ thuật bằng ngữ ảnh của cảm xúc và viết ra cõi lặng bên trong như một nhu cầu thở." Một cõi lặng đôi khi ngấm ngầm dữ dội, như tùy bút "Những cơn man dại của trái phá".

Tạp Chí Hợp Lưu

Tất cả, lắng sâu vào cõi lòng tôi như một tảng đá. Bắn dồn, bắn như mưa, lưỡi lửa, mìn bẫy, hơi ngạt, xe tăng, đại liên, lựu đạn… Với tôi, dẫu đó chỉ là những từ ngữ không quen, nhưng chứa đựng tất cả những sự khủng khiếp trên đời. Mặt trời mọc. Đêm tối đến. Trái phá tung lên. Và sự sống ngừng lại…

Khi tôi lớn lên, chiến tranh đã dần thuộc về dĩ vãng. Và tôi thì quá bé để nhận biết sự khác lạ hay mẫn cảm với nỗi đau này… Nhưng có lẽ, văn chương đã cho tôi cảm nhận nỗi bi kịch của chiến tranh trong từng thân phận; văn chương đã mớm tôi mùi vị của chiến tranh qua hình ảnh người lính trận...

Tôi được biết, ở miền Nam trước 1975, Giã Từ Vũ Khí là dịch bản từ Farewell to Arms của Ernest Hemingway. Và Remarque, kinh điển của văn chương chiến tranh thì tuyệt xuất với All Quiet On The Western Front - Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh. Văn chương về Thế Chiến Thứ Nhất đã trở thành một khuôn mẫu cho một phần lớn văn chương thế kỷ XX, với một quan hệ thiết yếu của nó như một lời chứng.

Tôi đang lần về một lối đi để trở lại với những cuốn sách xưa. Erich Maria Remarque – Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh, tác phẩm theo chủ nghĩa hòa bình đã từng bị tấn công gay gắt khi ra mắt vào năm 1929. Và thúc đẩy phản ứng là một loạt tiểu thuyết về Chiến tranh. Có phải bút pháp của Remarque có khả năng diễn đạt chiều sâu và góc cạnh ẩn mật của nội tâm con người trong cuộc chiến ấy? Tôi chẳng thể hiểu, điều gì đã đem tôi lại gần với tác phẩm này. Thân phận. Phải. Thân phận, chứ chẳng phải súng đạn, khi miêu tả về nỗi đau và bi kịch của con người. Ở hậu phương, chẳng thể ai cũng thấu hiểu về những trải nghiệm tàn khốc của người lính nơi trận mạc.

Bối cảnh của Mặt trận phía Tây trong Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất, nhân vật chính, người tường thuật câu chuyện theo ngôi thứ nhất Paul Bäumer – một tân binh chỉ mới 19 tuổi. Anh và những bạn học cùng lớp đã từng bị thuyết phục bởi vị giáo sư của họ là Kantorek, nên gia nhập Quân Đội Đức để tham gia chiến tranh. Họ được đưa ra Mặt trận phía Tây, nơi đang diễn ra những trận đánh khốc liệt giữa liên quân Anh-Pháp và Đức. Paul Bäumer, cùng sáu người bạn cùng lớp đã thực sự biết đến mùi vị thật của chiến tranh. Mùi hôi thối của chiến hào. Nỗi sợ trước khi nổ súng. Trên hết là nỗi sợ chết… Những người tân binh chưa quá tuổi đôi mươi, chiến tranh đã như một con sông cuốn họ trôi tuột theo dòng. “Bão táp gầm thét điên cuồng trên đầu chúng tôi. Những mảnh trái phá bắn ra như mưa làm nổi lên từ khoảng không gian hỗn loạn- xám ngoét và vàng khè ấy là những tiếng gào thét xé ruột gan; những tiếng kêu như tiếng trẻ con của những chiến binh bị đạn. Và trong đêm tối, cuộc sống bị vò xé đã cất tiếng rên rỉ, rồi tận cùng đau đớn bằng sự im lặng ngàn đời…”

Erich Maria Remarque, trong phần đầu giới thiệu cuốn sách, đã viết: “Cuốn sách này không phải là một bản cáo trạng, cũng chẳng phải là một bản phát biểu chính kiến. Nó chỉ thử nói về một thế hệ bị chiến tranh hủy hoại. Ngay cả khi thế hệ ấy đã thoát khỏi những viên đạn đại bác.”

Remarque đã miêu tả những trận địa như một cái lồng. Và ở đó, những người lính ngồi chờ đợi, bứt rứt trong trạng thái căng thẳng. Sự may rủi bay lượn trên đầu. Một viên đạn bắn tới, họ chỉ biết cúi xuống. Và không thể biết chính xác nó sẽ rơi xuống đâu. Người lính tin vào cơ hội và may mắn của mình, nhưng người lính trong cuộc chiến không có hàng ngàn cơ hội.

Chàng lính trẻ Paul, không còn là một mảnh đời run rẩy, cô đơn trong bóng tối. Anh gắn bó với đồng đội. Với anh, họ đều có chung những cái sợ giống nhau, một cuộc sống tương tự và một sự kết hợp vừa đơn giản, vừa sâu sắc. Loài người, làm thế nào để chứng kiến sự hãi hùng và sự phi nhân của Chiến Tranh? Hay hiểu được những điều mà anh lính muốn thương khóc… “Lia rên rỉ và gục xuống hai cánh tay. Nó mất máu rất nhanh. Không ai có thể cứu được nó nữa. Chỉ vài phút sau, người nó rúm lại như một cái ruột xe cao su hết hơi. Lúc trước đi học, nó giỏi toán đến thế, nay có ích gì cho nó nữa không…”

Những đồng đội của chàng lính trẻ Paul, cùng một tuổi hoa niên vui đùa với sân trường, lớp học, cùng ghi danh nhập ngũ, cùng đào tạo ở một trung tâm huấn luyện… Quá đủ để hình thành một mối quan hệ khắn khít khôn tưởng. Vậy mà,“Kemerik, cái thằng bạn, vừa mới đây còn nướng thịt ngựa với chúng tôi, còn cùng bọn tôi rúc vào một cái hố trái phá. Giờ nó đã là như vậy đấy. Vẫn là nó, mà không phải là nó nữa. Hình ảnh nó bị xóa mờ, chập chờn. Ngay cả tiếng nói của nó cũng phảng phất cái gì của thần chết. Nước mắt chảy ròng trên má nó. Tôi muốn lau cho nó nhưng cái khăn của tôi bẩn quá. Một giờ trôi qua, tôi vẫn ngồi đây, đầu óc căng thẳng và tôi chăm chú nghe nó muốn dặn dò điều gì nữa không. Giá Kemerik mở to miệng la được và kêu lên. Nhưng nó chỉ khóc, đầu ngoẹo sang một bên. Nó chẳng nhắc gì đến mẹ, các anh chị em, nó chẳng nói gì cả; có lẽ tất cả những điều này đã quá xa xôi đối với nó rồi. Giờ đây, nó chỉ còn một thân một mình với cuộc đời hèn mọn. Mười chín tuổi, nó khóc vì cuộc đời ấy bỏ nó mà đi.”

Một đêm Tháng Ba, tôi nghiền ngẫm thâu đêm dòng tâm tưởng của Remarque. Những hình ảnh chỉ diễn đạt bằng sức mạnh câm lặng của ngôn từ. Hình ảnh của một quá khứ chiến tranh đã thức tỉnh trong tôi nhiều buồn bã hơn mong ước. Đêm Tháng Ba vẫn lạnh, bàn tay tôi lạnh toát; và tôi ‘nổi da gà’ với một cảm giác quanh mình là làn sương mù lạnh lẽo, quái gở bị bao phủ bởi những hình ảnh nhợt nhạt, những dòng máu tím đen đóng cục trên những hốc mắt đóng nghiền, những hố phễu đầy xác người… “Buổi chiều nặng nề và hơi nóng từ mặt đất bốc lên. Khi thổi về phía chúng tôi, gió lại mang đến cho chúng tôi mùi máu, cái mùi nặng nề, nhạt nhẽo kinh tởm ấy, cái mùi chết chóc bốc lên từ những hố đại bác, giống như một thứ thuốc mê trộn lẫn với mùi thối rữa, làm cho chúng tôi khó chịu.” Tôi đọc, hay nghe từ những câu chuyện kể của những người cựu chiến binh lớn tuổi, họ đã từng ăn ngủ kế xác đồng đội đã bốc mùi. Mặt trận An Lộc, vài ngàn trái pháo một ngày. Chỉ mong ngưng tiếng pháo để ló đầu lên khỏi hầm hố hớp chút khí trời hay tìm một chút nắng tươi. Và mong cả địch ngưng pháo để bò lên vùi vội xác đồng đội cho khỏi thối rã. Nhưng ngay cả sự im lặng bất thường ấy cũng là một đe dọa chết người.

Những người lính trận Đức đã dần quen phần nào rằng Chiến tranh là một nguyên nhân của cái chết; cũng như những căn bịnh thông thường. Chỉ có điều, những ‘ca’ chết thì nhiều hơn, phức tạp và ác liệt hơn. Trên những thân hình tàn phế vẫn còn những bộ mặt con người. Và đã có hàng ngàn những quân y viện như thế ở những nước Pháp, Đức và cả Nga. Chiến hào, nhà thương và nấm mồ công cộng, không gì khác hơn như Paul đã nghĩ: “ Nếu nền văn hóa hàng ngàn năm không thể ngăn ngừa những suối máu như thế đổ ra… Chỉ có quân y viện mới thực sự thấu hết chiến tranh là gì.”

Tôi muốn thoát khỏi những bi luỵ trên những dòng bút tích Chiến tranh. Dẫu những trái phá vẫn tàn nhẫn trên những hố phễu đầy xác người đã làm tôi rợn người. Có thể, ngàn lần tôi vẫn không thể hiểu nổi những gì người lính trẻ như Paul đã phải đối mặt. Nỗi lo âu kinh hãi. Những ý nghĩ yếu đuối và run rẩy. Những ảo tưởng huyền hoặc giữa ranh giới của sự sống và cái chết. Trái phá, hơi ngạt, xe tăng: những vật nghiến nát anh, xâu xé và giết chết anh. Bệnh lỵ, bệnh cúm, bệnh chấy rận đã làm anh nghẹt thở cũng đốt cháy, giết chết anh.

Trên quê hương tôi, hình ảnh Chiến tranh còn in dấu trong ký ức trên những “Đại lộ kinh hoàng”, Mậu Thân Huế, những Quốc lộ 19, 14… Cơn man dại của trái phá của chiến tranh còn hằn lên cả những thân phận người vô tội…

Chiến tranh rồi cũng sẽ qua đi, nhưng di chứng của nó vẫn còn hằn lên những số phận đã đi qua cuộc chiến. Quân Đức đã đánh tan một cuộc tấn công của đối phương, Paul đâm chết một lính Pháp và chứng kiến cảnh hấp hối thật đau đớn của người này. Đây là kẻ địch đầu tiên chính tay Paul tiêu diệt. Anh cảm thấy đau xót và xin cái xác ấy tha lỗi, “Này anh bạn, mình có muốn giết anh bạn đâu. Nếu bạn lại nhảy vào cái hố này một lần nữa, tôi sẽ không làm thế nữa; miễn là bạn cũng phải biết điều. Tại sao, người ta không nói cho bọn mình biết được rằng chính các cậu cũng chỉ là những con chó khốn khổ như bọn mình; rằng chúng ta đều sợ chết như nhau, đều chết một cách giống nhau, chịu những nỗi đau đớn như nhau… Cậu bạn ơi, hãy tha thứ cho tôi, tại sao cậu lại có thể là kẻ thù của mình. Nếu chúng ta có thể vứt bỏ đi những vũ khí và bộ quân phục này đi, bạn rất có thể là anh em của tôi…”

Tôi cũng chẳng hề nghĩ mình lại có thể mặn mà với đề tài binh lửa, nhưng với một cuốn tiểu thuyết Chiến tranh thì không thể hình dung nếu không có văn chương về cuộc Đại chiến. Đã có lúc, con người chẳng còn thiết đến nỗi khủng khiếp về cảm giác thô bạo của Chiến tranh. Thật may mắn, khi thế hệ tôi ngày nay đã không còn những kinh nghiệm về những con số kinh hoàng: ngày 22 tháng Tám năm 1914, quân đội Pháp mất 27,000 người chỉ trong một ngày. Cả một thành phố. Một nửa học sinh trường Normale Sup thuộc các khóa từ 1910 đến 1913 bị giết giữa năm 1914 và 1918 của Đệ Nhất Thế Chiến.

Sự khát khao được sống của những lính luôn để lại những cảm xúc thật thương xót trong tôi. Nhưng những người bạn của Paul đã lần lượt ngã xuống. Và bản thân anh ngày càng tỏ ra chán ghét Chiến tranh, bởi nỗi kinh hoàng của cuộc chiến đã tước đoạt tuổi thanh xuân của họ. Một cuộc chiến đã chẳng mang lại sự vinh quang nào. Tác phẩm văn chương chiến tranh All Quite On The Western Front, đối với đế chế Đức Quốc Xã sau đó thì đã được xem như một cuộc phản kích nhắm vào sự phản bội dưới hình thức văn chương với những người lính của cuộc Đại Chiến. Họ đã quyết định ‘đốt’ tác phẩm của Erich Maria Remarque vào đống lửa. Ngoài tiểu thuyết nổi tiếng này, chính quyền Hitler cũng thiêu rụi luôn tác phẩm Giã Từ Vũ Khí của nhà văn Ernest Hemingway.

Luồng gió hy vọng mơn trớn những cánh đồng bị lửa đạn tàn phá. Cơn sốt hầm hập của chờ mong trong nỗi tuyệt vọng. Những người lính mơ về cuộc đình chiến và hoà bình. Remarque, có lẽ đã an bài cho chàng lính Paul Bäumer một số phận bình thản…

“Anh ngã xuống, đầu về phía trước, nằm dài trên đất, như người đang ngủ. Khi lật anh lên, người ta thấy hình như anh không đau đớn lâu thì phải. Nét mặt anh bình thản và như biểu lộ một vẻ bằng lòng về cái kết cục như vậy…”

Kết thúc, là cái chết của nhân vật chính Paul Bäumer vào một ngày Tháng Mười năm 1918. Một ngày mà các báo cáo quân sự từ mặt trận phía Tây chỉ vỏn vẹn dòng chữ “Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh”, và nó được lấy làm tựa cho cuốn tiểu thuyết. Gương mặt bình yên của Paul Bäumer khi chết. Và vẻ như anh sung sướng vì sự kết thúc đã đến…

Hãy tha lỗi cho tôi, một thế hệ sinh ra chẳng bởi lòng thù hận của Chiến tranh. Tôi cũng đã từng tự hỏi Chiến tranh sống ở đâu, và điều gì đã khiến nó thảm khốc đến thế. Chiến Tranh Thứ Nhất chỉ là con số của 4 năm (1914-1918) so với cuộc chiến Việt Nam 1954-1975 đã chẻ đôi tình cảm dân tộc.

Tôi cũng tự hỏi về sự xác quyết của Chiến tranh. Chỉ biết rằng, nó chỉ xác định được ai còn, ai mất!

Đặng Mỹ Hạnh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Mười Hai 20255:00 CH(Xem: 6705)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
17 Tháng Mười Hai 20253:02 CH(Xem: 11123)
MƯA không phải là một bài thơ, mà là một trường thi của hiện sinh, nơi mưa trở thành một thực thể siêu hình: mưa của thời gian, mưa của ký ức, mưa của lưu lạc, và mưa của chữ nghĩa tự vấn chính mình. Ngay từ khổ đầu, Thi sĩ Nguyễn Chí Trung đã đẩy mưa vượt khỏi phạm vi tự nhiên để đặt nó vào trường độ lịch sử và siêu lịch sử: “mưa từ thượng cổ đến nay”. Mưa ở đây không gột rửa mà làm meo mốc ký ức, phủ rêu lên những “ngày vui qua”, những ngày “như ngọc như ngà” nhưng chỉ còn tồn tại như một hình thức của nhớ, không còn là thực tại. Đó là mưa của thời gian bị hỏng.
17 Tháng Mười Hai 20252:52 CH(Xem: 6350)
Đặc biệt là với bộ phim: “Rang De Basanti” sản xuất năm 2006 (Hãy tô màu nghệ cho tôi - nguyên gốc tiếng Hindi có nghĩa: Hãy vẽ tôi bằng màu sắc mùa xuân) của đạo diễn Rakeysh Omprakash Mehra, bộ phim đã phá vỡ toàn bộ các kỷ lục phòng chiếu trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ và sau đó chiến thắng nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng; và bộ phim “The Last Film Show” sản xuất năm 2021 (Buổi chiếu phim cuối cùng) của đạo diễn Pan Nalin - người xem phim Việt có thể tìm thấy dân tộc mình trên con đường đẫm máu đến với Tự do & Dân chủ và đồng thời tìm đến với Nghệ thuật thứ Bảy như một phương tiện hữu hiệu bậc nhất để tuyên truyền và giáo dục dân chúng.
13 Tháng Mười Hai 202510:23 CH(Xem: 5780)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
13 Tháng Mười Hai 20255:37 CH(Xem: 10277)
Thơ haiku của nhà thơ Nhật bản Miura Chora (1729–1780) trong sáng và giản dị, nhưng lại giàu chất thơ tao nhã. Miura Chora đã góp phần lãnh đạo phong trào phục hưng Matsuo Bashō vào thế kỷ 18. Những bài thơ dưới đây do Bạt Xứ dịch hầu hết là từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson. ( Bạt Xứ )
13 Tháng Mười Hai 20254:25 CH(Xem: 7869)
Được tin nghệ sĩ Thương Tín mất, xin được thắp nén nhang tưởng nhớ anh bằng kỷ niệm sâu sắc này, trong lần duy nhất được cộng tác với anh trong bộ phim “Thì thầm cao nguyên”: ...Thế là, tôi đã có dịp lang thang mấy tuần liền ở những vùng sâu vùng xa gian khổ nhất của tỉnh Bình Phước để lấy cảm xúc và thu thập tư liệu viết kịch bản phim... Ở xứ sở cao su bạt ngàn, một số cán bộ huyện - xã đã trở thành những “lãnh chúa” mới, chiếm dụng những diện tích đất lớn cho bản thân, còn không ít người công nhân cao-su đang dần trở lại thân phận chẳng kém thời mộ phu thực dân… Tại những vùng của người dân tộc S’ tiêng nơi cực Nam dãy Trường Sơn này, cuộc sống của đồng bào vô cùng gian khổ…
13 Tháng Mười Hai 20254:12 CH(Xem: 10717)
bây giờ rụng tóc nhăn da / tới lui cũng chỉ có ta với người / có ta với một bầu trời / vẫn chung thủy giũa cõi đời đảo điên / anh về thành phố gọi tên / một vùng ký ức thôi miên anh về.
13 Tháng Mười Hai 20253:41 CH(Xem: 5906)
Từ tháng 5/2023 đến cuối năm 2025, kênh đào Funan Techo – dự án biểu tượng dân tộc Khmer do hai cha con Hun Sen và Hun Manet quyết liệt thúc đẩy – đã chính thức bước vào giai đoạn thi công thực địa, với sự tái khẳng định tài trợ 1,7 tỷ USD từ Trung Quốc. Dài 180 km, lấy nước trực tiếp từ cả hai phân lưu chính của sông Mekong (đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu), con kênh không chỉ khó đạt được mục tiêu rút ngắn lộ trình và giảm chi phí vận tải như Cam Bốt tuyên truyền, mà còn có nguy cơ: (1) làm suy giảm nghiêm trọng lưu lượng nước mùa khô về hạ lưu, (2) chặn đứng phù sa, (3) đẩy nhanh xâm nhập mặn sâu thêm hàng chục kilômét, (4) đe dọa trực tiếp sinh kế của hơn 20 triệu cư dân Đồng bằng sông Cửu Long.
11 Tháng Mười Hai 20254:55 SA(Xem: 6010)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
10 Tháng Mười Hai 20257:12 CH(Xem: 9830)
Mùa thu sao lại buồn như cỏ / Trong gió hiu hắt buổi chợ chiều / Tôi trở về đây sau cơn lũ / Nghe hồn còn ngập nỗi cô liêu.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9737)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16582)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15582)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16001)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 704)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2907)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2735)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2682)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 577)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4942)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6807)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6104)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 653)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2298)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2444)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2669)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2198)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2006)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2179)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2203)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 509)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13183)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29146)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35505)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10489)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12390)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1843)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2735)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3000)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3064)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3732)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7530)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6892)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9316)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.