- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Ghềnh V

26 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 110640)


(trích đoạn tiểu thuyết Ghềnh V)

(...)
Xe tới thị xã khoảng ba giờ trưa. Xuống xe, tôi vào quán cà phê, gọi nước uống. Để tiền boa hậu hĩ, tôi hỏi cô bé bưng bê:
“ Ghềnh V có xa đây không em?”
Cô bé lùi một bước, quay lưng không đáp. Đi ra sau quầy hàng, cô thì thào với bà chủ. Bà ngước mắt nhìn về phía tay cô chỉ, đầu lắc, ghé vào tai cô bé nói gì đó. Tôi đứng lên xốc balô, đến bên bà chủ.
“ Thưa chị, ghềnh V ở đâu chị?”
“ Anh hỏi làm chi cà?”
“ Tôi có chút việc tới đó...Ghềnh có xa đây không?”
Bà chủ quay ngoắt người, giọng đanh đá:
“ Không biết, anh đi nơi khác mà hỏi! Đây không ai biết ghềnh mô đâu!”
Ra khỏi quán, tôi ngạc nhiên, không hiểu gì. Nắng QN rát cháy hắt một màu vàng chói lên cỏ cây xanh sạm và những mái ngói màu đỏ gụ. Trời nóng, gió lặng, mặt đất nứt nẻ đợi mưa. Men quốc lộ, tôi vào trung tâm thị trấn. Đến trước một chòi canh giao thông, tôi chào anh công an, miệng tươi cười làm duyên:
“ Đồng chí cho hỏi, đi ghềnh V thì hướng nào?”
Ngước mắt nhìn trời, anh không đáp. Tôi nhắc câu hỏi, tay móc thẻ nhà báo ra, hy vọng nhân viên công quyền giúp đỡ báo chí khi làm nghiệp vụ. Anh công an liếc nhìn, sẵng giọng:
“ Không biết, vào chợ mà hỏi!”
Vào chợ, nhưng bây giờ là chợ chiều, bạn hàng đang lúi húi dọn dẹp. Tôi hỏi vẫn đúng một câu. Không ai đáp, thậm chí nhìn tôi như một quái vật. Có cảm tuởng như đến từ một hành tinh lạ, tôi xem thử mơ hay tỉnh, thét tướng lên:
“ Có ai biết ghềnh V ở đâu thì nói, tiền thưởng đây!”
Hai tay bảo vệ chợ ở đâu xồ tới, tay giật nắm bạc lẻ tôi đang giơ lên, miệng la:
“ Cút, cút ngay tức thì...”
Tay lực lưỡng tiện đà tống cho tôi một đạp, tay kia chỉ tay tru tréo:
“ Tính phá hả, ở đâu tới zậy cha... Đi đi!”
Tôi rảo bước theo phía tay tên bảo vệ chợ chỉ, chẳng biết đi đâu. Lát sau, tôi gặp một tốp trẻ đi học về, cổ quàng khăn đỏ, miệng nói cười. Bình tĩnh lại, tôi giang tay ngăn đường, miệng hỏi:
“ Mấy cháu có biết ghềnh V ở hướng nào không? “
Bọn trẻ ngơ ngác nhìn tôi rồi ù té bỏ chạy. Chúng la làng, chắc thằng cha này điên, bay ơi. Một đứa trai gầy lênh khênh cúi xuống lượm đá rồi thẳng tay ném về phía tôi. Những đứa khác bắt chước. Gạch đá bay rào rào.
Tôi cắm đầu chạy.
Một lát sau, tôi định thần, nhưng vẫn chẳng hiểu cớ sự gì ở cái thị trấn quạnh hiu này khi hỏi đường đi ghềnh V. Hẳn ghềnh ở ven biển. Vậy tôi cứ nhắm hướng đông, hướng ra biển, đến gần ghềnh rồi sau sẽ tính. Nhìn đồng hồ tay, tôi ước còn ít ra là hai, ba giờ trước khi trời tối. Rảo bước, tôi rẽ vào con đường đất men những thửa ruộng cằn nay đầy cuống rạ trỏng trơ, im ắng, ngơ ngác trong mùa gặt đã tàn . Xa xa, núi nhô cao, xanh rì. Gió lên, những cơn gió mát rượi bất ngờ vuốt ve. Nhưng nắng vẫn ập xuống, vẫn chói chan, không khoan nhượng.
Cứ thế, tôi đi trên bước đường tìm cái Đẹp cứu rỗi. Như con lạc đà trong sa mạc chong mắt tìm sau những đụn cát bóng nước hư thực khôn lường. Cứ thế, tôi đi về phía trước, nhưng chẳng biết đến đâu. Chờ phép lạ cho gặp một con người bằng da bằng thịt sẽ đáp câu tôi hỏi, tôi thầm khấn vong linh những kẻ đã khuất bóng nhân gian. Đến gần chân núi, phép lạ hiển hiện. Một cụ già dựa lưng thân một cây cổ thụ, tay cầm roi tre, chăn một con trâu đang gặm đám cỏ còn chút tươi xanh gần đó.
Tôi cởi ba-lô nay nặng như đá, đến gần. Cụ già giương cặp mắt hấp háy nhìn tôi, lòng trắng đục ngầu, miệng cười móm mém.
“ Đi mô chừ?”
Tôi còn ngần ngại chưa biết có nên hỏi câu hỏi chưa ai trả lời hay không thì cụ già trỏ tay vào tai nói:
“ Nói lớn lên...Già, điếc rồi!”
Cụ lại cười. Tôi đánh bạo, hỏi.
“ Ghềnh nào thì già không biết ở chỗ mô...Nhiều ghềnh trên núi này lắm. Chú tìm chi trên nớ?” Cụ già đáp, mắt nhướng lên.
Không lẽ tôi lại trả lời cụ bằng cái tít “ Nơi để Chết trong cái Đẹp cứu rỗi” ? Chắc chắn cụ không hiểu. Thật ra, chính tôi, tôi nào đã hiểu gì đâu. Chợt nhớ bài phóng sự có nói ghềnh V cách mộ nhà thơ ba mươi phút chim bay, tôi ghé tai cụ hỏi mộ nhà thơ tên tuổi.
“ À, mộ nhà thơ thì già biết... Ổng gốc Huế, nhưng ra QN sống, phải không! Từ đây đi, chắc cũng hơn một giờ mới tới mộ được.”
Cụ già chỉ đường với mọi chi tiết để tôi không lạc trong núi trong buổi chiều tà. Tôi sợ, hỏi:
“ Ở đây còn có cọp không cụ?”
Cụ bật cười:
“ Thời chiến, bom bỏ nhiều, cọp chạy sang Lào…Hết bom đạn, cọp về nhưng người mình ăn nó hết, xương nấu làm cao, bán lời lắm. Đừng sợ cọp, nhưng coi chừng rắn độc! Và bọn ăn cướp! “
Tôi mỉm cười, thầm nhủ chết dưới nanh vuốt cọp hay nọc độc rắn không thể là trong cái Đẹp.
“ Đi lên mộ thì đi liền, kẻo trời tối``, cụ già vỗ vai tôi như giục.
Cám ơn cụ, tôi lại quàng ba-lô lên lưng. Bây giờ, tôi biết đi đâu, trước khi tiếp tục đặt chân trên con đường dài ba mươi phút chim bay.
*
Trời chập choạng khi tôi leo lên mỏm núi nơi chôn nhà thơ tên tuổi. Ngay bên cạnh mộ, là một ngôi đền. Trong cái sảnh khá rộng, thơ in lại mới đây bầy bán. Một người trung niên đứng dậy chào, giới thiệu mình là cháu gọi nhà thơ bằng ông. Làm công việc thủ đền, ông bán những mặt hàng lưu niệm và chấp bút chép thơ theo thư pháp viết chữ Việt kiểu chữ Hán khi có khách đặt hàng. Mùa này ít kẻ vãng lai, và có thì họ đến quãng trưa, chẳng mấy ai lên mộ lúc tối trời. Nhìn tôi, người thủ đền hơi ngạc nhiên, nhưng vui vẻ đưa cho tôi ba nén nhang, dẫn đường đưa tôi vào nơi đặt bàn thờ ở đằng sau sảnh.
Bài vị nhà thơ đặt trên cao, ngay dưới là tủ kính bày hàng chục tác phẩm in vào những năm 40 của thế kỷ trước. Tôi châm nhang, nhìn thật lâu vào bức ảnh nhà thơ, chắp tay vái ba vái. Người thủ đền nói, và tôi giật mình thót bụng khi nghe nhà thơ lìa dương lúc tôi còn chưa ra đời. Thế thì cớ sao tôi lại gửi thơ của tôi đến một người đã tạ thế? Có phải rằng tôi không biết ông đã lìa đời nên tôi gửi? Không, đứa trẻ nào học đến cấp 2 có chút quan tâm đến thơ văn cũng đều biết điều này. Vậy, tôi biết nhưng vẫn gửi, gửi từ tiềm thức nỗi tri âm vô vọng đến một nhà thơ không còn sống? Mắt cay sè, tôi đưa tay lau giọt những giọt nước mắt cứ ứa ra không sao kiềm chế được. Người thủ đền có vẻ ái ngại, lui ra đứng sau.
Tôi đứng như thế rất lâu. Lâu có lẽ cả thế kỷ. Tôi lẩm nhẩm đọc bài thơ xưa tôi gửi cho nhà thơ. Thơ tôi kể nỗi đau của những kẻ thân xác đầy đủ nhưng tâm hồn mắc chứng phong, và cũng như những đốt tay cùi hủi, phần tâm linh rụng dần cho đến khi không còn chi để xác quyết mình vẫn là người.
Maria linh hồn tôi ớn lạnh.
Thơ ông thăng hoa từ nỗi hủy hoại thân xác, tìm ra bí nhiệm của lẽ sống qua vật vã với những đau đớn xác thân. Thơ ông, qua cái Đẹp chiêm nghiệm khi đặt đến bước tận cùng của lẽ sống, ca hát cho đời. Còn thơ tôi, cao nhất thì tôi cũng chỉ gào lên hỡi Mẹ yêu thương, làm sao cứu vớt được đàn con này khi chúng hạ giá linh hồn bán ra để mua chút đòi hỏi xác thân.
Thế đấy, thơ tôi là loại thơ tải đạo dễ dãi.
Chẳng khác gì một hạt muối nhạt nhẽo trong đại dương vốn đã mặn chát vị nước mắt, tôi thương vay khóc mướn, thơ là những tiếng khóc thừa thãi vô duyên. 
Thì thào vào tai người thủ đền cho tôi hoá vàng, tôi lôi từ ba-lô bản thảo tập thơ. Người thủ đền hỏi:
``Chi vậy?”
Tôi thẫn thờ:
“ Một tập thơ không có người đọc!”
Tôi châm lửa.
Người thủ đền sững sờ thất thanh kêu “ Đừng, đừng!”.
Nhẹ nhàng, tôi nắm nhẹ tay người thủ đền, nói nhỏ:
 “ Không hề chi đâu, toàn chỉ những rong rêu... Của một thời để quên!”.
Tôi cầu sao cho người đời quên những bài thơ du dương hạng ba tôi chót gửi đăng báo.
Và tôi hiểu.
Tôi vừa làm một việc có ý thức. Với Thơ.

*
Tôi xin người thủ đền cho trọ qua đêm.
Trăng non mới chớm lưỡi liềm, nhưng sao tôi nhức nhối lạ thường. Nhức từ bên trong, và cảm thấy cô đơn như chưa từng. Nấm mộ nhà thơ nhô lên, dưới ba thước đất là một nắm xương khô. Nhưng trên mặt đất này, thơ ông vẫn toả sáng những dòng đối chọi lại bệnh tật tàn khốc của ông bằng những niềm hạnh phúc hầu như không tưởng. Nhìn ra xa, biển tít tắp lấp lánh như dát gương. Dăm cánh buồm trắng những con thuyền câu về muộn nhấp nhô ẩn hiện. Sương xuống. Dưới chân tôi, khói lơ lửng bay lên như nhấc tôi khỏi thế gian này. Thiên nhiên, phép lạ vi diệu khiến tôi nhỏ dần cho đến khi thành một hạt bụi nước li ti. Hạt bụi bỗng nhiên nhớ, dẫu nơi này nào phải thôn Vỹ Dạ,
thuyền ai đậu bến sông trăng đó/Có chở trăng về kịp tối nay.
Tôi thầm nghĩ, nếu không có Lời, cái Đẹp không tái hiện được trong tâm thức để rồi trở thành vĩnh hằng cho con người. Đó là một cách cứu rỗi. Nhưng không có cái Đẹp cảm nhận được, Lời không đạt đến chức năng cao quí nhất, và phải chăng cái Đẹp cứu rỗi là thế? Phương Tây, buộc tri thức vào phép nhị nguyên, tách cái chết ra khỏi sự sống như hai trạng thái biệt lập giữa thân xác và linh hồn. Cứu rỗi, tức linh hồn lên Thiên Đàng khi thân xác trở về với cát bụi. Rất có thể anh bạn phóng viên của tôi là người đạo gốc đã tin thế nên anh mới bảo ghềnh V là nơi Chết trong cái Đẹp cứu rỗi. Nhưng phương Đông thì sao? Tôi đọc Kim Cương kinh của Phật Giáo. Rồi Nam Hoa kinh của Trang Tử. Sống , chết, rồi lại sống...Cứ thế vòng sinh diệt luân hồi chứ không phải chết là hoặc lên Thiên Đàng hoặc xuống Địa Ngục muôn đời. Cho nên, nhận ra yếu tính vô thường, ý nghĩa của cứu rỗi ở phương Đông có thể khác hẳn. Nhưng khốn thay, tôi vẫn bước trong vòng vô minh.
Những bước chân người mù, đêm cũng như ngày. Ai chỉ lối cho tôi đây? Đốt tập thơ, đâu phải tôi đã đạt đến được sự minh triết của cõi vô ngôn. Tôi chỉ chập chững đặt chân vào biên giới mong manh giữa hư và thực.
*
Sáng hôm sau, tôi kể cho người thủ đền nghe những điều kỳ lạ tôi trải nghiệm khi tôi hỏi tìm đường lên ghềnh V. Anh ta cười:
“Từ ngày đến ghềnh V tìm giải thoát thành một phong trào thì người ta ra lệnh cấm. Cấm nhưng vô hiệu, phải đặt ra huyền thoại, phao những ai chỉ đường đều bị người chết đến đòi mạng. Thế là chẳng còn một ai dám nói năng gì về cái ghềnh oan nghiệt đó nữa. Cứ vậy, riết thành truyền thống để dân gian sợ và quên cái ghềnh đó đi...”
Tôi ngập ngừng:
“ Thế anh lên ghềnh xem hư thực thế nào chưa?”
“ Chưa! Giữ phần mộ ông tôi, tôi đâu đã hết nợ với những người đi trước...”
Nghe tôi khẩn khoản xin chỉ lối đến ghềnh V, anh hỏi:
“ Đến đó làm chi?”
Thú thực với anh là khi đốt tập thơ tôi đã cố khai tử một ảo tưởng. Hiện tôi vẫn còn hoang mang. Chưa có một vọng niệm gì ngoài cái ao ước thấy tận mắt cái Đẹp nhưng, tôi thú thật, tôi rất ngờ rằng cái Đẹp có thể cứu rỗi bất cứ chi. Anh gật gù, giọng giễu cợt:
“ Làm sao thì cũng đừng về đòi mạng tôi nhé!”
(...)
Nam Dao
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2065)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 2199)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 1744)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 2502)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 2543)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 2618)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 2062)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 4136)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2766)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3923)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10368)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17200)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16235)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16710)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 297)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1360)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1352)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2065)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 307)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1318)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1172)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
(Xem: 2616)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 415)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1304)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1201)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1236)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3001)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2820)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3263)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 3277)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2062)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13892)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30015)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36062)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11514)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13010)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2766)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3923)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3916)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4446)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4944)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8248)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7625)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10578)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.