- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tháng Tư đi về miền Nam

30 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 117478)

 


 chungsuc_duongvanmai

  (Chung sức / Ảnh Dương Văn Mai)

 

Tháng Tư thường gợi lại nhiều xúc động cho người Việt tị nạn, nhưng với chúng tôi tháng Tư lại có thêm ý nghĩa đặc biệt, vì cứ vào dịp này chúng tôi lại bay sang Houston Texas dự đại hội trường cũ của vợ tôi, để được có dịp gặp lại những người bạn ngày xưa từ mấy chục năm về trước. 


Đại hội Trưng Vương toàn cầu kỳ nào cũng đông, có lần đến gần ngàn người, bàn tiệc xếp đầy đại sảnh trong các khách sạn lớn. Các cựu giáo sư và các nữ sinh không những từ các tiểu bang trong nước Mỹ, mà có cả nhiều nơi khác trên thế giới, Anh, Pháp, Úc và cả từ Việt Nam.

Đại hội kéo dài trong ba ngày, tối thứ Bảy là tiền đại hội, Chủ Nhật đại hội gần nguyên ngày và thứ Hai đi du ngoạn. Năm nay, cuộc du ngoạn là thăm Moody Garden tại Galveston cách Houston hơn một giờ lái xe. Cả đoàn gồm ba xe bus cỡ lớn chở gần hai trăm người tham dự trong một ngày đẹp trời.

 

Trong lần du ngoạn trước, chúng tôi đã có dịp đi thăm Austin, thủ phủ của Texas, ở đó có một công viên có những tượng đồng khá đặc biệt và một khu hồ rộng lớn. Lần này, chúng tôi cũng đến San Antonio và là lần thứ ba. San Antonio là một thành phố du lịch của Texas. Chúng tôi đã đi thăm thành Alamo, nơi 100 chí nguyện quân cố thủ, không chịu đầu hàng quân Mễ Tây Cơ và tử chiến đến người cuối cùng. Chúng tôi đi thuyền dọc theo khu River Walk, lãng mạn thì không bằng những gondoliers ở Venice bên Ý, nhưng vui hơn. Chúng tôi có dịp đến thăm một thạch động gần đó. Thạch động ẩm ướt có thể vẫn còn non, không như những thạch động khô ráo mà chúng tôi có dịp đến thăm ở Việt Nam. Nhiều thạch nhũ ở phía trên nhỏ giọt xuống đóng thành những nhũ ở phía dưới và có những bảng đề ước lượng cho từng thạch nhũ là hàng trăm năm nữa hai thạch nhũ trên và dưới sẽ dính lại được với nhau.

 

Moody Garden là một khu giải trí nhân tạo rộng lớn nằm bên cạnh vịnh Galveston gồm nhiều tòa nhà, có một số kiến trúc theo hình kim tự tháp. Trong đó có một aquarium ba tầng. Một nhà kính Rain Forest trồng các cây nhiệt đới. Hai phòng chiếu phim nổi, một phòng ba chiều 3D, còn phòng kia chiếu phim 4D. Chiều thứ tư là chiều gây cảm giác cho người xem như thật. Lúc gió mạnh thì quạt máy thổi ào ạt vào phòng; cảnh động đất thì tự nhiên ghế mình đang ngồi rung chuyển; khi mưa gió, bão biển thì những làn bụi nước tạt cả vào mặt mình. Khu này còn có một phòng triển lãm hình ảnh xưa và di vật của những người di dân đến định cư tại Galveston, trong đó có gồm cả người tị nạn Việt Nam. Cũng tương tự như cuộc triển lãm “20 Years After the Fall of Saigon” mà tôi đã tham gia là một curator, tại Bảo Tàng Wing Luke Asian Museum tại Seattle hồi 1995.

Còn một số các khu giải trí khác mà chúng tôi không có đủ thời giờ đến xem.

 

Lúc trước khi đợi đến giờ lên tàu du ngoạn ngoài biển, toán tôi chợt khám phá trên bản đồ có một nơi ghi là Vietnam Memorial, chúng tôi quyết định đến nơi đó. Quanh co một hồi rồi cũng tìm được. Tượng đài là một số cột cao ngang đầu, trụ hình tam giác bằng đá cẩm thạch đen bóng, trồng xung quanh hai cột cờ Mỹ và Texas. Mỗi cạnh của các trụ có khắc tên các người lính Mỹ của Galveston tử trận tại Việt Nam. Trong lúc chúng tôi đang thay nhau chụp hình kỷ niệm, thì một chiếc xe chạy tới đậu ngay cạnh. Một người Mỹ lớn tuổi vội bước xuống xe, bảo chúng tôi đứng vào hàng để ông chụp hình cho tất cả. Chụp xong, ông tự giới thiệu là một hội viên của hội “Sons of the American Revolution” của Texas. Hàng năm cứ vào tháng Tư, các hội viên sẽ tụ tập tại đây. Họ sẽ rung chuông trong khi trỗi nhạc TAPS tưởng niệm và ông thường là người đọc diễn văn vinh danh những người đã hi sinh cho cuộc chiến ở Việt Nam. Tôi nói cho ông biết chúng tôi cũng kỷ niệm ngày mất miền Nam vào tháng Tư và năm nay chúng tôi tình cờ lại được kỷ niệm ngày đó tại tượng đài này.

 

Tối hôm đó, tại nhà anh chị Nho, một người bạn thân, chúng tôi được xem cuốn băng nhạc kỷ niệm ngày khai mạc Viện Bảo Tàng Tị Nạn tại San Jose, có tựa đề là “Ngàn Người Viết Sử”. Trong cuốn băng đó Khánh Ly đã hát bài “Chiều Trên Phá Tam Giang” để nhớ đến Trung tá Đỗ Hữu Tùng, tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến. Cũng trong cuốn băng “Mưa Hồng” do Khánh Ly xuất bản trước đây, cũng thấy cô nhắc đến Trung tá Tùng và có cả hình ảnh cô chụp chung với Tùng cạnh lều chỉ huy tại chiến trường miền Trung. Tôi nhớ lại đã đọc trong hồi ký của Khánh Ly cũng có những kỷ niệm riêng của cô với Trung tá Tùng. Tùng là em ruột của anh Nho và người sĩ quan anh dũng này đã mất tích khi Quảng Trị, Thừa Thiên thất thủ vào tháng Tư năm 1975. 

 

Hôm sau, một người bạn cùng khóa 6 Quốc Gia Hành Chánh với tôi là anh Nguyễn Ngọc Vỵ mời chúng tôi đến ăn cơm tối tại nhà. Anh nhắc lại những kỷ niệm ngày xưa mà chính tôi đã quên: Anh nói tôi là người xung phong trong tổ vác đại liên của đại đội trong những cuộc di hành 60 cây số trong thời kỳ Tổng Thống Diệm gửi chúng tôi ra lò luyện thép Đồng Đế để huấn luyện thành sĩ quan trước khi gửi về phục vụ tại địa phương. Anh lại còn nhớ hồi còn ở trường, có lần tôi bị một giáo sư từ trường Luật sang dậy, không hiểu mang cái bực dọc ở đâu tới ông đã đuổi tôi ra khỏi lớp làm cho mọi người ngạc nhiên. Ngồi trong lớp đã lâu cũng chán nên có dịp, tôi đi ra ngay. Ngày hôm sau tôi mới đứng lên hỏi lý do nào mà bị đuổi ra khỏi lớp. Ông thày nói ông không muốn thấy ai cười nhạo ông khi ông đang giảng bài. Các bạn tôi bật cười, xúm vào bênh vực cái cười lệch miệng bẩm sinh của tôi mà ông đã hiểu lầm. Hôm đó, ông đã xin lỗi tôi. 

 

Còn tôi thì nhớ Vỵ là người đầu tiên trong khóa được bổ nhiệm thành Quận trưởng tại một quận miền Trung hồi đó. Có lần anh đã thoát khỏi một trận phục kích của Cộng sản. Rồi anh lần lượt làm Phó của một số tỉnh vùng 2 Chiến Thuật. Chức vụ cuối cùng của anh là Phó tỉnh Ban Mê Thuột cho tới tháng Tư năm 1975 khi Cộng sản tràn ngập cao nguyên. Người anh của Vỵ ở Saigon được tin anh đã bị Cộng sản bắt, mất tích coi như đã chết. Cáo phó với tên vợ và 6 con đã đăng lên báo. Tôi và mấy người bạn đã đi dự lễ cầu hồn cho anh ở nhà thờ. Không ngờ khi gia đình tôi di tản đến đảo Guam, gặp lại bà mẹ vợ của anh. Bà cho biết anh đã được di tản vào Mỹ.

 

Tối đó anh đã kể lại câu chuyện vượt thoát hi hữu. Câu chuyện vừa ly kỳ, vừa cảm động như trong tiểu thuyết. Sau khi bị bắt, gia đình anh được giao cho một chính ủy tiểu đoàn VC để giam giữ và khai thác. Định mệnh đã run rủi cho hai người nhận ra là cùng quê Thái Bình. Người bị bắt và người cai quản đã chia sẻ nhiều chuyện về gia đình, về quê cũ. Có lần Vỵ bắt gặp anh chính ủy ôm đứa con trai 10 tuổi của Vỵ lên lòng, mơ màng nói “Con trai tôi cũng cỡ tuổi này, từ hồi nó mới sanh tôi chưa được gặp nó”.

Ít lâu sau có lẽ viên chính ủy đã gián tiếp giúp cho Vỵ phương tiện để cả gia đình anh tìm được đường về duyên hải. Sau này nghe đâu anh chính ủy cộng sản đó đã bị hạ tầng công tác, khốn khổ với cấp trên vì việc làm nhân bản này. Vỵ cũng cho chúng tôi xem một tập bản thảo hồi ký mấy trăm trang, có thể sẽ sớm được xuất bản. Trên tường nhà anh có treo một tấm bảng với huy hiệu West Point, tôi hỏi thì anh cho biết cháu nội gái của anh là Amanda mới tốt nghiệp trung học và vừa được West Point nhận vào trường. Chúng tôi chúc mừng và cảm thấy hãnh diện với sự thành đạt của lớp người trẻ trong cộng đồng Việt Nam

 

Một tuần tại Houston gặp những người bạn cũ, lòng tràn đầy những kỷ niệm của tuổi thanh xuân. Nhìn những cựu nữ sinh trong áo dài đồng phục màu xanh lam mà tiếc ngày xưa tôi đã không có dịp đến chờ ở cổng trường hay đạp xe đạp theo các nàng, vì các năm cuối trung học tôi đã phải vùi đầu học thi. Gặp lại và chụp hình chung với một chị bạn đồng lớp cũng là cựu giáo sư và nhớ lại các bạn cùng học năm đệ Nhất ở Chu Văn An, hồi lớp ở nhờ trong khu nội trú Pétrus Ký. Tôi cũng gặp lại một số bạn Hành Chánh, rể của Trưng Vương, để nhớ lại cả một thời binh lửa ở những quận heo hút miền xa của đất nước.

 

 *

Sau Houston, chúng tôi bay sang Nashville, tiểu bang Tennessee, cách một giờ bay, để thăm cô con gái mới dọn đến đó được ít lâu.

Đây là lần đầu tiên chúng tôi đi vào miền Nam của nước Mỹ. Sinh sống ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ từ hơn 35 năm nay với đủ các sắc dân, khi đến vùng này chúng tôi có một cảm giác là lạ. Trên các chuyến bay đi Nashville và Denver lần này, chỉ có hai vợ chồng chúng tôi là người Á Châu. Tennessee là một tiểu bang có tiếng là kỳ thị người da đen. Mục sư Martin L. King đã bị ám sát ở đó. Tennessee (Oak Ridge) cũng là nơi làm bom nguyên tử thả xuống Hiroshima để kết thúc thế chiến II. Tennessee lại nổi tiếng về công trình thủy điện dưới thời Frankin Roosevelt, giúp nước Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1930. Ngoài ra Nashville thủ đô của Tennessee được cả thế giới biết đến về country music với khu Grand Ole Opry và Graceland tại Memphis của Elvis Presley, vua nhạc Rock N Roll.

 

Kiến trúc gia cư của miền Nam đặc biệt với các cột trụ bên ngoài cửa ra vào và hàng hiên. Bên trong nhà từ trần đến các cửa lớn nhỏ đều được chạy khung gỗ rất mỹ thuật. Nhìn qua những ô cửa sổ vuông, màu lá xanh tươi rung động trong gió sớm, tiếng chim hót nhẹ nhàng đâu đó, tưởng như đang ở trong cảnh thanh bình của ngày xa xưa, hồi tiền nội chiến của miền Nam, thời “Cuốn Theo Chiều Gió” của Margaret Mitchell, của những văn sĩ nổi tiếng miền Nam William Faulkner, Tennessee Williams và John Steinbeck.

 

Chúng tôi đi thăm Hermitage, dinh thự và đồn điền của tướng miền Nam thời nội chiến là Andrew Jackson. Trong cuốn phim giới thiệu khởi đầu, có đề cập đến ông là một nhà quân sự, chính trị tài ba nhưng cũng rất sắt máu. Có lúc ông đã sở hữu tới 150 nô lệ da đen. Ông ra lệnh trừng phạt 300 roi da những người nô lệ bỏ trốn mà bị bắt lại.

Chỉ mới một năm sau khi trở thành Tổng thống thứ 7 của Hoa Kỳ, Jackson đã ký đạo luật đuổi bộ lạc da đỏ Cherokee ra khỏi vùng Đông ngạn Mississippi, cướp đoạt của họ hơn 22 triệu mẫu đất và xua họ về miền cực Tây, phía Oklahoma. Họ không được mang theo tài sản sở hữu gì. Hơn 4,000 người trong số 15,000 người Cherokee đã bỏ mạng dọc đường, khiến cho đoạn đường sau này được gọi là “Trail of Tears”.(Đường Mòn của Nước Mắt). Chúng tôi cảm thấy bất nhẫn nên bỏ dở cuộc thăm viếng đồn điền, liên tưởng đến những năm cũ dân miền Nam cũng đã bị cướp đoạt nhà cửa tài sản đuổi về vùng kinh tế mới, đưa đến thảm cảnh hàng trăm ngàn người dân Việt bỏ mình trên biển cả. Trớ trêu thay, Andrew Jackson sau này lại trở thành một vị tổng thống được in hình trên giấy bạc thông dụng 20$. 

 

Tối đó trở về, xem báo điện tử. Gần cuối tháng càng dồn dập những chuyện viết về Tháng Tư. Hai truyện mà tôi thấy rất hay, rất cảm động là Lời Cám Ơn Riêng của Trần Mộng Tú và Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân của Phạm Tín An Ninh. Cũng thời gian này chúng tôi được tin trong nước, khu thương xá Eden và nhà hàng Givral bị phá đổ. Tôi nghĩ không phải riêng tôi mà một số đông người đã bàng hoàng như mất cả một quá khứ thân yêu về một quê hương mà mình đã phải rời bỏ. Tôi nhớ đến những năm cuối của thập niên 50, tôi cùng các bạn đã qua một thời tuổi trẻ tại dọc đường Tự Do, ngồi trong các quán La Pagode, Givral, Brodard, bên cạnh các ly cà phê, gạt tàn đầy thuốc lá. Có lúc họp nhau ở quán Pole Nord cuối đường gần bến Bạch Đằng chơi tilt, một trò chơi mới của những năm 50, chạy bằng điện, rất được ưa thích hồi đó.

Tôi cũng nhớ cả đến những đêm về sáng ở vũ trường Tự Do, ngồi nghe Lệ Thu hát hết bài Tôi Đưa Em Sang Sông, để rồi ngày mai lại phải xa thành phố về một nơi mịt mù của đất nước. Sau này, lần nào từ Mỹ về thăm lại Saigon, chúng tôi cũng đến Givral ngồi bên ly cà phê, trầm ngâm nhớ lại cả một thời và những người bạn ngày xưa. Bây giờ thì Givral không còn nữa rồi.

 

Tôi lại đọc những báo điện tử trong nước. Ở Hồ Gươm gạch cũ xung quanh hồ đã bị lật lên và thay vào đó bằng đá xanh vuông. Tường nhà của lầu hai trong khu phố cổ bị sơn một mầu vàng nhem nhuốc. Đọc những phản hồi chê trách của người dân trong nước, họ cho rằng người ta kỷ niệm Thăng Long 1000 năm bằng một Hà Nội mới kệch cỡm.

Hôm sau chúng tôi lái xe đi thăm Graceland ở thành phố Memphis cách Nashville khoảng 200 miles, nơi đó có viện bảo tàng và dinh cơ của Elvis Presley và những phòng triển lãm nhiều sưu tập của Elvis như các xe hơi đắt tiền, các bộ y phục trình diễn lộng lẫy. Chúng tôi đến thăm tòa nhà mà Elvis cư ngụ 19 năm cho tới khi qua đời tại đó. Các căn phòng tương đối nhỏ hẹp. Bàn ghế, tủ và sofa đều mầu nâu tối, không mấy mỹ thuật. Chúng tôi hơi ngạc nhiên về sở thích và cách sống của Elvis, một ca sĩ thần tượng đã có giọng hát mê hoặc chúng tôi một thời. 

 

Trước khi rời Nashville, chúng tôi đi thăm khu Opryland, nơi có viện bảo tàng về Country Music. Cạnh vườn hoa có dựng hai chiếc đàn guitar khổng lồ, tượng trưng cho một thế giới âm nhạc nổi tiếng, là một khu thương mại lớn với đầy đủ các cửa hàng được trang trí rất bắt mắt, sàn nhà bên trong được lát bằng gỗ quí bóng loáng. Chúng tôi ăn tối tại một nhà hàng trong khu vực có tên là Aquarium. Cách bài trí nội thất của nhà hàng cho khách có cảm tưởng như đang ngồi trong thủy cung với những đàn cá lớn nhỏ đủ loại, đủ màu sắc bơi từng đàn bên cạnh.

 

Buổi sáng trên đường ra phi trường trở về Seattle, mưa rơi xối xả như mưa Saigon. Chúng tôi không biết là trời đã mưa như trút nước từ đêm hôm trước. Thời tiết báo tin mưa sẽ tiếp tục thêm một vài ngày nữa.

 

Sáng Chủ Nhật, chúng tôi dậy muộn. Mở TV thấy nước của dòng sông Cumberland dâng cao hơn mười mấy feet đang hung hãn chảy xiết.

Chúng tôi đã bỏ lại thành phố Nashville và những thắng cảnh danh tiếng của Tennessee một trời ngập nước.

Nguyễn Công Khanh


(Đã in trên Hợp Lưu 113, số tháng 3&4-2011)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 896)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 904)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1235)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1097)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1309)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1405)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1365)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1241)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1815)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 1955)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9325)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16157)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15175)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15515)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 895)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1235)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1303)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1815)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3578)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5398)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4957)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5577)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1095)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1404)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1717)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1689)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1365)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1241)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1490)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1539)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12208)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28583)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35080)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34972)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9730)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11937)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 904)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1235)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1815)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 1955)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2254)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6953)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6385)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8313)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.