- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tam Quan Của Phạm Ngọc Lương

13 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 65699)

 

phamngocluong-tk2

 (Nhà văn Phạm Ngọc Lương)

 

Phạm Ngọc Lương, sinh ngày 13/11/1981 tại Hải Phòng, xuất hiện trên Hợp Lưu 86 (tháng 12/2005-1/2006) và Hợp Lưu 87 (tháng 2-3/2006) với 2 truyện ngắn Cát hoang và Xóm bờ mương, truyện thứ ba Lơ lửng trên cao viết xong tháng 4/2006, in trên Hợp Lưu 90 (tháng 8-9/2006), tạo thành bộ tam quan (ba áo quan): chôn chữ, chôn môi trường sống và chôn đạo đức con người.

Truyện của Phạm Ngọc Lương tỏa ra một không khí, thoáng tưởng dịu dàng, nhưng đọc kỹ thì thật sự kinh hoàng: pha trộn giữa điên và thực về cái chết. Ba cái chết: chữ chết, môi trường chết và đạo đức chết dẫn đến cái chết thứ tư: cái chết của con người. Cái chết là nhân vật chính trong bộ tam quan của họ Phạm: một thế giới khép kín đầy bi kịch, mọi sự ghê gớm đều đã có thể xẩy ra. Thế giới đầy mật mã của người điên, mà người bình thường không thể hiểu. Ảnh hưởng giao thoa giữa Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Bình Phương trong ngòi bút trẻ đầy tài năng này. Những nhân vật trong truyện của Phạm Ngọc Lương thường sống trong trạng thái thác loạn khó phân biệt giữa người và không còn là người.

Cả ba truyện ngắn đều xoay quanh tác động của bạo lực, mù chữ, tàn ác, trong một xã hội đóng cửa. Ba bi kịch kín, trong ba bối cảnh hoàn toàn khác nhau: Cát hoang trình bày chủ đề hãm hiếp và chôn vùi chữ nghiã. Xóm bờ mương xoáy vào sự hãm hiếp lòng trinh, và chôn sống môi trường. Lơ lửng trên cao là câu chuyện của một gia đình bít kín: đạo đức tháo lui, tất cả bạo lực, dốt nát, loạn luân, tàn ác đã có thể diễn ra trong căn nhà đóng hộp, người biến thành chuột, sống như chuột.

 

Thế giới Cát hoang thu hẹp trong bãi đất nhô lên giữa dòng sông: "bãi đất nổi giữa dòng sông, nhô cao hẳn lên và chạy thành vạch dài" bao quanh bãi đất là một dải cát khá rộng: cát lầy. "Không ai biết người ta đến đấy ở từ bao giờ". "Phía trên đầu họ là hai cây cầu, tầu hú còi trên đầu, ô-tô lũ lượt kéo nhau đi, xe đạp, xe máy và có cả bước chân người, nhưng họ đủ thấp để không cảm thấy gì cả" (HL86, trang 203).

Những người sống trên dải đất ấy, hoặc chưa là người, hoặc đã qua thời kỳ là người. Họ sống một đời đặc biệt, đêm không ra đêm, ngày không ra ngày, "trăng không còn trăng nữa, sao không còn sao nữa".

Họ sống đời hoang dại không đèn không ánh sáng, trạng thái gần như ăn lông ở lỗ: "Con họ không đi học. Họ không cho con đi học. Họ, lọt thỏm giữa dòng sông, giữa hai con đê hùng vĩ, nhà cao tầng và một chùm ánh sáng không bao giờ chiếu tới. Phiá trên đầu họ mênh mông, họ đủ thấp để không nhìn lên cao".

Thế giới cát hoang là một ốc đảo có sa lầy vây quanh, không ai có thể thoát ra được, tìm cách thoát thì sẽ đụng ngay với "Cát nhún nhún. Dấu bàn chân in thành hàng". Bên trên (cầu), có xe hơi, có ánh sáng, có "văn minh", nhưng những người trên ốc đảo thấp quá, họ không nhìn lên cao, vả lại "nhà cao tầng và một chùm ánh sáng không bao giờ chiếu tới".

Trong không khí như thế, bỗng một người con gái xuất hiện. Sự xuất hiện và cái chết của nàng có thể chia làm sáu hồi.

Hồi một: "Một hôm có người con gái xuất hiện. "Con điên" họ nháy nhau. Cô điên ngồi trên bãi cát, dùng gậy vạch ngoằn ngoèo trên cát, lẩm nhẩm. "Kệ nó. Con điên". Họ nháy nhau. Lũ trẻ mò tới... Cô vạch xuống đất. "A". Cô nhìn lũ trẻ. "A". Cô chỉ xuống đất. "A". Cô vẫy tay. "A". Lũ trẻ nhìn nhau. Lũ trẻ "A". "Chữ đấy". Một người nói. "Chữ". Họ gật đầu với nhau". Bút pháp ở Cát hoang là bút pháp khật khừng, đứt quãng của điện ảnh. Sự xuất hiện của người con gái được ghi nhận bằng phương pháp script, tức là tuyệt đối bỏ hẳn lối mô tả thông thường; người viết chỉ ghi đúng những âm thanh và cử chỉ phát ra, mà không hề liên lạc chúng với nhau. Nhờ thế, cái màn "bình dân học vụ" ở đây, không những trở nên quái đản mà còn mang không khí tiền sử: những chữ nhau nối tiếp và lập lại: nháy nhau, nhìn nhau, với nhau, cho thấy hình ảnh một tập thể, ăn lông ở lỗ, trong không khí bầy đàn. Rồi những âm thanh và dấu hiệu phát ra từ quần thể ấy, chứng tỏ đó là những thực thể câm, điếc, những kẻ không biết có phải là người, hay nếu là người, thì cũng đã qua thời kỳ làm người, đã quên tiếng nói, chỉ còn biết u a, u ơ, đã quên sạch chữ, không còn biết chữ là gì.

Hồi hai của bi kịch nằm trong đoạn sau đây: "Cô điên ngồi tịt trong lều... Cô ngồi thu lu một góc. Một người thấy cái lều. Một người đàn ông. Người đàn ông tiến lại. Cô xua tay, lắc đầu, mắt trợn trừng, cuống cuồng bỏ chạy".

Tác động của người đàn ông trên "cô điên" trong cảnh hai này dẫn đến hậu quả là hồi ba: "Cô điên nằm thở dốc. Bụng cô ngày một to, đến nay đã quá to". Và cảnh ba dẫn đến hồi bốn, tạm gọi là cảnh đỡ đẻ cho "cô điên" như sau: "Họ ngoạc mồm ra, họ phùng mang, tay họ ấn, họ lần, họ bóp, họ nắn xem còn cái của nào dắt ở đấy. Cô đau, cô rú lên ằng ặc. Tay cô vung loạn xị, cào, cấu, mắt đỏ xọc. Vợ bọn đàn ông dạt ra, rồi lại xắn tay lao vào.

"Yên nào, để bọn chị giúp". Trong hồi bốn, hành động của bọn "vợ đàn ông" bâu chung quanh người con gái bất hạnh rất khả nghi, không biết là để đỡ đẻ hay chỉ nắn bóp nàng để tra của, tra chữ, hoặc tra thứ gì khác, bởi hai chữ cái của ở đây rất mờ ám, chuyên chở nhiều ý nghiã mập mờ đen tối.

Hồi năm, sau vụ việc đỡ đẻ này, tình trạng người con gái biết chữ được mô tả như sau: "Khi tỉnh lại thì chỉ còn mình cô... Cô hé mắt, mí mắt thâm đen sâu trũng vụt mở rồi nhắm lại. Cô há miệng nuốt khan không khí, bờ môi nứt khô, mớ tóc bết mồ hôi ngả rũ ra theo cái bức non tháng bốn. Mùi tanh ngái nồng trong lều bu ruồi đến, chúng vo ve bên tai. Cô lắc đầu, lắc mạnh đầu, ngọ nguậy. Ruồi tản ra, ruồi bu lại. Khát quá. Cô há miệng hớp không khí rồi rướn người bò ra khỏi lều. Cô bò xuống sườn đất thoải. Cô bò ngang qua bụi thấp, bò qua hoa dại. Cỏ gà vướng vào tay. Cô bò xuống cát khô. Cát lạo xạo, lạo xạo. Cô bò xuống cát mềm. Cát nhun nhún. Cô vục mặt vào nước. Dòng nước đục phù sa. Uống ừng ực. Nước mát. Cô chụm ngón, vốc nước. Tõm tũm. Nước văng tung tóe. Tõm tũm.

"Tỉnh rồi đấy hả? Vui nhỉ!"

"Đỡ chút nào chửa? Khoẻ chửa?

Mấy người đàn bà ngồi giặt gần đấy. Mấy người đàn bà hích hích."

Cảnh này được mô tả kỹ càng và phũ phàng. Khoẻ chửa: chỉ một dấu hỏi thêm vào cũng có nghiã quái gở. Người thiếu nữ bất hạnh đã biến thành con vật hấp hối, nhưng đồng thời những kẻ tạm gọi là người (vợ bọn đàn ông) bu chung quanh nàng, còn tệ hơn, đã mất hẳn tính người, trở thành vượn khỉ, diễn tả sự vui thú bằng những cái "hích hích" trước sự hấp hối của đồng loại.

Hồi sáu: "Cô cảm giác có cái gì đó tách ra, rớt xuống, từng giọt, từng giọt một. Nó loang ra cái váy ngắn ai đó mặc cho cô. Đỏ. Nó xuôi thành dòng theo bắp chân. Thành dòng. Vo tròn từng hạt lẫn vào cát. Đỏ. Cát mềm sựt, cát há ra."

Cảnh sáu này có thể coi như là chung cục của bi kịch: những kẻ "hích hích" đã thắng, đã hoàn tất nhiệm vụ chôn vùi "người điên" trong sa lầy Cát.

Truyện ngắn Cát hoang có cấu trúc thơ hiện đại, bởi tính cách độc lập mỗi chữ, mỗi câu, mỗi đoạn, và những chữ, những câu, những đoạn này lại không được liên kết với nhau theo trình tự logique, cho nên rất khó đọc. Ngoài ra, mỗi chữ, mỗi câu, mỗi cảnh, mỗi đoạn, đều có nhiều ngụ ý, chia cách nhau bằng những tạp âm (tức là những chữ, những câu, không liên lạc gì với những chữ, câu trước) như để phá rối trật tự logique, quấy quả người đọc truyền thống.

Nếu phiên dịch theo một chiều đơn giản, dễ đọc, chúng ta có thể tóm tắt như sau: Người con gái biết chữ chẳng hiểu từ đâu đến xóm này, khi nàng vạch chữ A dạy trẻ nhỏ, mọi người xì xào chỉ chỏ bảo nhau: "chữ đấy". Trong xóm Cát hoang chữ đã trở thành sản phẩm của hành tinh khác. Người con gái biết chữ lập tức trở thành "con điên". Trong thế giới Cát hoang mọi giá trị đã bị đảo ngược: biết chữ là điên, người bình thường phải biết u ơ, ú ớ, như đám dân cư trên đảo cát.

Và tập thể dân cư trên đảo, được mô tả như sau: "Họ chia đều những khoảng đất, họ trồng ngô, trồng rau xanh rì, họ dựng nhà, họ nuôi con. Họ không nuôi đàn ông. Con họ nuôi chó, nuôi mèo. Chó mèo của con họ lại đi rình bắt thỏ nhà khác". "Chó mèo con ra đời, chó mèo lớn vênh vang đi lại, chúng gầm gè những bóng đen lúi húi ở bãi cát, bọn thỏ buồn nhai cà rốt trong lều." Như vậy, người dân ở mảnh đất này biết chia đều đất đai, của cải, họ cộng phân tài sản. Nhưng tại sao họ lại không nuôi đàn ông? Có thể hiểu ám hiệu này như một cách chối bỏ đàn ông, xua đàn ông vào chỗ chết, chỗ chết nào? Đánh nhau chăng? Dù sao chăng nữa thì đó cũng là một xã hội bầy đàn, ham chiến và nuôi gia súc, thích những hàng thuộc hạ chó mèo dễ sai bảo, để đi rình bắt bọn thỏ ngây thơ. Chó mèo lớn lên "vênh vang đi lại", "gầm ghè những bóng đen lúi húi ở bãi cát".

Xã hội cát hoang là một xã hội hạ người xuống hàng gia súc, hiện hữu bằng sự rình bắt và đánh nhau. Cũng không cần cho con cái đi học, bởi chữ nghiã là sở hữu của người điên. Và đối với bọn điên, chỉ có cách trị liệu đơn giản nhất là hãm hiếp, hành hạ thả cửa, rồi vùi sâu trong sa lầy, cho chìm nghỉm. Diệt tuyệt: tuyệt mống con điên, cái chữ. Họ bảo nhau: "Sụt xuống cát rồi. Kia, kia kià, còn vạt áo đấy". Còn cái nòi nào trong bụng "con điên" thì phải moi ra cho hết, đầy chúng đi xa, giấu đi: "để xa lắm, không ai biết".

Mỗi hình ảnh trong truyện đều có thể có những ý nghiã khủng khiếp đối với người này, mà hoàn toàn vô nghiã đối với người kia. Tất cả rối rắm trộn lẫn như một thứ bi kịch u uất, không đầu, không đuôi. Phải đọc bằng dư âm, đọc như ám hiệu... Ví dụ những âm thanh "ngày ngày tháng tháng" hoặc "ngày tháng, ngày tháng", cùng để chỉ thời gian trôi qua, chỉ khác cách xếp đặt trật tự, mà chúng có tác dụng khác hẳn nhau: ngày tháng, ngày tháng, cho thấy thời gian đang nhảy cóc, trong khi ngày ngày tháng tháng là thời gian liên tục khoan thai đi bước một đều đều.

Mỗi ký hiệu ngôn ngữ trong truyện trở thành ám hiệu. Một ngòi bút mới viết truyện ngắn đầu tiên mà đã dầy kinh nghiệm về ngữ thanh, thế giới trong Cát hoang là hợp âm những ám hiệu ngữ thanh, bởi những điều muốn nói ra khủng khiếp quá, không thể nói được, chúng đã vượt quá cỡ của sự mô tả, và chỉ có thể trình bày qua ký hiệu âm thanh, một cách ú ớ, như ám hiệu của người câm, chỉ trỏ, ra dấu về phiá một xã hội đã mất trí, đã không còn là người, mà bạo hành là nền tảng: xã hội thu nhỏ thành một nhóm bán khai sống trong luật bầy đàn.

 

*

 

Xóm bờ mương trình bày một dòng sông, đúng hơn là cái chết của dòng sông. Đời sông cũng như đời người: có tuổi hoa niên, có lúc cạn nguồn rồi chết. Nhưng con sông trong Xóm bờ mương chết bất đắc kỳ tử. Nó bị con người bóp chết: "Con sông rùng mình. Con sông cuồng nộ giãy giụa. Trong lòng nó toàn rác, đầy rác, ứ những rác."Hôi tanh quá, một con sông hôi tanh" ai cũng bảo thế, ai đi qua cũng bịt mũi. Ngày ngày mặt trời thả rong đàn nắng trên sông, đàn nắng không có mũi, chỉ có chân. Đàn nắng nhẩy lách tách, nhưng không có con gì chơi với chúng. Cá không lên đớp, bọ nước không chạy, bèo không mọc nổi, chúng trương phềnh và mục nát từ lâu rồi" (Xóm bờ mương, Hợp Lưu 87, trang 176).

Sông ơi, có phải mi là Tô Lịch? Vừa thơ mộng vừa làm ta rùng mình: lời văn đi đôi với lời sông, vừa thơ mộng vừa rẫy chết: "Ngày ngày mặt trời thả rong đàn nắng trên sông, đàn nắng không có mũi, chỉ có chân". Một thứ bút pháp lạ lùng đầy chất thơ nhưng đọc kỹ không khỏi hãi hùng. Trước hết là hai chữ "đàn nắng" trong câu "mặt trời thả rong đàn nắng trên sông" gợi ra một cảnh vô cùng thơ mộng: vừa cho thấy mẹ mặt trời thả xuống những chú bé nắng non, lon ton kéo nhau đi từng đàn, vừa cho nghe tiếng đàn của lũ bé nắng: lũ nắng vừa đi vừa đánh đàn! Hình ảnh và âm thanh đang vô cùng thơ mộng như thế, bỗng đến câu sau: "đàn nắng không có mũi, chỉ có chân": hoá ra là một đàn nắng quái thai, dị tật. Vì "không có mũi" cho nên chúng mới không ngửi thấy mùi hôi tanh, mục nát của dòng sông, cho nên chúng vẫn vô tình đàn hát!

Chưa thấy cái bi đát nào lạ lùng đến thế: nó không trực tiếp toát ra từ một thứ tâm lý nhân vật, hay một tình thế éo le đã được nghiền ngẫm sắp đặt từ trước, mà toát ra từ những con chữ vô tâm, vô tình mà gây bi đát. Ở một ngòi bút trẻ mới viết, sự tinh vi như vậy quả thật hiếm hoi.

Phạm Ngọc Lương từ từ dẫn người đọc vào bi kịch, với ngòi bút gần như vô tình của đứa bé gái cầm que cời rác: "Cái ngày mà con sông mang bệnh, có một cô bé buồn lắm. Nó đan những lá tre thành thuyền, nó ghép cọng rau muống thành bè, trên bè chất đầy cọng cải non, rồi nó thả bè xuôi theo dòng nước. Thuyền không trôi. Con bé lấy que cời, rác dập dềnh lên xuống. Nó buồn lắm, chạy về khóc rưng rức trong lòng bà nội".

Hình ảnh một con bé đan những lá tre thành thuyền, ghép cọng rau thành bè, trên chất đầy cọng cải non, rồi thả thuyền, bè của nó trôi theo dòng nước, là hình ảnh tuổi thơ xây dựng, tuổi thơ sản xuất và tập bán buôn như người lớn, tuổi thơ hồn nhiên và êm đềm nhất. Nhưng tuổi thơ của đứa bé không trôi được, rác rưởi bềnh bồng đã chặn đứng đường đi. Tuổi thơ thiên thần của nó gặp cản lực đầu tiên trong đời: Rác.

Nếu trong truyện Cát hoang, sa lầy cát là chỗ người ta chôn người, chôn chữ, thì trong Xóm bờ mương, con sông là mộ địa của môi trường. Người ta giết sông, giết môi trường sống. Con sông đã mất nhiệm vụ chở thuyền, chở rau, chở thực phẩm ngược xuôi xuôi ngược, con sông đã bị cất quyền nuôi sống con người. Sông bây giờ chỉ còn nhiệm vụ chở rác, sông cạn dần như sự phản kháng èo uột cuối cùng của dòng nước, trước khi từ trần. Lịch sử dòng sông trùng hợp với lịch sử đời người bên sông: từ bà đến cháu, đời họ cũng chảy từ trong vào đục: "Cháu nội buồn thiu nhưng nội biết làm sao. Nội ở bên con sông này từ hồi nó trong vắt, đến giờ nước đen sì, đời người trôi qua tự bao giờ, nội khô đét và giòn như than củi".

Môi trường sống của đứa bé và nội nó trôi theo dòng sông, từ trong vắt, đến đen sì, rồi khô đét thành than củi. Nếu trong truyện ngắn Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc, hai ông cháu thằng Cộc dùng đất và nước để nhào nặn cuộc sống và xây dựng đất nước, thì trong truyện ngắn Xóm bờ mương của Phạm Ngọc Lương, hai bà cháu đứa bé bất lực nhìn sự phá hoại môi trường từ dòng sông: người ta giết sông trước khi tự giết mình. Bởi sông cũng là đất, là nước, sông là đất nước keo sơn gắn bó. Nước cạn, liệu đất có còn không? Và người nữa, người sống bằng gì?

Xóm bờ mương tương đối dễ hiểu hơn Cát hoang một chút, người đọc lần hoài cũng tìm thấy đầu mối: Con bé tên Miên, cô miên như giấc ngủ. Nó là bào thai của bạo hành và oan trái: Mẹ làm điếm, bố giết vợ. Không ai chơi với nó. Hai bà cháu sống bên sông. Từ hồi người ta xây đường cạnh sông, nội nhốt nó trong nhà không cho ra sông chơi nữa. Con bé lớn dần trong không gian chật chội tù hãm. Nó điên. Nó đẹp. Người ta đánh lừa nội, hiếp nó. Bị hiếp tập thể tay ba, con bé hết điên, trở thành "người bình thường", nó hành động "bình thưòng": trấn lột mụ tú bà đã lừa nội, rồi đi biệt tích.

Nội già rồi lẫn. Nội vẫn hy vọng một màu vàng hoa cải, nhưng chuồn chuồn đỏ vẫn tràn đầy. Không biết dòng sông chết lúc nào. Cái chết của dòng sông song song với cái chết của bà, song hành với định mệnh của cháu: từ trong sang đục.

Xóm bờ mương là một câu chuyện cổ tích kinh dị, lối viết đầy ám hiệu thơ mộng hãi hùng. Ám ảnh số ba (đã có trong Cát hoang) mập mờ như ba miền đất nước. Ám ảnh dòng sông chết, như Tô Lịch khắc khoải trút hơi thở cuối cùng. Bé Miên, có cái tên mộng du như giấc ngủ, mong manh như tơ bông. Miên của trong trắng, Miên đầy óc tưởng tượng, Miên muốn yêu, muốn sống, Miên là công chúa ngủ trong rừng. Nhưng Miên không có hoàng tử đánh thức dậy. Miên bị đánh thức bằng bạo lực, hiếp đáp. Miên trở thành bạo lực, trôi theo bạo lực và bị dập vùi trong môi trường đục ngầu của bạo lực lịch sử.

Và trên trời, màu đỏ đã phủ lấp màu vàng.

 

*

 

Lơ lửng trên cao xoáy vào một thứ bạo lực khác: bạo lực trong gia đình. Đây là một truyện ngắn đã được xé vụn, nằm trong tay một đứa con trai tật nguyền, nửa khờ, nửa dại. Nó kể lại chuyện mình, trình tự vụn nát. Nó xưng tôi. Chuyện nó kể cũng loạn xà ngầu như đầu óc nó, nhưng những mảnh vụn của nó tạo ra một không khí, một áp lực, một sức ép nghẹt thở. Nát đến nỗi không thể dựng lại thành "cốt truyện" mà chỉ có thể đọc và nghe một cách rất trừu tượng: "đọc" những hình ảnh, những ám ảnh, những hiện trạng, những tình thế, những không khí, những tiếng động...

Ví dụ nó kể về người bà (nội): "Sự thực thì bà lấy những ba ông, nhưng tôi chẳng nhớ một ông nào cả. "Ông đầu tiên đẻ ra bố mày, ông thứ hai đẻ ra mẹ mày, ông thứ ba đẻ ra cái giống mày". "Bà ơi! thế ai đẻ ra hai chị con?". "Đẻ xong bố mày với mẹ mày thì hai ông đầu mất, ông thứ ba mệt quá xin nghỉ hưu, giao cho bố với mẹ mày chứ sao". (HL90, trang 171). Lời kể trên có hai giọng: một của cháu và một của bà, nhưng ai điên hơn ai? Lời nào tin được? Dường như đó là thông điệp chính mà tác giả muốn chuyển tải: Trong một môi trường khép kín, không điên rồi cũng thành điên. Sự độc tài của một gia chủ khôn ngoan, vô học, nói phủ, thích thua đủ cờ bạc, ăn, ngủ, chung đụng, lộn sòng, không phân biệt chồng với con, con với cháu, đã gây ra những bi kịch ghê gớm, không thể nào "tả" được: tất cả khép kín trong một cái hộp đựng chuột. Ở đây chúng ta lại thấy tình trạng chuột hóa con người, nhưng trong một bối cảnh khác hẳn Dương Nghiễm Mậu và Đỗ Hoàng Diệu: xã hội chuột hóa của Phạm Ngọc Lương. Nhân vật xưng tôi, bị coi là khờ, khùng, nhưng rất thính, nó nghe được tất cả những âm thanh khác phát ra từ đất, từ tầng trên, tầng dưới, từ bên ngoài, và nó chắp vá, ráp lại thành những mẩu vụn không hình dáng, tựa như chuyện của một con chuột kể về gốc gác gia đình mình!

Những mẩu vụn kể lại thường mang màu sắc bí ẩn, kỳ cục, như chuyện điên khùng, ví dụ: "Kì cục nhất là một buổi sáng sớm,tôi vừa tỉnh dậy, mới đặt chân xuống giường, thì có con chuột to bằng cổ tay rớt bịch trước mặt. Con chuột nhe răng ra cười đầy thách thức. Tôi tức giận đứng phắt dậy, dồn cả sức mạnh cơ thể xuống gan bàn chân, chà đi xát lại. Nó bẹt dí. Bà lom dom tiến tới gần tôi, tay cầm thanh gỗ to bản quật tới tấp, quật liên tiếp lên đầu, lên chân tay tôi, bà quật cả vào chim tôi, vừa quật vừa thét: "Phải tội. Đồ vô dụng, thứ gì cũng vô dụng". Tối đó bà thắp cây nến giữa phòng khách, tắt hết đèn, gọi bố mẹ, hai chị và bắt cả tôi nữa tới, bà trịnh trọng tuyên bố:

"Tao tuổi chuột. Một con chuột đen xì, gầy quắt, nhưng bao giờ cũng phải tha gạo về cho chúng mày ăn, béo núc ních cả lũ. Từ rày chúng mày tự mà nuôi thân. Còn mày! Đứa vẫn gọi tao là mẹ, thực ra thì tao nhặt mày ở sọt rác trong tấm vải be bét màu mè, có lẽ vì thế nên mày có hoa tay cũng nên. Ha ha. Mày có tin tao không hả con?".

Bố tôi nghĩ ngợi một hồi rồi gật gù, công nhận rằng chi tiết này có phần thực tế. Hoạ sĩ. Dám lắm chứ".

"Thực tế hoạ sĩ" phát sinh từ sọt rác. "Thực tế bà" thoát ra từ "tuổi chuột". Chuột bà sinh chuột con, chuột cháu... nhưng thằng nhỏ tàn tật, khờ khùng, là con hay cháu của "bà"? Nó lại không biết rõ "dòng dõi" của mình, nên nó co chân đạp chết dí "hiện thân chuột bà", nó bị đánh mắng là kẻ vô dụng, nhưng tại sao bà nó lại quật vào chim nó? Cả "thứ đó" của nó cũng vô dụng chăng? Vậy tội của nó chẳng những đã không nhận diện được "nòi giống" của mình, mà lại còn không có khả năng "phát huy nòi giống" tái tạo bầy đàn!

Một mẩu vụn khác, thằng nhỏ kể:

"Một tối, tôi đang áp tai xuống nền nhà thì bà cúi xát đầu, hỏi:

"Có nghe chuột nói chuyện bao giờ chưa?"

"Như thế nào hả bà?"

"Như người ấy".

"Thế thì không có. Chỉ có tiếng chút chít thôi".

"Mày ngu lắm. Người đấy".

…..

"Tôi hét lên: "Chuột chết". Bà đang nằm trên ván giật mình rơi xuống đất.

"Gãy chân, phải bó bột" Bác sĩ chuẩn đoán.

Tối đó bố lại đánh tôi.

"Rồi mày sẽ phải ân hận cả đời con ạ" Bố vừa quật vừa rít lên.

"Nó có hiểu gì đâu mà ân hận" Mẹ thở dài, nhìn lơ đãng ra đường.

Bà yếu dần, nhỏ dần, rồi 4 tháng sau thì mất."

Đó là một "nhà chuột" hơn là "nhà người". Và nếu ta ghép thêm một số "dữ kiện" nữa, thì sẽ thấy rõ hơn hoàn cảnh sống của họ. Hóa ra là gia đình này sống trong một cái hộp: "nhà tôi mái bằng, vuông như hai cái hộp kê khít lên nhau". Người chủ gia đình (bà) dùng chữ rất lạ: "Bà tôi luôn có thói quen dùng từ cọng. Hết cọng hành, cọng tỏi, cọng gạo, đôi khi bà còn hét toáng vào mặt tôi: "Cút. Đời tao có cọng cu nào đâu mà lòi ra cái mặt mày". Chữ cọng của bà cũng lại rất khả nghi, nó chứng tỏ bà có khả năng "manipuler" tiếng Việt: bởi "cọng" rau muốn đúng cú pháp phải viết là "cộng" rau (từ điển Lê Văn Đức- Lê ngọc Trụ). Điều này ít người biết, nhất là người Bắc. Và chữ cọng động từ, lại có nghiã là chung nhau lại, tức là cộng! (Vẫn từ điển Lê văn Đức-Lê Ngọc Trụ).

Một nghi vấn khác đặt ra: có thật là bà già vô tình mà dùng chữ, hay bà già giả đò ấm ớ chữ nghiã, thật ra bà rất tinh tường, bà không quê mùa, thất học như ta tưởng, bà cai trị gia đình trong chiều hướng đã định: đóng kín mọi người trong hộp, trong khuôn, trong hình thức cộng sinh, để dục tính vầy vò thể xác, tạo ra tình thế loạn luân không thể tránh được. Gia đình ấy là một tập thể sáu người gồm bà, bố, mẹ, chị lớn, chị út và tôi. Đặc điểm là bà chỉ có một mình, mà bà tạo ra "gia đình". Điểm thứ nhì, bà thích tụ họp đánh đấm (cờ bạc) và bà bao giờ cũng thắng: "Bà ơi! sao bà hay thắng thế? Đời tao có cọng cu nào đâu mà không đỏ bạc. Xéo".

Chính bà là thủ phạm vụ chuột hóa gia đình. Chính bà, sau khi chết ngồi trên bàn thờ, chỉ đạo cho con trai tiếp tục truyền thống loạn luân. Kẻ duy nhất trong gia đình có chút "sáng suốt", biết "yêu" người ngoài, biết học để thoát vòng dốt nát, như đứa cháu gái đầu lòng của bà (chị lớn) bị loại ngay. Kẻ manh nha máu nghệ sĩ như người con trai duy nhất của bà (bố), loanh quanh trong chiếc hộp, chỉ biết vẽ một loại chân dung, không ngoi lên được... Tất cả những mảnh vụn thông tin như thế, "ri ri" trong văn bản, những ký hiệu bí mật ấy chỉ là nhạc đệm để dẫn đến màn chót của bi kịch. Màn này được mô tả kỹ càng với một giọng rất thơ, chưa hề điên, chưa hề khùng:

"Chị trong đấy, nằm nghiêng ở phía đối diện, môi he hé mở, tay xuôi theo nếp áo mỏng. Bố đang đứng trước khung tranh ở gần cửa, tay đặt trên cọ vẽ, chăm chú, thành khẩn. Đột nhiên bố ném bút. Ngòi bút cắm thẳng vào tường, bật ngửa ra trên sàn. Bố quay về phía ảnh bà trên bàn thờ ôm mặt khóc. Những nén nhang cháy gần hết. Khói tản đi tự bao giờ.

"Không được. Mẹ ơi!... lừa. Không làm được. Mẹ ơi!..."

Bố với lấy chai rượu, dốc ngược vào cổ họng, rượu dềnh ứa xuống, thấm ướt cổ áo. Bố từ từ ngồi bệt xuống đất, mồm lẩm nhẩm. Tôi nghe rõ tiếng nói, tiếng nói quen thuộc vẫn cất lên khi áp tai vào tường.

"Này con ơi! Nở vung vãi những cánh hoa ra. Ta bảo con ơi, khì khì... rót thêm nữa vào. Đêm nay trăng muộn. Ta chờ trăng. Yêu trăng (...) Trăng nép vào sau lần áo con, cẩn thận, giấu mình, e lệ. Sau lần áo mỏng con ơi, trăng thở, trăng tràn, trăng chưa say. Đêm nay trăng thức muộn...".

Chị và bố tự lúc nào. Đẹp đẽ, gắn kết. Từng giọt mồ hôi túa ra từ những lỗ chân lông lấm chấm, vương vãi trên nền da trần, kết lại xuôi chảy thành dòng. Mắt chị nhắm nghiền, cần cổ thẳng băng, ngực căng phồng, hiện rõ từng chiếc xương sườn dưới lớp da (...) Chưa bao giờ tôi thấy bố sống động và uyển chuyển đến thế. Từng động tác hiện rõ dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn như hút mọi điểm nhìn đến u mê đi. Tôi cảm giác cái gì đó lớn dậy từ từ, từng chút một, nó thúc vào tôi những cú huých khó chịu đến gai người.

Mẹ vào lúc nào không ai biết, cả tôi nữa, tôi cũng không biết, có lẽ cả bà trên bàn thờ cũng không biết. Có bao giờ mẹ chịu lên tầng hai đâu, trừ những ngày cúng giỗ. Mẹ đứng đấy im lìm như tượng đá, chứng kiến những khám phá không ngừng của bố, tựa như mẹ cảm nhận được sự chuyển động khác thường này mà đi tìm vậy. Tôi tin chắc điều này dù không khi nào thấy mẹ áp tai vào nền nhà. Đến tận khi bố bắt đầu rên rỉ, gấp gáp thở, cả mẹ và tôi mới giật mình. Mẹ nhìn quanh phòng, hai tay rối bời khua lên trong không khí, có một cái gì đấy mắc lại trong tấm lưới của thời gian và mẹ đã nắm được. Bố rống lên rồi gập người đổ xuống, có những đốm đỏ như màu vẽ loang nhanh ra nền.

Từ đó tôi không nghe được âm thanh gì trong đất nữa, có thể do tôi đã trèo lên bàn, leo lên nóc tủ, nhìn qua lỗ thông gió nên ngôi nhà đưa ra hình phạt. Bố ngã bật ra nền đất, yếu ớt và vụng về, choãi tay ra đằng sau chống đỡ thân mình nhớp nháp mồ hôi, đầu ngóc cao, trân trối nhìn mẹ bứt từng túm tóc ném vương vãi ra sàn, mồm thốt ra tiếng ri ri bất tận của loài côn trùng không lưỡi".

Từ đó "tôi lơ lửng trên cao".

Một hủy diệt tròn. Truyện đi từ điểm O để trở về O. Những mẩu viết đã bị chuột gặm, không đầu không đuôi, lại càng tạo sự kinh hoàng bí mật, về một căn nhà sập tiệm, đổ nát, vỡ vụn không thể cứu vãn nổi. Không khí nghẹt thở trong ngôi nhà hộp, trở thành một thứ huis clos, bi kịch kín bị xé nát thành trăm mảnh. Không thể biết tất cả khởi đi từ màn cuối hay từ màn đầu: vì ngôi nhà "vuông như cái hộp", mà sinh ra sự chung lộn loạn luân hay vì loạn luân mà phải đóng kín ngôi nhà? Người kể chuyện đã điên từ trước hay vì mục kích cảnh loạn luân của bố và chị mà trở thành điên loạn? Những liên lạc trong gia đình ấy thế nào? Ai là bà? Ai là cháu? Ai là mẹ ai? Ai là cha ai? Ai là con ai? Bao nhiêu câu hỏi: về môi trường sống, về đạo đức, về gia đình, về giáo dục, về bạo lực, về dốt nát... tất cả cuốn tròn như một mớ bòng bong.

Thằng nhỏ khờ là kẻ minh mẫn nhất trong gia đình, nó vốn thần đồng, nhưng bị sinh ra trong một môi trường không đạo đức, không giáo dục, nó được mục kích những lề lối sinh tồn khủng khiếp của tiền nhân. Từ trên cao nó ngã lăn đùng xuống đất, bất tỉnh, mất trí.

Ngôi nhà chuột là một cỗ quan tài trong bộ tam quan. Quan tài đầu tiên là bãi cát hoang có sa lầy be bờ, trên ấy người ta chôn "con điên", người ta hiếp chữ. Quan tài thứ nhì là xóm bờ mương có con sông cạn, đầy rác, mồ chôn môi trường sống. Ở đó, người ta giáo dục "tốt" cho đứa trẻ, và họ đã đạt chỉ tiêu trong công tác ác hóa con người.

Ngôi nhà chuột là chiếc quan tài thứ ba đóng kín con người không cho giao tiếp với thế giới bên ngoài. Là sự thoái hóa của một gia đình đóng hộp, sinh sôi nẩy nở trong sự ăn chung ở lộn cha con chồng vợ của một xã hội sống thường trực trong tình trạng ăn vào vốn, đục khoét dần chính mình. Sập tiệm. Hoá điên.

Như con Long Thử của Hồ Hữu Tường, dù bị đóng kín trong căn nhà hộp, vụn, vữa, nhưng với bản lĩnh cao cường, Phạm Ngọc Lương đã viết nên ba truyện ngắn kinh hoàng, về sự xuống cấp của đồng loại trong một xã hội khép kín 

Thụy Khuê
Paris, tháng 11/2006

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Mười 202612:42 SA(Xem: 188)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 20264:25 CH(Xem: 754)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 202610:24 CH(Xem: 959)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 20269:55 CH(Xem: 1028)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
19 Tháng Mười 20268:44 CH(Xem: 1408)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1537)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1708)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
18 Tháng Mười 20265:10 CH(Xem: 1163)
Chỉ 46 ngày sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026, một trận lũ quét khác lại xảy ra vào sáng 11/10 trên sông Budhi Gandaki, thuộc huyện Gorkha, Nepal. Khi nhiều gia đình còn chưa đến ngày tưởng niệm 49 ngày cho người thân đã khuất, những cộng đồng miền núi lại phải đối diện với cảnh di tản, nhà cửa và cầu đường bị cuốn trôi, cùng nỗi lo về những trận lũ bất ngờ có thể tiếp diễn.
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1290)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
18 Tháng Mười 202612:01 SA(Xem: 1390)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3784)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13205)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19610)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18591)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1533)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1707)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2214)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2321)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1408)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2161)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1894)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1945)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1289)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2319)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2533)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2315)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 185)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 747)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 959)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1028)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6362)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15838)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32092)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38812)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1389)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13863)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6860)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10621)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9815)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9934)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10742)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3420)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11082)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10309)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi