- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,592

KHÁNH TRINH VÀ NĂM BÀI THƠ KHÁC

20 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 21946)

a_khanh_trinh-hoian-content

 Khánh Trinh- Phố cổ Hội An


KHÁNH TRINH

EM CÓ VỀ KHÔNG?

 

Em có về xứ Quảng với anh không?

Về để nghe Thu Bồn rì rầm khúc tự tình khuya khoắt

Về bên anh, bên núi rừng xanh ngắt

Ướm yêu thương bên phố Hội mùa xuân

 

Em có về cho xứ Quảng bớt nhớ mong

Đá cheo leo dừng nên Hòn Kẽm

Chén rượu nồng anh say quên ủ ấm

Bàn tay em chăm giấc yên bình

 

Em có về cho cơn bão bớt cuồng phong

Cây lúa đương xuân vươn mình căng tròn hạt

Vần thơ anh thôi đi lạc nhịp

Nhớ em, đất cũng khát yêu thương.

 

Em có về xứ Quảng với anh không?

Sao câu thơ em mang tâm tình xa xứ

Hay đất không giữ nỗi, người không níu nỗi

Nên em đi chẳng hẹn quay về.

 

Em muốn về xứ Quảng yêu thương

Về với anh, về nghe Thu Bồn da diết

Nếm trái cây Đại Bình, ăn bó rau Trà Quế

Cho ấm lòng kẻ ly quê

 

Nhưng, em chưa về xứ Quảng được anh ơi

Lại nợ nần, lại là người có tội

Anh giữ giùm em tiếng mô tê rớt vội

Câu ca tuồng em quên lỡ khúc ngâm

 

Em chưa về xứ Quảng được nghen anh

Hôn giùm em chút tình quê tha thiết

Sài Gòn – Quảng Nam có bao giờ cách biệt

Mà nặng lòng em làm kẻ ly quê.

 

Chén rượu Hồng Đào em chưa kịp nếm môi

Câu Kiều ba ngâm em đà bỏ lỡ

Em chưa về để người phải nhớ

Mùa xuân về, lại hỏi: Em có về không?

 

Khánh Trinh Sài Gòn, 10h24 14/ 07/ 2013

 

 

GỬI MÁ - NGƯỜI ĐÀN BÀ LAM LŨ NHẤT ĐỜI CON

 

Gửi má – người đàn bà lam lũ nhất đời con,

Tự bao giờ con yêu thiết tha tấm áo rách bương vì chẳng sắm nỗi một cây kim

Đôi mắt giấu đằng sau hốc mắt vàng mật mà ánh nhìn đốt chảy cả sự kiên định của đàn ông

Có phải con đã thừa hưởng vẻ đẹp này từ má không?

Con luôn tự hào về điều đó

 

Tự bao giờ hạnh phúc với con là mua được món đồ má thích, thức uống má thèm hay giản đơn là tiếng cười giòn tan khi trong lòng má có niềm vui nho nhỏ

Đâu phải vì gia đình mình nghèo nên niềm vui của con cũng gói gọn

Thức giấc nữa đêm, ngã giá trăm lần, con vẫn thương chỉ ngần ấy, ngần ấy thôi

 

Tự bao giờ, chỉ mình con biết, má ơi

Là khi con được sinh ra là con của má

Được vuốt ve tờ tiền nhàu nát đổi bằng những giọt máu chảy ra từ khóe mắt

Con không biết trái bồ hòn, nhưng con biết cảm giác ngậm nước lã làm no

Nên những khuya, khi lớp mặt nạ cuối cùng được lột xuống

Con dành cho mình vài giây để khóc

Có lẽ nước mắt cũng ganh tị

Lại một mùa xuân nữa đi qua...

 

Má ơi, bây giờ áo con thôi rách, nồi cơm của nhà mình cũng không còn đếm hạt, nụ cười của má giàu thêm xíu nữa... Vẫn chưa đủ, nhưng tận sâu đáy lòng, con biết, má vui!!!

 

Khánh Trinh 08/03/2014

 

 

VÌ MÌNH ĐÂU THUỘC VỀ NHAU

 

Em giấu bí mật của mình trong những ngón tay đan vào ký ức

Từng bọt bong bóng khát khao lên trời

Tan giữa không trung

Biến mất

Em vuốt ve đôi môi người đến sau bằng những câu chuyện ái ân anh vẽ trên thân thể em

Em kể về vết sẹo nơi tam giác anh, tam giác em, tam giác thơ

Và bí mật bị lột trần

Người không tin, em biết

Những câu chuyện ngỡ là cổ tích

Em khen em, khen anh, khen chúng ta tài giỏi quá

Giữa sân khấu cuộc đời

 

Em lại giấu bí mật của mình trong lớp tận cùng của áo ngực

Chiếc áo ngực màu đỏ tươi hình cánh bướm

Nhụy hương duy nhất còn đọng lại nơi chiếc vòi hút mật

Chực trào, chực trào, đẫm bầu ngực em

Là anh, vụng trộm

 

Hình như ai đó đang kể về ngày hôm qua

Ngày anh cầu hôn em bằng nhánh bằng lăng bên đường, tím biếc

Em thắc mắc hoài, sao chưa nồng nàn hoa sữa?

À, vì mình đâu thuộc về nhau

 

Kể về người đến sau

Cô gái thay em đi giày đỏ

Ơ kìa, em đâu nhờ đâu gửi?

À, vô tình

 

Đêm!

 

Giấc mơ đêm không có cô nàng bướng bỉnh đòi hôn môi anh trước ngõ

Câu chuyện của người đến sau mang tên chạm – khắc

Em khắc mình vào phiến đá không anh

Câu chuyện xóm Lù, xóm Lỗ em vẫn kể hằng đêm

Trong ký ức em, trong giấc mơ về anh và lúc giật mình về cô gái mang giày đỏ

Ừ quên, chuyện tình mình chỉ có thế

Thôi, em giấu bầu ngực căng tròn sau chiếc áo ngực hình cánh bướm

Em giấu bí mật đôi mình trong câu chuyện với người đến sau…

 

Khánh Trinh (16H39, 15/12/2013)

 

 

LỜI CHIA TAY


Tháng 3 hoa gạo đỏ
Tháng 3 tím sắc ti gôn
Người không về đây nữa
Tháng 3 vương vấn buồn


Chiều nào bên khói bếp
Ta đợi chờ hoàng hôn
Phố nào quên ngõ vắng
Người bước đi 
Vô hồn

Tháng 3 tròng trành nhớ
Ngõ vắng rũ hoa buồn
Rớt bên thềm nỗi nhớ
Giọt sầu hụt hẫng tuôn

Con nắng chiều không dứt
Vàng cánh phượng điệp bay
Ta trả người hờ hững
Đủ yêu tháng 3 này.

Khánh Trinh

 


LỐI VỀ CỨ NGỠ VẪN CÒN NHAU


Mình cứ nhìn nhau như thể chưa quen
Hay là ánh mắt tập làm người xa lạ
Cứ ngỡ yêu thương tròn vành vạnh
Bao lần nhắc nhớ, lối về những tưởng vẫn còn nhau.

Em không tiễn anh đâu
Em cũng chẳng lời chúc phúc
Bởi trái tim quá nhiều vết xước
Em đã khâu vá trăm lần, hơn ai hết, anh hiểu, đấy không chỉ là vết xước thoáng qua.

Mình cứ bước về như thể đã xa
Mỉm cười bên người mới
Em lại váy hồng, người ta cũng ôm guitar và bài hát cũ
Sao vẫn rối bời, nhớ lắm, biết không.

Mình cứ giả vờ, cứ trốn chạy con tim
Cứ đổ tội cho tình yêu không đủ lớn
Hoa sữa có biết nói dối đâu anh, nữa đêm vẫn làm em thức giấc
Vì hương ngạt ngào hay bởi nhớ anh…

Khánh Trinh , 19h43, 17/03/2014

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 992)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1069)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5805)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5790)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13154)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29994)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81097)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20216)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 302)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”