- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Ngủ Đi Nhé À Ơi, Cái Sâu Làm Tổ ...

23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 157971)

dinhdinhNgủ đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ,
cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi

(Tặng Kiên và sự điên rồ của đêm)

Một

Chị lấy chồng năm 13. Chồng là dân bê vác ngoài ga. Rồi yêu. Rồi huyễn hoặc. Hoang đường. Đoành cái chửa. Thế là cưới chui cưới chạy.

Hai

Chị cưới.

Ba

Rồi con chị 13. Chồng chị cũng trải qua 130 con đàn bà lớn bé khác nhau. Chồng chị không bảnh choẹ. Không tài cao lực cán gì. Không câu nuột đá câu nà. Chồng chị to khoẻ như con gấu đen, nên có 130 chứ 131 con đàn bà có bám cặc chồng chị, chị nghĩ cũng chẳng trách chồng vong ân bội nghĩa.

Chị 26. Người quắt. Khô đét hơn lạc nép rang muối. Da vàng choè choẹ. Nhiều khi nhìn nhờn nhợt như lũ dầu nhớt thời bao cấp. Chị biết mình xuống mã trong khi anh chồng càng ngày dư cơ bắp. Quát một câu ra dao. Hai câu ra súng. Anh chồng là đại ca, kiếm được nhiều tiền, nhưng phải cái tội anh keo kẹt với vợ con. Tiền thích để trong két sắt. Cứ ngày đi vắng thì thôi, chứ đêm về là lôi tất tần tật tiền ra đếm. Nhiều hôm nhậu nhẹt về sỉn vẫn lôi ra đếm. Đếm tờ trước ríu sần sật tờ sau, thế là đếm lại. Anh chồng đếm tiền. Con cấm béng mảng. Vợ cấm ngồi hầu. Có bữa say, lăn quay ra ngủ, chị vào dọn, cất lại két sắt, sáng ra, anh chồng nhớ lại, gọi chị lên cho dăm cái tát quay đom đóm. Từ đó chị cạch đến già. Cấm sờ.

Chị chẳng phải làm gì. Anh nuôi, như người ta thì phải béo phây phây mới phải. Nhưng chị ngược lại. Đét đèn đẹt. Đám bạn gái cũ thi thoảng ơi ới điện thoại, rủ lê la hàng cua bún ốc. Thấy chị gầy. Chẳng hiểu, lại kêu ca nhàm nhẹt: “Gầy vừa thôi, chồng nhìn chán, lại đi con khác, cái nhà to thế con khác đến ở, mày có mà cuốn xéo. Nhục. Con mày cũng khổ. Ngu lắm! Ăn mặc đẹp vào. Nó kiếm ra tiền, mình không tiêu, con khác tiêu. Ngu!”. Chị có với anh chồng cô con gái. Cô 13 tuổi. Trong veo. Nhìn ai cũng cười. Cô hay ngắm bụi hoa chuối dưới vườn nhà. Cô hay trần truồng đi lại trên ban công vào ngày mưa. Hàng xóm nói cô điên tình. 13 tuổi. Biết gì về tình mà điên. Hàng xóm chẹp miệng nói cô điên mùa. Chị không nghĩ thế. Chị nói cô còn nhỏ. Còn nhỏ được phép cởi truồng. Cô hay cười. Môi đỏ tươi. Răng trắng muốt. Đàn ông nhìn thèm cắn. Đàn bà nhìn rủa thầm. Chị cấm cô chơi với đám bạn quanh đấy. Chúng nó bẩn. Bậy. Hay tụt quần bắt cô sờ chim, rồi ré lên cười với nhau. Cô cũng cười.

Chị không đưa cô đi học. Chị dư dật thời gian nhưng thích ở nhà ngắm bụi hoa chuối dưới vườn. Cô phải đi hoc một mình. Đến lớp. Bọn ở lớp trêu cô là điên. Cô cười. Chúng rờ tóc cô. Tóc cô đen trơn mượt. Chúng dựt tóc cô. Tóc cô đứt từng túm. Chúng sờ môi cô. Môi cô mềm đỏ mọng. Chúng sờ răng cô, nhét sỏi đầy mồm. Cô nhổ ra, cắn tay chúng chảy máu. Chúng ré lên khóc. Cô cười. Môi dính đầy máu. Cô bị phạt đứng xó lớp. Cô bị kiến đốt đầy chân. Cô bắt đầu bắt kiến cho vào mồm cắn chết. Cô mải mê cắn kiến cho đến khi lớp học tan. Cô giáo cầm cái thước kẻ dài ngoằng xuống gõ vào đầu. Cô nhìn cô giáo. Lẳng lặng đi lấy cặp sách về.

Cô giáo gọi chị đến nhà. Nói rất nhiều. Chị nghe mơ màng. Bụi chuối nhà cô giáo đỏ tươi, đầy chuồn chuồn với bướm bay lượn. Cô giáo rao giảng: “Con gái chị toàn hát con số. Cứ hát đếm 1,2,3 rồi đến 10. Cả lớp hát quốc ca, đội ca thì con gái chị toàn hát sâu bọ chuồn chuồn” Sao mà hoa chuối đỏ thế nhỉ? Chị cứ mải mê suy nghĩ, mải mê bần thần. Chị cứ ám vào đám đọt hoa hừng hực ấy. Cô giáo uống nước lọc. Lại rao giảng. Chị nghe lờ mờ. Chị nhìn ra con dao con dưới gầm bày. Nhặt lên. Cô giáo ú ớ. Chị đi qua người cô giáo ra vườn. Cứa đứt đót hoa đỏ tươi. Cô giáo ú ớ. Chị trả dao đi về. Mặt cô giáo xanh xám. lập chập khụy xuống nền nhà, lầm nhầm không ra tiếng như kẻ mộng du.

Có vài ba lần chị định nói với anh chồng về con gái 13 tuổi. Nhưng anh chồng chỉ về nhà khi đã say, đã khuya khoắt. Có dăm ba bận về nhà khi tỉnh, anh chồng lại đè chị ra giữa đất làm tình. Còn sáng sớm thì chị sợ lắm, chẳng dám hé răng điều gì, anh kiêng kị đàn bà mở mồm vào buổi sáng, anh bảo: “Hãm cặc”. Rồi chị cũng quên việc cô con gái. Chị đi chơi với đám bạn. Họ rủ chị đi ăn bún ốc, rủ đi ăn bún cua, rủ đi mua sắm, mồm mụ nào cũng chập chờn ruồi bâu, vì mùi mắm tôm khắm lặm cả 5m. Mấy bà bạn lôi chị ra, dí đám quần lót vào mặt “Ngắm đi!” họ ra lệnh, chị nhìn mê mải, chị thấy chúng nó đẹp quá. Những chiếc quần nhỏ nhắn xinh xinh, mầu sắc sặc sỡ, giá mà có làm khăn trải bàn cũng đẹp ra trò. Lũ bạn lại nhấc một đống xu-chiêng ngang mặt chị, quát: “Nắn quả xem, vừa cái nào thì nhanh nhả lên, để đi tiếp” Chị sờ nắn nhè nhợ những chiếc đệm mút, thấy chúng mềm mại như lông con mèo con, chị vô tình đưa lên mũi ngửi, mơ màng. Chị chẳng dám chọn cái nào, vì chúng đẹp quá, chị chỉ muốn ôm tất về nhà, nằm đè lên chúng mà hít hà, ngắm nghía, mà ngủ. Chị chợt nhớ ra anh chồng chưa bao giờ mua đồ lót cho chị. Anh chỉ cho tiền chi phí. Chị mua đồ mới, anh có hỏi, có đập nát mặt. Chị mông lung nghĩ nát nước nát cái. Lũ bạn lại khào khào lên ôm một đống đồ lót mang về. Lại he hé cười bàn tán lão chồng sẽ thích kiểu này, sẽ ưng kiểu kia. Chị nhìn. Bấm bụng. Chị yêu chồng. Cái bọn đàn bà đã yêu chồng là chỉ muốn chồng vui. Có đứa đeo đủ loại dây nhằng nhợ đồng, sắt vào chỗ kín để kích thích trí tò mò thằng chồng. Có đứa đi tỉa tót nhuộm màu tạo kiểu dáng cho chỗ kín, để thằng chồng hứng thú, ngắm nghía. Có đứa đi phẫu thuật, ghép da nhìn cho trẻ trung gái tơ. Ôi thì đủ cả. Đấy là chúng bạn của chị nói thế, kể thế, chứ chị có biết đấy là đâu. Chị 26 tuổi. Có kinh đầu năm 13. Yêu anh đầu 13. Lấy anh giữa năm 13. Đẻ con cuối năm 13. Chị 26. Già đâng. Mắt sâu. Tóc rối. Da dầy sình. Chị già thật à. Chị buồn. Lo lắng một ngày chồng mang con đàn bà xinh đẹp khác về nhà.

Bốn.

Trời hôm nay như động đất. Gió vù vù u ám, chắc lại bão giông gì đấy. Chị ngồi ở nhà. Con gái chưa về, anh chồng cũng chưa về. Chị lơ đãng ngắm căn nhà rộng thênh thang đầy vật dụng. Cô con gái về, tóc tai rối bù xù, quần áo rách tả tơi, lại thêm nhiều vết cào xước, chị xăm xoi người nó, gặng hỏi. Cô chỉ cười. Mắt trong veo. Hôn lên má chị bằng đôi môi đỏ tươi. Cô đi lên cầu thang. Chị nhìn theo, lòng không yên ổn. Dạo này thời tiết lạ lắm, cứ sầm sập mây đen kéo đến là mưa tức thì. Mưa. Con bé nhà chị lại đi ra sân thượng, tụt quần áo rồi cười. Mấy lần chị bắt cô vào nhà, chị sợ cô cảm. Chị không sợ người ta nói cô điên mùa. Chị không sợ người ta nói cô điên tình. Cô còn nhỏ. Cô 13. Mắt trong veo. Cô còn quàng khăn đỏ. Cô còn hát quốc ca, đội ca trong giờ sinh hoạt. Chị nhớ đến lần cô ốm. Chị kéo cô vào nhà. Mắt cô xanh lét. Da cô không còn trắng hồng mà tím tái như da người treo cổ. Tóc cô xơ xác. Môi cô thâm quạch. Nhìn cô lúc đấy rất giống bà ngoại chị. Bà ngoại chị bị điên tình. Bà ngoại ăn nhằm bả chuột. Chết. Da bà, môi bà, tóc bà gần y chang con gái chị khi ốm. Chị sợ bà. Đâm ra ghét bà. Chị ghét con gái chị ốm. Cô làm chị nhớ đến bà. Kinh. Phát kinh. Chị nhổ nước bọt đầy sàn nhà khi vào phòng chăm con. Mưa. Chị kéo con vào phòng. Đóng cửa lại. Con gái nhìn chị không cười. Cô thản nhiên vuốt tay xuống dưới háng, đưa lên chị nhìn, dòng nước mưa lẫn màu đỏ của máu lênh trên những ngón tay xinh xinh của cô. Chị chột dạ. Cô nhìn. Nhìn chị rất lâu. Rồi lại cười. Lại hát những bài con sâu con bọ con chuồn chuồn. 13 tuổi chị có cô. 13 tuổi chị không hát con sâu cái kiến, con bọ chuồn chuồn. 13 tuổi chị thuộc về anh chồng, người đàn ông duy nhất, hừng hực sức voi sức gấu. Chị có cô khi 13.

Chiều!

Anh chồng về, không say, có vẻ gì đó phơn phởn, chắc lại vớ phải vụ gì bạc triệu. Chị hào hứng lôi đống đồ lót ra thử. Chị tơn tớn mặc cái quần lót hoa hòe hoa sói vừa mua được vài tiếng dưỡn dẹo trước mặt chồng. Anh chồng khằng khặc cười, tợp ngụm rượu rồi “Chẹp!” rồi “Mẹ mày khá, ngày càng mô-đen, phải thế chứ!” Chị lại đi vào, lôi cái áo nịt ngực ra khoe, nhìn đã chán ngất, chỉ thấy cái áo đèm đẹp hồng hồng, chứ núm vú thì làm đếch gì còn, ngực nhão xệ rồi, chỉ đẻ một đứa thật đấy, nhưng làm đếch gì có ngực. Chồng tút thêm ngụm nữa, vẫn khen “Đẹp! Mẹ mày được đấy!”

Rồi như sực nhớ ra, anh chồng ngoắt ra hỏi: “Hết bao nhiêu tiền?” Mặt chị đang phơi phới, nghe thấy anh hỏi, khựng lại, mắt lấm lét, lí nhí: “Hai triệu, mình”. Anh chồng quăng cốc rượu vào tường cái choang, lao về phía chị, túm tóc, quật xuống đất gầm lên: “A, con đĩ, mày giỏi, mày định phá hoại tiền nhà ông à?” Cứ như vậy, anh chồng ôm đầu chị đập bồm bộp xuống đất, hàng xóm đổ xô lại bâu xung quanh cửa nhà, nhòm ngó. Chẳng ai can đâu. Vợ chồng nhà này đánh nhau như cơm bữa, vài chục phút nữa lại ẩy nhau xuống nền đất làm tình ngay. Ôi dào! Dân tình nhòm cho bổ mắt. Với lại, cái mảnh đất này nó là thế, toàn dân anh chị trôi dạt về. Thằng nào cũng dăm ba vết chém trên mặt, nhìn cứ như tranh lập thể, siêu thực. Rõ gớm. Ngay sau trận đòn, anh lại vạc chị ra nền nhà mà cưỡi. Chị im lặng hưởng thụ lối làm tình động vật. Chị thấy điều đó là đủ, là hạnh phúc với người đàn bà khô rang nẹp tép như chị. Chẳng biết sao chị lại nghĩ đến cô con gái trong lúc nồng nã này. Chị hổn hển ngắc ngứ: “Con bé dạo này nó...”. Chị im lặng, không nói tiếp được. Anh chồng hổn hển: “Cặc! Nó điên, cho đi mẹ Châu Quỳ. Nó điên như bà mày là cùng”. Nói đến đấy, anh chồng trợn mắt gục lên người chị. Chị thấy chồng im, để anh ngủ. Chị nhớ ra đây là lần đầu tiên chị thấy anh gần gũi kết gắn với chị cả trong giấc ngủ. Anh nằm ngủ trong tư thế giao hoan. Đời chị chỉ biết anh, gắn bó với anh như con chó, anh mắng chửi đánh đạp, nhưng chưa bao giờ hắt hủi chị. Nhưng mà chị vẫn lo lo, lo một ngày anh đưa một người đàn bà đẹp khác về. Anh đã qua đêm với 130 người đàn bà, biết đâu, người thứ 131 anh lại đưa về, rồi hắt hủi chị. Chị nằm yên, nghĩ lan man, giấc ngủ mệt nhọc kéo đến, chị thiếp đi.

Chị giật mình thức bởi tiếng cười trong veo của con gái. Trời đang mưa, sấm chớp ầm ầm. Con bé chắc lại trần truồng. Chị ngó thấy cô bên bụi chuối, đọt hoa chuối đỏ rực. Cô hát. bài hát về con sâu cái kiến, bài hết về loài bọ chuồn chuồn “Ngủ ngoan đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi. Ngủ ngoan đi nhé à ơi”. Chị bật cười ngây ngô, chị hất chồng xuống đất, chạy ra vườn với cô. Cô nhìn chị ngạc nhiên. Cô đưa hai tay ra rờ chỗ kín của chị. Nó nhơn nhớt, không có màu đỏ như cô. Cô bật khóc. Đám tóc rối bết lên khuôn mặt trắng xanh. Môi tươi bắn máu. Chị tóm lấy tay con ôm chặt vào lòng. Cô khóc ngất. Như có ai đó đánh đau oan ức. Như tình nhân phản bội. Như ai giật mất món quà yêu quý. Cô nấc từng hồi. Chị vuốt tóc cô. Chị hát: “Ngủ ngoan đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi. Ngủ ngoan đi nhé à ơi”. Cô nhìn chị, cô cười rồi hát khe khẽ. Chị đưa cô lên sân thượng. Leo ra ngoài lan can. Mưa rất to, sấm chớp đùng đùng. “Ngủ đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi. Ngủ ngoan đi nhé à ơi”. Mưa. Mưa. Trời rất cao. Và xa.

ĐÌNH ĐÌNH (Hà Nội Tháng 6/2006)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Chín 202612:23 SA(Xem: 2714)
Từ những chuyến đi Ấn Độ năm 2010 và 2016, đặc biệt là chuyến đến Varanasi – thành phố bên dòng Ganga linh thiêng – Nguyễn Chí Trung mang về không chỉ những hình ảnh của một miền đất, mà còn những ám ảnh về sự sống, cái chết, niềm tin, tình yêu và thời gian. “Tam Ca Sông Hằng – Ganga Trilogy” được viết tại Đức từ cuối tháng 3 đến tháng 12 năm 2016.
23 Tháng Chín 202611:16 CH(Xem: 2296)
Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2315)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
22 Tháng Chín 202610:40 CH(Xem: 3114)
Gã ngược miền ký ức Tìm về tuổi đôi mươi Tim rộn ràng náo nức Gọi đò ơi... ơi... ời..
22 Tháng Chín 202610:27 CH(Xem: 3186)
Sâu dưới biển là căn phòng tối anh đen em đen. Anh không có quyền sinh nghĩa cho em.
22 Tháng Chín 202610:17 CH(Xem: 2119)
Tôi là một phụ huynh có hai con gái trong thế hệ Gen Z, hiện đang làm công tác giáo dục (hướng nghiệp & dạy nghề) và là nhà làm phim độc lập chuyên về đề tài giáo dục thế hệ trẻ, theo định hướng phát triển Công nghiệp văn hóa của Đảng và Chính phủ… Cần có “xưng danh” theo lối giáo đầu của Chèo cổ, Tuồng cổ như thế để phòng xa rào chắn những cuộc “ném đá” phũ phàng chắc chắn sẽ diễn ra…
22 Tháng Chín 202610:08 CH(Xem: 2725)
Có một dòng sông đã hơn một lần chôn vùi giấc mộng xâm lăng của một đế chế phương Bắc hung hãn. Vâng, bạn biết không, không chỉ một, không chỉ hai, mà đến ba lần. Những đội quân hùng mạnh nhất châu Á. Các chiến binh dũng mãnh của các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên đã từng vùi xác nơi này bởi dòng nước, bởi bùn lầy, và trí tuệ con người. Dòng sông ấy mang tên Bạch Đằng Giang.
22 Tháng Chín 20269:55 CH(Xem: 2208)
Sau hơn hai giờ đồng hồ chăm chú dõi theo từng chi tiết tâm lý, từng hành động võ thuật, từng góc máy, từng bối cảnh rộng và hẹp… của bộ phim “bom tấn” Việt này (bản cắt dựng lại), T cận tôi phải tự thốt lên: Nếu không có Nhà sản xuất BHD, sẽ không thể có nổi bộ phim HLTS, và điện ảnh Việt đến hôm nay có thể tự hào mà nói rằng: Đây chính là một cột mốc đáng kể nhất của hành trình mơ ước & làm phim Lịch sử - Dã sử của nhiều thế hệ Điện ảnh VN suốt một thế kỷ qua!
17 Tháng Chín 202611:54 CH(Xem: 2700)
Sáng ngày 26 tháng 8 năm 2026, vùng biên giới Nepal–Tây Tạng bỗng biến thành một hành lang chết chóc. Một khối băng khổng lồ sụp đổ trên cao nguyên Himalaya, kéo theo đá núi và nước tan tràn xuống các thung lũng bên dưới. Chỉ trong thời gian rất ngắn, dòng nước bùn ấy phình to thành một trận lũ dữ dội—một thứ “sóng thần trên núi”—cuốn phăng cầu cống, đường sá, nhà cửa, trạm biên phòng và toàn bộ những khu dân cư nằm dọc theo các con sông.
17 Tháng Chín 202611:22 CH(Xem: 2937)
LGT: “Ba tuần sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26 tháng 8 năm 2026, bài viết này điểm lại những gì khoa học đã làm rõ và những câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ về chuỗi tai biến khởi đầu từ sườn bắc Langtang Lirung. Đây không phải tường thuật cứu nạn, mà là một tổng thuật khoa học–môi sinh với ba nhận định chính.Thứ nhất, đây không phải một trận Lũ do Hồ Băng Vỡ / GLOF điển hình, mà là chuỗi liên hoàn: sườn đá–băng sụp đổ → thác lở đá–băng → dòng bùn đá → lũ đậm đặc trầm tích.Thứ hai, khí hậu nóng lên, băng hà thoái lui và permafrost suy thoái tạo bối cảnh bất ổn lâu dài; nhưng những nghiên cứu mới cũng chỉ tới yếu tố cấu trúc địa chất và sự suy yếu của khối đá. Nguyên nhân trực tiếp của vụ sụp đổ vẫn chưa được xác định dứt khoát. Thứ ba, điều con người còn có thể chủ động là cảnh báo sớm và hợp tác xuyên biên giới, bởi nước lũ không cần sổ thông hành. . Từ tín hiệu địa chấn lúc 08:37 giờ Nepal đến “ký ức địa hình” / landscape memory của trận GLOF năm 2025, bài viết của BS Ngô Thế Vinh...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3784)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13205)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19610)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18591)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1533)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1707)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2214)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2321)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1408)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2161)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1894)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1945)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1289)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2319)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2533)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2315)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 185)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 747)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 959)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1028)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6362)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15838)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32092)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38812)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1389)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13863)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6860)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10621)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9815)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9934)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10742)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3420)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11082)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10309)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi