- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,820

THƠ TỪ HOÀI TẤN VÀ NHỮNG NGÀY NÓNG THÁNG BA

20 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 19892)
 

tuhoaitan-nnthang_3-content

LTS: Chúng tôi nhận được bài viết của nhà nghiên cứu Khổng Đức nói về thơ của thi sĩ Từ Hoài Tấn trong tập “ Đi, đứng và chạy… với thời gian ”. Chúng tôi xin được hân hạnh giới thiệu những bài thơ của Từ Hoài Tấn đến cùng quí độc giả và văn hữu của Hợp Lưu khắp nơi.

Tạp Chí Hợp Lưu



NGÀY NÓNG CỦA THÁNG BA


Tháng ba mặt trời phơi lộ hết nhan sắc

Đêm đi vắng rất lâu

Cuối hẻm nhỏ có người đàn bà xõa tóc quạt thành gió

Tà áo bần bật

Ngày dài ngoằng hơi thở sốt

Khi đi qua một thoáng ngơ ngác nhìn

Cảnh tượng giữa tháng

Rủ em vào trú một bóng râm

Vệ đường bốc khói

Ngửi hơi hám em quên buổi trưa giữa tháng ba

Ngày cũng biệt dạng


Từ Hoài Tấn



HÃY TỈNH TÁO- SỰ THẬT


Không có sự thật nào là sự thật cả

Thời đại đánh đố trên những lời nói

Người bạn hôm qua kẻ thù hôm nay

Cũng giống như đồng tiền sấp ngửa hai mặt

 

Lịch sử dù có được viết lại

Cũng không thể chối bỏ được rằng

Sự thật không phải vậy

Sự thật chỉ là phương tiện phục vụ

Cho một sự thật khác

 

Giờ - thời khắc của ngày

Ngày và tháng của những năm

Đôi khi sự thật cũng không thể là sự thật sau hàng trăm năm

Không thể nói được

Bởi vậy, hãy tỉnh táo đi - sự thật

Như thể không còn ý nghĩa nào nữa tự chính nó

 

Tôi sống mệt mỏi bởi những niềm tin

Về một sự thật khác


Từ Hoài Tấn



MỘT NƠI TẠM THỜI ĐỂ TỎ TÌNH



Tôi tưởng tượng ra một chút mùa đông khi hôn em dưới tàng cây góc đường nhỏ hẹp ngày thành phố tung tóe nắng


Em giấu kín bàn tay búp măng tuổi thơ nhỏ nhắn hiền dịu xinh đẹp làm người ta chết ngất mấy tầng


Không có em làm sao buổi sáng nay thức dậy trong khi tập thể dục vừa gửi một chùm tin nhắn hẹn hò


Ở dưới tờ lịch mới tháng hai âm vẫn còn hơi hướm mùa xuân sao tưởng như mùa hè nắng dữ quá


Tôi bước ra đường tôi chạy xuống phố có chút ngân vang trên con đường tôi đi hình như có ai đó hát đuổi theo tưởng chừng như không dứt


Ừ rồi thế nào tôi cũng sẽ được gặp em nơi ấy là nơi đã hẹn hay nơi nào cũng được như tôi tưởng tượng ra trong một ngày mới khởi đầu và chào đón mùa hè sẽ quay trở lại


Những con đường nội thành lóe sáng nắng tháng ba khó tìm nơi trú ẩn cho đôi ta giữa hai hàng cây trọc đầu chịu trận


Hôn em đi và chờ đến mùa sau

 


Từ Hoài Tấn



Á N H S Á N G



chiều nghi ngút

hồi âm rời rụng

kẻ lạ ngoài cửa thổi sáo gọi loài chim di trở về vào một ngày lập đông

em không còn gì nữa ngoài điệu hát nhàm chán vào mỗi chiều trông đợi

em có nghĩ rằng người ở xa quá không làm sao nghe nỗi lòng em

chiều ngậm tăm trong cõi lặng


người có ánh sáng không phải chỉ để soi rọi vào bóng tối

không chỉ để thấy niềm mong ước thắp lên

người phải thức dậy và khươi một que lửa

để còn hy vọng ngày mai

ánh sáng không chỉ để phân biệt với bóng tối

là nguồn lực động luôn phải tiến về phía trước

là ngày mai của những người cùng khổ

là ngọn lửa cuối đường đêm đen của người mù

ánh sáng của sự bất diệt


tôi ca ngợi em

không phải vì tình yêu

mà vì sự đẹp đẽ của cuộc sống

ví như ánh sáng soi rọi cuộc đời


tôi ca ngợi ánh sáng

để làm đẹp cho bóng tối

và chỉ có trong bóng tối

đôi khi con người mới nhận ra nhau

bằng ánh sáng

của tình yêu



Từ Hoài Tấn




bên quán cà phê bờ kè của C.A.N

tặng NT


gặp em

để nhớ nhung một chút xa cách

những ngày hoang đàng cùng đồng cỏ

ngang tàng với ánh trăng khuya

cuộc ruổi dong của định mệnh

nghĩ rằng em

với đôi mắt ươn ướt màu nho

vẫn thường để tóc tự do leo luống bờ vai

hay có thể tưởng tượng thêm

đôi bàn tay không bao giờ ngửa mặt lên

úp vào thân thể ngọt

nghĩ rằng em

dẫu không anh

vẫn còn anh

trên những dấu tích cũ ấy


***

gặp em

dòng kênh đã đổi màu

đã rất nhiều ngày

hay mười mấy năm rồi nhỉ

không biết chúng ta đã vượt qua nhau chưa ?


SG XI.2013

Từ Hoài Tấn



BỮA TIỆC NGẮN, TRONG MỘT BUỔI CHIỀU Ở CĂN NHÀ CŨ



Tháng mười hai loanh quanh với nhịp điệu cũ

Ngày lòng vòng đêm lòng vòng

Qua khu phố gãy từng khúc nhà

Những cánh cửa xiêu vẹo

 núp sau bức tường xây dang dở

Căn nhà cũ đấy

Căn nhà thuê những năm chín mươi thế kỷ trước

Những căn nhà chỉ mười lăm mét vuông

Năm sáu người chia nhau ở

Cho tròn một vòng đời


Chiều nay, bạn cũ,

 bên chiếc xe ôm nuôi sống gia đình bạn

Thăm bạn

Mời bạn gói thuốc (vì ta nay đã bỏ thuốc)

Mời bạn ly bia (ta nay cũng bỏ bia)

Nhưng không nhạt nhẽo vì để bạn uống một mình

Những thứ ấy không quan trọng

Bằng buổi chiều ta gặp bạn

Và bữa tiệc ngắn

Nhiều chuyện để nói

Không bao giờ hết

Nhưng bạn phải trở về đời sống thực của bạn –

 có người gọi bạn đi xe ôm

Tạm biệt bạn

Ta cũng trở về cuộc sống của ta

Lòng vòng loanh quanh ngày và tháng


Tạm biệt căn nhà cũ đấy

Những năm không hề quên

Ta đã ra đi và bạn ta còn ở lại

Bao giờ ra khỏi - một ngày mai


Từ Hoài Tấn



CHIỀU VỠ MỘNG


chiều hát cùng ly rượu trôi theo

sự thật là em ra đã ra đi cùng kẻ nọ

một ngày vào tháng chạp - người đưa thư

mẫu tin ném vào cửa sổ

 

ở bên kia đường cô bán thuốc lá lẻ

ngồi mĩm cười một mình

và trên hàng cây cao

những chiếc lá vẫy tay cùng gió chợt

 

mỗi ngày ta dự cuộc săn đuổi

với những người bạn có trái tim đen

sự cô độc của đóa hoa

ở ngoài tầm bắn vội

 

chiều hát và nhiều bóng người đã tan đi

nhạt nhòa để quên

màu vàng óng chén rượu

không thể tin

mọi việc đều thay đổi ví dụ cuộc tình em

ví dụ đời sống anh cũng vậy

 

 

giả thiết có một ngày

dở mặt nhìn sự bất diệt

bông vụ bay lên giữa khoảng không

trong cõi – hình như em

cũng vừa chia tay với kẻ ấy


Từ Hoài Tấn

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1070)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1148)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1835)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5868)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13181)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30067)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81206)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 366)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối