- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Giấc mơ

08 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 89571)

mo_3_tranhdh

 (Mơ_ Tranh Đặng Hiền )

 

Tôi chìm vào một giấc mơ, giấc mơ có những sợi dây bé xíu đan vào nhau thành những mắt lưới. Tôi đi tìm một thế giới, nỗi đau oán thù bị xóa bỏ, chỉ còn tôi với thế giới ấy.


 Giấc mơ 1.

 Chúng ta có thể ngồi dựa vai nhau như thế này. Những lùm tối trùm lên con đường. Hai chiếc bóng cô quạnh bên nhau. Khúc sông quanh co phía dưới lùm tối, chốc chốc lại vang lên tiếng quẫy đạp trong sóng nước. Vì tinh tú lạc trong vũng đen nhạt nhòa chảy về một miền xa lắc và trở lại bằng một vì tinh tú khác.

 Để hai chiếc bóng ngồi bên nhau trong vũ trụ bao la, một vì tinh tú đã hi sinh cả thời tuổi trẻ. Nó thang thang, phiêu dạt hàng trục triệu ki-lô-mét về hướng mặt trời. Sự di cư tuyệt vời ấy tạo nên một khối cầu chứa đựng những gương mặt hỉ - nộ - ái - ố. Khối cầu chứa đựng hai chiếc bóng lầm lũi đi về hướng cô đơn. Tôi tìm thấy tên vì sao trong một cuốn bách khoa toàn thư, bộ sách dày nhất mà tôi từng thấy. Người ta gọi nó là vua của các hành tinh trong thái dương hệ. Khối cầu của tôi là vua của những khối cầu tròn méo còn lại.

 Tôi nhìn về phía đêm xa xả tiếng mèo gào. Những móng vuốt sắc lẹm cứa xèn xẹt vào lòng tôi. Máu rỏ xuống, bàn tay vụng dại gạt đi. Bên những bóng cây là là nửa mặt nước nửa bờ cỏ và trên hơn là mặt đường, tôi thấy lờ mờ một gương mặt xanh xám. Tiếng mỗi vo ve phá tan bầu không khí giữa hai tâm hồn đang bay lạc giữa không gian tĩnh tại. Người đó là thầy tu. Không có áo cà sa. Không kiêng sắc giới. Ánh sáng lọt qua lớp tế bào rần rật chảy vào máu. Ánh sáng của sao mộc, người đó không biết, chỉ mình tôi biết, con đường đang đi là một mê cung.

 Khi tôi quay lưng về phía những ngôi nhà lụp sụp thắp nến suốt đêm thì người đàn ông biến mất, như ảo ảnh, người đàn ông giống hệt ánh sáng mộc tinh băng qua đời tôi.


 Giấc mơ 2.

 “Lạy chúa! Thứ lỗi cho con”

Nàng dờ tay lên bụng, một mầm sống đang lớn dần lên. Cái đầu rất nhỏ xinh, nơi những mớ tóc sẽ mọc lên, những lọn tóc dài có thể tết mớ ba mớ bảy.

“Lạy chúa chúng con ở trên trời.

Danh cha được tôn thánh. Nước chúa cha mau đến. Ý muốn cha được nên, trên đất như trên trời. Xin cha nuôi dưỡng chúng con, ban thức ăn mỗi ngày. Cho đời luôn thắm tươi. Xin cha tha lỗi cho chúng con cũng như chúng con tha người nghịch thù cùng chúng con. Xin chớ để chúng con bị cám dỗ. Nhưng cứu cho chúng con khỏi gian ác. Vì ngôi nước. Vinh hiển đều thuộc nơi đời đời vô cùng. Amen”.

Chúa của nàng gầy gò thở dài trên thánh giá. Ngài đóng đinh mình vào cuộc sống của những con chiên ngoan đạo. Lạc trong những lời cầu nguyện, những khuôn miệng tròn méo cùng đọc một bài thánh kinh. Tốt có. Xấu có. Nàng không biết những cái bụng chứa kinh thánh đọc kinh thanh thoát có sống tốt đẹp và phúc hậu.

Nàng không theo đạo. Nàng vẫn đặt chân đến nhà thờ, như một thói quen. Nàng nhìn thấy chúa như pho tượng đá rạn nứt hướng về phía thành phố tràn ngập ánh đèn. Chúa cũng hướng về phía ngôi làng lụp sụp trong ánh nến lay lắt. Ngài giang tay ôm trọn rạch sáng nhoi nhói phía bầu trời. Ai sinh ra cũng là con của chúa. Bóng tối rần rật vút lên đốm lửa rồi tắt lịm, nơi sang sảng cất lên tiếng khóc thê lương của một sinh linh bé nhỏ bị người đàn bà nọ bỏ rơi. Những lùm cây lành lạnh hơi nước phía bờ sông.

 “Lạy chúa! Xin người thứ lỗi cho con”

 Người đàn bà bỏ đi, đứa trẻ vẫn khóc. Vầng sáng soi tỏa vào gương mặt non nớt bị ném vào vũng bùn nhầy nhụa của số phận. Đứa bé lớn lên bên con sông với những nếp nhà lụp sụp ánh nến.

 Chúa lắc đầu, chúa bất lực trước những đứa con ngoại đạo, hừng sáng le lói là nơi chúa đến và đi. Chúa tồn tại bằng linh hồn, biến mất như linh hồn. Trong nàng cồn cào chộn rộn. Có một tia mộc tinh băng qua rồi vụt mất, nơi ngôi sao tan biến có một mầm sống đâm chồi. Nó đang hứng lấy linh khí của khối cầu và cơ thể sống của một người đàn bà để lớn. Chồi non ấy ám trong những lọn tóc dài mớ ba mớ bảy của nàng ngày còn bé.


  Giấc mơ 3.

 Tôi chắc một điều là con bé sẽ bất ngờ về câu chuyện của những con sên ma. Trong căn nhà khói vón cồn cộn bức vách, nó ôm tôi vồn vã. Một chân kẹp qua đùi tôi, một chân gác cao.

 Loài sên ấy không có mắt, toàn thân là một màu trắng nhờn nhợt, chết chóc. Con bé nhắm mắt bay vào một vùng không gian trong khu vườn ở xứ Weles. Những chiếc răng nhọn hoắt làm nó sợ. Chẳng ai nhìn thấy. Con bé cũng không thấy. Nó vẫn sợ. Ai cũng sợ. Nó có thể ăn thịt loài động vật tiến hóa nhất trong khối cầu này. Con bé dừng chân tìm kiếm, tim nó đập thình thình…

 Nó sợ ánh sáng. Nó nhờn nhẫy và bệch bã như một loài ma trốn trong góc tối. Nó ám vào tuổi thơ của con bé. Tuổi thơ có những con ốc sên hình người nhiếc móc bầm dập lòng tự ái. Gương mặt lồ lộ hàm răng nhọn. Con ốc sên được gắn mác người cha lẩn khuất trong bóng tối, nơi bàn tay đã bị đêm vô hiệu hóa.

 Đoạn sông bị lấp đi, dòng chảy vô tình ngoặt theo hướng khác. Ngôi nhà lá lụp sụp tan vào cơn bão cuối cùng. Ở đó mọc lên một căn nhà xây nho nhỏ le lói ánh điện thắp suốt đêm.

 Tiếng nói xì xèo loãng vào đất. Một người đàn bà và một đứa con gái biến ngôi nhà trở nên hoang lạnh hơn vốn có. Những câu chuyện về con sên ma luôn là chủ đề đầu tiên. Kết thúc là sự ra đi của của cơn bão mộc tinh cách đây hàng triệu triệu năm đùn vun lên khối cầu mang tên quả đất. Nó chưa bao giờ nhìn thấy quả đất, ngay cả hình dung cũng không.

 Đừng kể về những con sên ma nữa, cuộc đời sẽ bị thui chột trong những vũng máu không màu, không mùi, không cảm giác. Bàn tay mẹ nó lạnh. Con sên ma không còn đến làm thịt mẹ nó như ngày bà trốn gia đình đi dọc bờ sông. Từ lòng sông hắt lên một tiếng húng hắng nho nhỏ, như tiếng ma trơi giữa những tán cây. Râm ran những âm thanh vĩ cầm vang lên từ đất. Không còn kẻ mơn trớn trên da thịt. Rền rĩ, tưỡn mình trào dâng thác lũ.

 Nhiều đêm người đàn bà tỉnh giấc, hai từ “Sên Ma” cứ lẳng lặng ném vào đêm buốt nhức. Trong căn phòng nhỏ, con bé giật mình ú ớ gọi cha.


  Giấc mơ 4.

 Cơn bão đổ xuống, những cánh liếp tung tóe vung vãi trên mặt sông.

 Trong một giấc mơ chắp vá, người đàn bà mơ thấy cơn bão ghé thăm ngôi làng nghèo xác xơ bên dòng sông quanh năm không chảy. Nó không phải là dòng sông duy nhất trong khối cầu không biết chảy. Mà chảy để làm gì? Với nó không cần thiết. Khi con người thấy nó cần thiết thì họ đã rẽ nó sang hướng khác.

 Thay vì một dòng sông, người đàn bà trở nên khát biển. Hành trình tìm kiếm biển là những giấc mơ. Bà ta thấy những con mực khổng lồ hay loài lươn quái vật. Tất cả có thể nuốt chửng bà ta trong thoáng chốc. Chẳng ai có thể khám phá hết cuộc sống đầy bí ẩn dưới đôi mắt của đại dương, của người đàn bà.

 Tiếng cửa mở rất khẽ, tiếng chốt cửa càng khẽ khàng hơn. Người đàn bà trở mình. Qua một bức rèm mỏng manh, đứa con khẽ thở dài trong giấc mơ không trọn vẹn. Có quá nhiều kẻ săn mồi, như loài khủng long hay sói dữ. Con mồi già nua ngoan ngoãn, nó không chống cự, chống cự chỉ càng làm cho vết thương chưa lành thêm lở loét. Đừng rên rĩ nữa. Mở cửa băng qua đêm mà không cần chốt lại. Không còn ai mơ về những giấc mơ ngày cũ. Mộc tinh cũng chỉ là một câu truyện cổ xưa không ai còn nhắc đến. Mầm sống đã mọc thành cây xanh, cũng mướt mát, non tươi như thứ mồi nhử những loài động vật ăn lá. Cố ngụy trang, sẽ chẳng ai thấy cả. Tưởng cứ sần sùi, sẽ được sần sùi, nhưng trong thế giới tạp nham, có những kẻ lại chỉ thích những thân cây nhiều gai và lá đầy mụn mủ. Nó vẫn thở đều đều. Bước chân len qua khe cửa trở về từ phía đêm đánh vào nơi cảm giác nhoi nhói.

 Nó muốn nói về một giấc mơ, nhưng chợt thấy giấc mơ chỉ còn lại những loài thú ăn thịt. Tiếng thở dài ngao ngán chan ướt một nửa gương mặt đã trở nên hanh hao.



 Giấc mơ 5.

 Kết thúc thôi! Chạy trốn khỏi những giấc mơ lập dị và đau khổ hơn cả cuộc sống đời thường kia. Khi mở cánh cửa của địa ngục và thiên đường, tôi thấy chúa. Chúa đứng giữa ranh giới mong manh của thiện – ác, tối – sáng. Bàn chân tôi bị đẩy vào khoảng không lơ lửng.

 Gió reo lên khi bắt gặp kẻ cản đường ngang bướng. Đêm sình sịch đổ xuống những cơn mưa cuối mùa, tôi trở về với tà áo tả tơi bết dính thứ nước trong veo không mùi vị. Biểu tượng của cây thánh giá tôn kính lung lay rớt khỏi ban thờ. Tượng chúa vỡ tan.

 “Lạy chúa! Người tha lỗi cho con”.

 Tôi sùng tín chúa, mặc dù tôi không phải là con chiên của chúa. Tôi chạy quanh ngôi nhà ba gian xinh xắn. Chỉ có mình tôi. Cơn giông ập đến, rạch sáng xiên ngang trời chơi trò ú tim với khối cầu đất. Con bé trốn nhà đi chơi, không ai biết nó đang ở đâu dưới cơn mưa tầm tã ban khuya.

 Khúc sông đã lấp rồi, nhưng con đường vẫn còn đó. Những lùm cây vẫn sững sờ qua bao mùa trút nước. Hai chiếc bóng đi về phía cô đơn. Ở đó, những câu chuyện huyền hoặc về sao mộc tinh vẫn được đêm ghi nhớ. Đêm lại trả cho người, người tan vào cơn mưa không oán thán.

 Khi cơn mưa tan…

 Con đường im lìm dưới những hàng cây đổ bóng…

 Cơn mưa qua là qua mãi, chỉ còn lại bên kia cái làng nghèo là tiếng trẻ con quấy khóc. Tiếng khóc ấy cất lên từ dãy nhà của những người người đàn bà. Cũng não lòng thê lương như tiếng khóc của đứa trẻ năm xưa, khi sao mộc tan biến. Đàn bà và những đứa trẻ cứ tiếp nối từ đời này qua đời khác. Trẻ trai, có người đem xe đến tận nơi đón rước. Trẻ gái, ở lại góp tiếng khóc rền rĩ với tiếng đàn bà ru ầu ơ. Mảnh đất ấy hàng ngàn đời vẫn vậy. Mảnh thiên thạch cuối cùng của sao mộc tinh đã lấy đi dương khí trong lòng đất lạnh, ở đây hội tụ và phát âm. Những người đàn bà còn rùng mình sợ.


 Kết.

 Tôi muốn đào mảnh thiên thạch ấy lên. Đàn ông cứ lần lượt rời bỏ phụ nữ mà đi, chẳng biết vì lí do gì cả. Chỉ còn đàn bà và trẻ con. Nhiều đàn bà và trẻ con. Những con sên ma cũng tìm đến hù dọa, nhưng không ai sợ nó, nhiều khi chúa cũng đến, đức mẹ đồng trinh cũng đến mỉm cười với lũ trẻ. Vì sao chỉ còn lại đàn bà? Đơn giản, vì nó là giấc mơ của tôi. Chỉ còn lại đàn bà, đàn bà sẽ không còn phải khóc. Con Sên ma đội lốt đàn ông đến nhen lên những mầm sống bất tận. Phải chăng như thế là quá đủ? Như đức mẹ đồng trinh sinh ra chúa bởi sự thụ thai của trời đất. Mẹ không cần đàn ông, chúa vẫn ra đời, chúa cứu nhân độ thế.

 Đừng ai tin…

 Giấc mơ chỉ là một sự điên rồ thoát thai, nhiều khi giấc mơ đến từ một người khác. Như con Sên ma đến từ khu vườn Weles, con bạch tuộc đến từ biển, chúa đến từ trời đất. Hay giấc mơ của tôi đến từ cõi vô cùng.

HOÀI BĂNG

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Mười Hai 20251:09 SA(Xem: 10461)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
21 Tháng Mười Hai 20252:39 SA(Xem: 14775)
Thầm dỗ Ngủ yên Ngủ yên nhe Cây mùa đông Sợi thời gian Dali chảy dài thương đợi Chờ xanh miết trời xanh Giấc mơ thiên nga và thời gian miên man Mọc trên cành khô Gọi người Người sẽ về Từ phía biển Tôi biết từ lâu Nỗi chợ đợi biển khơi
21 Tháng Mười Hai 20251:47 SA(Xem: 9198)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
17 Tháng Mười Hai 20255:00 CH(Xem: 10846)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
17 Tháng Mười Hai 20253:02 CH(Xem: 18586)
MƯA không phải là một bài thơ, mà là một trường thi của hiện sinh, nơi mưa trở thành một thực thể siêu hình: mưa của thời gian, mưa của ký ức, mưa của lưu lạc, và mưa của chữ nghĩa tự vấn chính mình. Ngay từ khổ đầu, Thi sĩ Nguyễn Chí Trung đã đẩy mưa vượt khỏi phạm vi tự nhiên để đặt nó vào trường độ lịch sử và siêu lịch sử: “mưa từ thượng cổ đến nay”. Mưa ở đây không gột rửa mà làm meo mốc ký ức, phủ rêu lên những “ngày vui qua”, những ngày “như ngọc như ngà” nhưng chỉ còn tồn tại như một hình thức của nhớ, không còn là thực tại. Đó là mưa của thời gian bị hỏng.
17 Tháng Mười Hai 20252:52 CH(Xem: 10172)
Đặc biệt là với bộ phim: “Rang De Basanti” sản xuất năm 2006 (Hãy tô màu nghệ cho tôi - nguyên gốc tiếng Hindi có nghĩa: Hãy vẽ tôi bằng màu sắc mùa xuân) của đạo diễn Rakeysh Omprakash Mehra, bộ phim đã phá vỡ toàn bộ các kỷ lục phòng chiếu trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ và sau đó chiến thắng nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng; và bộ phim “The Last Film Show” sản xuất năm 2021 (Buổi chiếu phim cuối cùng) của đạo diễn Pan Nalin - người xem phim Việt có thể tìm thấy dân tộc mình trên con đường đẫm máu đến với Tự do & Dân chủ và đồng thời tìm đến với Nghệ thuật thứ Bảy như một phương tiện hữu hiệu bậc nhất để tuyên truyền và giáo dục dân chúng.
13 Tháng Mười Hai 202510:23 CH(Xem: 9166)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
13 Tháng Mười Hai 20255:37 CH(Xem: 17308)
Thơ haiku của nhà thơ Nhật bản Miura Chora (1729–1780) trong sáng và giản dị, nhưng lại giàu chất thơ tao nhã. Miura Chora đã góp phần lãnh đạo phong trào phục hưng Matsuo Bashō vào thế kỷ 18. Những bài thơ dưới đây do Bạt Xứ dịch hầu hết là từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson. ( Bạt Xứ )
13 Tháng Mười Hai 20254:25 CH(Xem: 12542)
Được tin nghệ sĩ Thương Tín mất, xin được thắp nén nhang tưởng nhớ anh bằng kỷ niệm sâu sắc này, trong lần duy nhất được cộng tác với anh trong bộ phim “Thì thầm cao nguyên”: ...Thế là, tôi đã có dịp lang thang mấy tuần liền ở những vùng sâu vùng xa gian khổ nhất của tỉnh Bình Phước để lấy cảm xúc và thu thập tư liệu viết kịch bản phim... Ở xứ sở cao su bạt ngàn, một số cán bộ huyện - xã đã trở thành những “lãnh chúa” mới, chiếm dụng những diện tích đất lớn cho bản thân, còn không ít người công nhân cao-su đang dần trở lại thân phận chẳng kém thời mộ phu thực dân… Tại những vùng của người dân tộc S’ tiêng nơi cực Nam dãy Trường Sơn này, cuộc sống của đồng bào vô cùng gian khổ…
13 Tháng Mười Hai 20254:12 CH(Xem: 15973)
bây giờ rụng tóc nhăn da / tới lui cũng chỉ có ta với người / có ta với một bầu trời / vẫn chung thủy giũa cõi đời đảo điên / anh về thành phố gọi tên / một vùng ký ức thôi miên anh về.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3816)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13279)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19646)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18619)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1612)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1760)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2280)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2395)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1440)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2203)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1941)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1987)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1361)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2387)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2598)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2361)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 789)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 988)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1100)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6399)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15878)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38853)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1469)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6892)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10662)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9868)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9995)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10786)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3435)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11148)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10350)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi