- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,383

Tóc mai ngày cũ

18 Tháng Ba 201312:00 SA(Xem: 61478)


lanhl117
 Lan - Ảnh Blackscorpion

L
TS: Về quê xưa gặp người cũ là bức tranh tình cảm thơ mộng. Tuy nhiên, với vài trang viết ngắn Nguyễn Văn đã đưa câu chuyện thường tình của một thời đại phân ly bỗng mặn nước mắt và phũ phàng như những cơn mưa miền Trung. Chúng tôi trân trọng giới thiệu Tóc Mai Ngày Cũ , một sáng tác mới của Nguyễn Văn với quí độc giả và văn hữu của Hợp Lưu.
Tạp Chí Hợp Lưu




 Tôi ghé thăm Lan vào một ngày trời mưa dầm rả rích. Những cơn mưa dai dẳng làm chết cây, thối đất mùa đông của miền Trung. Bầu trời thấp tè, xám đục và u ám một màu chì. Thành phố nằm co ro, rét mướt trong cơn mưa. Phố xá trông đìu hiu. Cảnh buôn bán cũng chùng lại, uể oải như cô gái già đang đến hồi ở cữ.
 Nhà Lan nằm ở ngã ba thị xã Tuy Hòa. Trước mặt là quốc lộ Một, con đường chạy xuyên từ Nam ra Bắc. Năm 2005, thị xã được nâng lên cấp thành phố, người ta làm quốc lộ mới chạy dọc theo chân núi phía Tây, con đường nhộn nhịp ngày xưa trở thành đường nội thành.
 Căn nhà cấp bốn xập xệ của gia đình Lan được sửa sang lại thành quán cà phê ôm. Khoảng sân xi măng nhỏ xinh xắn phía trước thành khu vườn cây cảnh. Bên những chậu mai, gốc trứng cá thấy kê những chiếc ghế đá cho khách ngồi. Gian trong đặt chừng năm sáu chiếc bàn vuông. Mặt bàn được làm từ thứ ván ép công nghiệp, lâu ngày mốc thếch. Ghế ngồi là loại ghế xếp, chân bằng sắt đã bắt đầu rỉ sét. Một chiếc quầy kính nằm bên góc phòng, bên trong trưng bày đủ thứ, từ bia Heineken, nước Coca, đến thuốc lá ngoại với đủ loại nhãn mác… Nhìn vẻ hoang vắng của căn quán, người ta dễ đoán biết chủ nhân của nó đang hồi làm ăn thất bát. Cái đáng giá nhất ở đây, có lẽ là những bức tranh thơ bằng vải viết theo lối chữ thảo bay bướm, treo lạc lõng dọc bức tường vôi ám khói, loang lổ.
 Ngoài những bài Thu Điếu, Thu Ẩm, Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến, còn thấy chép một câu đối khá hay, không rõ của ai.
“ Bản thủy vô ba, tự phong xây diện.
 Nguyên sơn bất lão, vị tuyết bạch đầu.”
( Tạm dịch: Bản chất nước vốn bình lặng, chỉ có gió mới làm cho nó nổi cơn ba đào. Núi non vốn không có tuổi, chỉ vì tuyết sương mà thành ra bạc đầu.)
 Lại có một bài, thể thơ tự do, lời lẽ mông lung, không thấy đề tên tác giả:

“tình là gì?
 rượu uống nghìn ly, trắng mắt
 đàn bà mỗi ngày, mỗi đẹp
 mình mỗi lúc, mỗi già
 sông bên bồi, bên lở
 người kẻ ở, kẻ đi
 thôi nói chi, buồn chi
 đời như ly rượu nhạt
 biết ai là bạn tri âm giữa cõi hồng trần?...”

 Quán ngày mưa vắng ngơ vắng ngắt, chỉ độc một người khách là tôi. Trong quán chỉ có Lan với đứa bé gái khoảng 14, 15 tuổi, người ốm tong, thuôn đuột như cây chuối, đang nằm đong đưa đọc sách trên võng. Đứa bé gọi Lan bằng cô, không biết quan hệ bà con thế nào.
 Ngày xưa tôi với Lan và Trân là bạn cùng lớp, đi đâu cũng ba người, chơi thân đến tưởng chừng như không thể thiếu nhau trong đời. Chúng tôi như ba đỉnh của một tam giác đều, cùng nằm trong một mặt phẳng nhưng không thể xích lại gần nhau. Ngày Lan đi lấy chồng, tôi chui vào quán thịt chó của nhà Trân nằm đối diện, ngồi đốt thuốc, phun khói mù mịt. Nhà Lan bên kia đường đang treo đèn kết hoa, khách khứa ăn uống nói cười râm ran cả một góc phố.
 Bố Trân thọt chân, tướng ngũ đoản, nhìn tôi châm bẩm. Ông họ Tôn, không biết tên gọi là gì. Nghe kể, gốc gác gia đình ông có dây mơ rễ má với triều đình nhà Nguyễn. Ông chỉ có mụn con gái là Tôn Nữ Huyền Trân. Trân mặt tròn phúng phính, mập lùn giống bố, bước đi lạch phạch. Mắt cô nàng cận đến 5 độ, đeo cặp kính dày như đít chai, học giỏi nhất lớp. Mãi đến sau này tôi mới biết ngày ấy Trân yêu thầm tôi, trong khi tôi lại đi mê đắm cô bạn nhà bên kia đường.
Bố Trân nói giọng Huế, nhẹ đến đong đưa:
“Trân vừa sang bên nớ. Thế mi không đi ăn cưới hỉ?”
“Không!...Bác bán cho cháu xị rượu.”
“Mi uống?”
“Phải…”
“Có tâm sự hỉ?”
Trong khi tôi ngồi cố đưa cái thứ nước cay nồng ấy qua cổ họng, lão Tôn như đọc được nỗi buồn của tôi.
“Mi không biết chi về đàn bà! Con Lan vướng số hồng nhan, mắt nhìn có đuôi ướt át thế kia, ít nhất cũng vài đời chồng. Thích chi mô!”
 Tôi nhìn lão Tôn bằng cái nhìn của kẻ sắp sửa gây rối. Tôi muốn văng tục mấy câu. May mà tôi đã không làm. Tôi quơ chai rượu ngửa cổ nốc sạch. Vừa để cái chai không xuống mặt bàn, cũng là lúc mắt tôi đổ hào quang. Bầu trời như vỡ ra thành muôn ngàn đốm sáng, rồi mọi thứ bỗng dưng tắt ngấm, không còn lại gì ngoài một khoảng tối mênh mông đen đặc. Người tôi đổ gập xuống mặt bàn như thân chuối gãy. Tai còn nghe văng vẳng tiếng pháo nổ đì đẹt. Bên ấy đang làm lễ rước dâu…
 Bao năm không gặp, Lan xưa giờ thành góa phụ, dáng dấp phong trần. Dung nhan ngày nào không tàn phai theo thời gian mà chín chắn, sắc sảo hơn. Lan làm bà chủ quán, mặt trát phấn, tỉa mày cong, môi thoa son đỏ, nói chuyện đẩy đưa với khách. Cuộc đời có muôn trò vui, buồn làm gì cho héo đời. Lan bảo thế.
 Câu chuyện giữa chúng tôi rời rạc đến ngượng ngập. Cả hai ngồi nhìn màn mưa giăng ngoài cửa quán. Nước chảy từ mái tôn rải đều xuống hàng hiên. Tiếng mưa u u, đơn điệu, rời rã. Trời đất trắng xóa một màu.
“Anh về thăm quê bao lâu?”
“Khoảng ít tuần…”
“Chị nhà không về cùng anh à?”
“Không...”
“Anh sinh được mấy cháu rồi?”
“Hai.”
“Con trai chứ?”
“Con trai.”
“Giá như mình có một đứa thì hay,” Lan nói mơ màng.
“Sao không chịu đẻ?”
“Bác sĩ bảo Lan vô sinh.”
“Chữa được không?”
“Không.”
 Lại im lặng. Lan thừ người, đưa mắt nhìn ra cửa. Ngoài kia, nước chảy thành dòng trên mặt đường, đổ dồn về phía con dốc thấp. Vẫn mắt bồ câu xưa, nhưng ánh nhìn đờ đẫn. Hai bên khóe mắt, mỗi khi cười lại thấy hằn vết chân chim. Đã có một thời tôi yêu Lan nhiều biết bao nhiêu…
“Trời cứ mưa thế này làm gì có khách, chán thật! Anh ở đây uống rượu với Lan, nha?”
“Ừ.”
 Lan đem ra chai Nếp Than, rót đầy hai chiếc ly. Thức nhấm là mực khô nướng, chấm với tương ớt. Vẫn thứ rượu cũ, thức nhấm quen, hương vị chừng như không còn như ngày nào.
“Anh còn nhớ nhỏ Trân không?”
“Còn.”
“Trân bây giờ là hiệu trưởng trường THCS ở phường, vẫn cu ky một mình. Nhỏ vẫn thường ghé đây, cứ hỏi thăm luôn về anh. Để Lan điện thoại Trân sang nói chuyện cho vui.”
‘Ừ.”
“Ở Mỹ vui không?”
“Ly hương thì vui gì.”
“Không biết sao, Lan vẫn cứ muốn sang bên đó!…”
“Sao lại muốn đi?”
“Bây giờ chán đàn ông Việt, muốn lấy chồng Tây!... Anh có người bạn Mỹ nào, giới thiệu cho Lan.”
“Thế chồng Lan ngày xưa đâu?”
“Bỏ nhau rồi. Mà Lan cưới những ba lần chứ đâu phải một. Mình không sinh được con, lại trắng tay. Họ ở với mình làm gì. Đàn ông các anh nếu không bắt đàn bà tụi Lan sinh con để nối dõi thì cũng là thứ tham tiền, hám gái, có mới nới cũ. Nói chung là thứ giống đực thô bỉ, chẳng ra gì…” Lời lẽ Lan nghe chán chường, cay đắng. “Ước gì mình trở lại như ngày xưa anh nhỉ?...Nhỏ Trân còn thương anh lắm!”
 “Chuyện cũ, nhắc làm gì!” Tôi nói bối rối.
 Trước đường, có một người trùm áo mưa kín cả mặt, tay cầm chiếc dù, đứng thập thò nhìn vô quán.
“Ở lại đây với Lan đêm nay, nha? Hay là anh cũng giống như mấy ông Việt Kiều chỉ thích gái trẻ.…”
 Lan nhìn tôi, mắt lả lơi. Tôi ngồi, mặt đỏ bừng. Cơn giận dữ bỗng từ đâu tuôn trào. Tay chân co giật. Người run bắn. Tôi cố kiềm để không giáng cho Lan một cái tát. Lan rót đầy ly rượu, nhấc tay uống cạn. Giọng nói tỉnh queo:
“Ở Mỹ bao năm, cứ tưởng anh thay đổi, không ngờ lại còn nhát cáy như ngày xưa!...”
 Rồi Lan cười. Tiếng cười vỡ ra loảng xoảng, tan trong không gian se lạnh, man dại đến đĩ thỏa. Người tôi dật dờ. Đầu óc xoay tít như chong chóng. Tôi thấy chiếc ghế mình đang ngồi không còn cố định nữa. Nó bồng bềnh, đong đưa như đang trôi giữa dòng nước lũ. Tôi nghe có một thứ gì đó đang dâng lên trong cổ họng, róng riết đòi giải thoát. Cảm giác thật tởm lợm. Tôi xô ghế, lao ra rãnh nước trước mặt quán, người cong lại, rồi mọi thứ bỗng trào lên phun bắn ra, xối xả. Toàn thức ăn, lợn cợn. Những thứ chỉ ít phút trước đây còn sạch sẽ, thơm tho, vậy mà …Tất cả, phút chốc hòa quyện theo nước mưa, trôi tuột về phía cống thoát.
 Tôi đứng bơ vơ bên đường. Tôi không biết mình sẽ đi đâu khi cơn mưa còn đang giăng mù mịt. Tôi cứ để đầu trần, quần áo phong phanh giữa trời đất, bước hoang hoải về phía trước. Mặc cho mưa dội lên tóc. Mưa tuôn trên mặt. Một cảm giác lạnh buốt, rời rã đến nhẹ hẫng miên man trong da thịt. Tiếng Lan cười, lúc xa lúc gần, văng vẳng trong không gian sũng nước. Tất cả hình như không có thật, chắc tôi quá mẫn cảm, mà cũng có thể do tôi tưởng tượng ra.

 Bỗng một chiếc dù của ai đó che lên phía trên đầu. Không biết sao tôi cứ nghĩ là Lan. Tôi xoay mình lại. Trước mặt tôi lúc đó là một con người hoàn toàn khác. Một thân hình nhỏ nhắn, xúng xính trong chiếc áo đi mưa, mặt tròn phúng phính, mắt kính dày như đít chai, đang nhìn tôi khóc ròng...

Nguyễn Văn
Chicago 10, 2012.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1135)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1196)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1887)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5919)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5904)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13236)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30171)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81269)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20284)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 445)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down