- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,447,882

Một mình...

22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 94787)

 

ltt_hl112

Một mình

Trong bản tự khai với PA.25
Tôi thú nhận
Không có bạn thân, không có tổ chức, không có bầy đàn…
Chỉ một mình.

Một mình thông thống mình
Một mình luông tuồng mình
Một mình vời vợi mình
Một mình hau háu mình
Một mình đau đáu mình
Một mình tơi bời mình
Một mình ruỗi rong mình
Một mình ăn sống mình
Một mình tự chôn mình
Như
Một mình trời
Một mình trăng
Một mình xanh
Một mình thẳm
Một mình lên
Một mình chìm
Một mình bão.

Một mình đả đảo
Một mình thênh thang
Mình . . .

Tháng Mười, tức cười...

Tháng Mười chơi trò xếp đặt
Những con rồng được tạc bằng xương người
Những con rắn cong khô trên bếp than cời
Dưới nền trời xám và khô
Phố phường mạ bằng vàng mã
Người người ướp lạnh.

Tháng mười sũng ướt
Ai tìm người thất lạc
Ai tìm ngày đói ngày khát
Trên mặt đồng hồ đếm ngược
Đường không lối đi
Người không nẻo về
Tiếng kêu đã qua
Tiếng cười đã mất
Cái nhìn chạm mặt
Xước da.

Tháng mười cười như ma ám
Người rước rồng
Người đuổi rắn
Tai biến giấc mơ thì thầm ở trên cao
Tai biến sắc màu mặt tiền phố xá mong manh
Tai biến thân phận đang trên đường di chuyển tới.

Tháng mười chơi trò lễ hội
Vẫy vùng rác rến
Phung phí tuổi ngàn năm.

Ngồi đồng buổi sáng

Thành phố nhiệt đới này
Nhiều nơi có thể đái bậy
Nhiều nơi có thể tìm gái
Nhiều nơi có thể ngồi đồng. . .

Ngồi đồng vỉa hè
Ngồi đồng quán cóc
Ngồi đồng chửi đổng
Ngồi đồng đọc báo
Ngồi đồng đấu láo
Ngồi đông tào lao
Ngồi đồng ngó quanh
Ngồi đồng đá lạnh
Ngồi đồng ngồi đổng
Ngồi đông.

Buổi sáng ngồi đồng
Nói năng chi cũng nhìn dọc ngó ngang
Nói năng chi cũng thấy lạnh gáy
Im lặng gói trong tàn thuốc lá
Im lặng gói trong cái nhìn bè bạn.


Thành phố này buổi sáng
Ngồi đồng uống cạn một ao đầy
Ngồi đồng uống thẳng cánh cò bay
Nói cười hê hả
Vẫn nhờn nhợn cái nhìn lạ mặt.

Ngồi đồng buổi sáng
Nén một ngày rỗng không ngắn lại.

Lê Thánh Thư



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1982)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5869)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2954)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 470)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 459)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 501)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 699)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 501)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 471)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /
14 Tháng Năm 20208:43 CH(Xem: 406)
Vẽ một đường mây trên vai áo / Ngó thấy bình minh giữa xế chiều / Bàn tay ai vẫy mùa dông bão / Đất ngữa nghiêng chìm theo gió reo.