- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,470,548

Thơ Vĩnh Thông

05 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 96733)

 

hinh_9-content

LTS: Vĩnh Thông là bút hiệu của một người rất trẻ ở An Giang. Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, chúng tôi hân hạnh gới thiệu dòng thơ của Vĩnh Thông đến với quí văn hữu và bạn đọc.

TCHL

 

KÝ HỌA

Tôi ký họa mình vào giấc mở của đất

Khi từ giã tháng Giêng

Ngọn tầm vông lưu lạc cuối hè

Tôi ký họa hình của dấu chân vào sương

Rách

Hối hả - Cuộc hành trình vẫn lao về phía trước

Tôi ký họa mặt người vào dòng sông buông

Nơi có lau sậy hóa mình trôi theo tiềm thức

Đột ngột giận mình

Tôi nâng những bức ký họa

Những nhỏ nhen thân phận kiếp người

Chợt thấy chúng bạc màu

Cùng năm tháng trôi xuôi.

 

NHỮNG NGƯỜI MÓC ĐẤT


Giữa đầm mênh mông nước

Mẹ lặn bùn

Cha móc đất

Những hạt phù sa dang rộng từng ngày.

Một tấc… Hai tấc…

Một thước… Hai thước…

Rồi trồng cây

Rồi dựng nhà

Rồi sẽ thành làng, thành xóm.

Giữa bao la

Đất mẹ cha rướn mình ngó trời trong vắt

Con leo lên chập chững bước đi

Những ước mơ bén rễ từ khi…

Bất chợt

Bão tới

Cuốn đất đi

Cuốn những ước mơ con

Cùng mẹ cha chảy theo con lũ.

Con bị sóng tấp vào một bụi tràm

Nước mắt rưng rưng.

Những ước mơ đứt quãng giữa chừng.

 

QUÁN LẠ VEN SÔNG

Quán ven sông người ta kêu quán lạ

Bình rượu quê thằng bạn đã ngà say

Quán ven sông không tên không bảng hiệu

Dành riêng ta, mặc sức mộng đêm ngày.

Ngã ba sông có chở ta về xứ

Mười mấy năm đi mãi không về

Ngồi ở quán, lục bình trôi ngang mặt

Nhìn ở đâu cũng phảng phất dáng quê.

Rồi cũng chỉ còn mình ta với quán

Những đàn chim đã vỗ cánh bay về.

Chim nhớ quê. Ừ thì ta cũng nhớ

Chim về quê. Ta lại chẳng được về.

Không về được…

Thôi thì đành ngồi quán

Nhìn lục bình để bớt nhớ quê.

Vĩnh Thông

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2846)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6805)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3608)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
06 Tháng Tám 20204:13 CH(Xem: 454)
một chút tóc cũng rối bời mây hạ / một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô / một chút bờ vai thong dong phố thị / một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ /
06 Tháng Tám 20203:58 CH(Xem: 372)
Đừng vì anh / hãy mê mải cánh chim / giông giống nụ hôn ố vàng rơi bay mùa lá /
06 Tháng Tám 20203:37 CH(Xem: 493)
Có thể bây giờ nơi xa đó Ngày chỉ vừa lên trong nắng mai Giọt sương còn đọng long lanh ướt Và café nóng tỏa khói bay.
06 Tháng Tám 20203:32 CH(Xem: 528)
Quên rồi em đã quên tôi / Tháng giêng qua ngõ còn cười tháng hai / Phai thu lạnh sắc trang đài / Trăng ba vòng nguyệt đau hoài cùng trăng
06 Tháng Tám 20202:43 CH(Xem: 443)
Trăm năm ở tạm chốn này \ Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu \ Trầm thăng bao nỗi cơ cầu \ Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang \
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 796)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 438)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./