- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,433,249

Ngô Thế Vinh: người bắt mạch cho những giòng sông

19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 69110)
ngothevinh

Câu Chuyện của Dòng Sông

 Mekong – The Occluding River
Ngô Thế Vinh, Nxb iUniverse 2010


Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Ngô Thế Vinh còn là một sinh viên y khoa, đảm nhiệm chức vụ chủ bút cho tạp chí Tình Thương, tờ báo của những người sinh viên áo trắng. Trong thời gian này tôi là một sĩ quan rất trẻ của QLVNCH. Cả Ngô Thế Vinh và tôi bị cuốn vào một biến động làm rung chuyển rừng núi Tây Nguyên: vụ nổi loạn đòi tự trị của những sắc tộc thiểu số, mà báo chí thời đó gọi là FULRO. Tuy cùng dính dự vào vụ biến động này, nhưng Ngô Thế Vinh hoàn toàn chủ động trước những dữ kiện lịch sử để sửa soạn cho một cuốn sách. Trong khi đó tôi hoàn toàn thụ động và chỉ cần một chút thiếu may mắn khi bốc thăm, có thể đã khiến tôi trở thành viên sĩ quan trưởng toán thi hành bản án tử hình, phải bắn một phát súng ân huệ đối với các phạm nhân trong vụ nổi loạn này.
Vài năm sau biến động FULRO, năm 1971 lúc bấy giờ đã là bác sĩ của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, một trong vài đơn vị thiện chiến nhất của QLVNCH, nhà văn Ngô Thế Vinh đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc, với tác phẩm “Vòng Đai Xanh”, viết về những gì ông đã chứng kiến, trải nghiệm qua các cuộc nổi loạn của các dân tộc thiểu số, chủ nhân nguyên thủy của vùng Tây Nguyên ngút ngàn nhựa sống. Chiến tranh đã khiến cho Ngô Thế Vinh từ một người lính bình thường trở thành người cầm bút. Chính chiến tranh và đời sống của một y sĩ ngoài chiến trường đã góp phần đào tạo ông thành một nhà văn.
Ngô Thế Vinh đã có một chút may mắn khi khởi nghiệp cầm bút, trong tư cách tổng thư ký, rồi chủ bút tạp chí Tình Thương, ông có thêm điều kiện để sửa soạn cho việc viết lách của ông. Ông có dịp nhìn chiến tranh trong tầm gần hơn nhiều nhà văn, nhà thơ khác trong quân đội. Thế rồi cơn bão chiến tranh càng ngày càng gia tăng tốc độ, đến lúc trời sầu đất thảm, nhà cháy ở khắp nơi, và người ta ngã xuống từ thành thị cho tới thôn quê, từ núi rừng cho tới thôn ổ. Người ở hai bên thì càng ngày càng say máu “quân thù”, càng cố giết nhau để đạt được những ưu thế trong bàn hội nghị. Chiến tranh đã cướp đi bao nhiêu là sinh mạng của người lính hai miền Nam Bắc, và trong đó có không ít những người cầm bút.

Trước Tháng tư năm 1975, trong khi du học về “Y khoa Phục hồi” tại Hoa Kỳ, ông đã biết chiến tranh sẽ kết thúc bất lợi cho phần đất ông sinh sống, đang góp phần bảo vệ. Nhưng ông đã chọn trở về, để rồi trong những ngày chót của cuộc chiến đã khiến cho Ngô Thế Vinh thay vì được chứng kiến mắt bão của lịch sử như một nhà văn, ông đã chứng kiến những đổi thay qua những trại tù cải tạo.
Hơn hai chục năm sau biến động FULRO, tôi quen biết với Ngô Thế Vinh khi ông sửa soạn rời California đi thực tập thường trú tại một bệnh viện ở New York. Bây giờ ông là nhà văn lưu vong ở quê người.
Kể từ đó tới nay dễ chừng cũng thêm hai chục năm qua đi, tôi nhận chân được một điều: ông như là một nhà nho của hai thế kỷ trước còn sót lại, chăm chắm làm những công việc mà ông tin là đúng. Chính vì vậy mà ngay từ khi còn là một sinh viên y khoa, trong tư cách tổng thư ký và chủ bút tạp chí “Tình Thương”, ông đã dấn thân vào nhiều việc chẳng những đã làm cho ông sao lãng việc học hành, mà còn mang đến ông nhiều hệ lụy.
Để cho chính quyền miền Nam có cái nhìn đúng đắn hơn trong việc đối xử với hơn 30 sắc dân thiểu số ở vùng Tây Nguyên, ông hoàn tất tác phẩm “Vòng Đai Xanh”, nhưng liền sau đó những bài viết, những truyện ngắn trên tờ báo Trình Bày đã khiến cho ông phải ra hầu tòa.
Tôi tin rằng những năm tháng chiến tranh, trong tư cách y sĩ của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, có dịp sống với rất nhiều binh sĩ thuộc các sắc dân Thượng, họ là những chủ nhân nguyên thủy của vùng Tây Nguyên, và ông đã không an tâm khi phát giác quá nhiều lỗ hổng trong đường lối cai trị hành chánh của miền Nam, và lên tiếng báo động trong tư cách nhà văn bằng một tác phẩm văn chương. Trong cách nhìn của một y sĩ, Tây Nguyên chính là “lá phổi” của quốc gia, lá phổi này đang có những vết nám lớn tạo bởi con người. Và dường như cho tới bây giờ vết nám đó càng rõ nét hơn với cách cai trị tàn bạo của chế độ Cộng sản ở trong nước, với sự chiếm đọat đất đai của các di dân từ miền Bắc, cộng với sự khai thác bauxite kéo theo sự xâm nhập của các đội quân lao động Trung Quốc, tất cả đã và đang tiếp tục hủy hoại toàn vùng Tây Nguyên. Cần phải thay đổi cách nhìn cũng như phải nỗ lực trong nhiều thế hệ để cứu nguy vùng địa bàn chiến lược này.

Tôi không biết cơ duyên và động lực nào đã khiến cho nhà văn Ngô Thế Vinh quan tâm tới vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Chỉ biết rằng năm 1999, với tác phẩm đồ sộ hơn bẩy trăm trang: “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng” ông lên tiếng báo động cho con sông Cửu Long, cái “đại động mạch” của miền Nam nước Việt, đã bị những con đập thượng nguồn của Trung Quốc làm nghẽn lại. Hơn mười năm đã qua đi, lời báo động của ông dường như chưa về tới quê nhà. Tiếp đó, Ngô Thế Vinh đưa ra một lời kêu gọi thống thiết hơn trong tác phẩm “Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch”, mà ở đó để thấy tận mắt, nghe tận tai, ông đã có nhiều chuyến đi tìm tới thượng nguồn của dòng sông Cửu Long. Tuy không gian truân đến nỗi táng mạng Đoàn Thám hiểm người Pháp Doudart De Lagrée Francis Garnier vào những năm cuối thế kỷ 19, nhưng sự nguy hiểm mà nhà văn Ngô Thế Vinh phải trải qua chưa hẳn đã kém. Các nhà thám hiểm người Pháp đến để khai phá vùng đất bán khai, với súng ống tối tân, nên vì đó mà cung tên giáo mác của dân bản địa không làm họ chùn bước. Khi Ngô Thế Vinh một mình lang thang ở Trung Lào, ông không còn là một y sĩ ba chục tuổi, đội nón xanh của Lực Lượng Đặc Biệt, mà đã xa tuổi trung niên trong tay không một tấc sắt, không một bạn đồng hành ngoại trừ người tài xế lái chiếc xe thuê từ Vạn Tượng. Thế mà thấp thoáng trong rừng chiều, ông nhìn thấy những toán lính đa sắc phục, súng ống đầy mình nghênh ngang giữa rừng núi chập chùng.
Để có thể quan sát tại chỗ những con đập thượng nguồn, ở Vân Nam ông đã lặn lội tới chân con đập Mạn Loan, mà chính những người dân bản địa cũng không biết và cả bị cấm lai vãng. Những con đập này đã và đang là vấn đề nóng bỏng, nhậy cảm cho chính Trung Quốc, và vì vậy ông có thể bị bắt, bị gán cho tội danh làm gián điệp, như nhà văn Anthony Grey tác giả của cuốn Saigon, đã bị Trung Cộng bắt bỏ tù hai năm trước khi phóng thích, vì đã đến đây tìm tài liệu cho một cuốn sách.
Những con đập này tích lũy nước của dòng sông vào những hồ chứa khổng lồ, nên vì vậy mà ở hạ nguồn, diện tích Biển Hồ của Cam Bốt ngày càng thu hẹp, thay vì 12,000 km2 trong mùa nước lũ, chỉ còn 2,500 km2 mùa khô, và vùng Đồng Bằng sông Cửu Long của Việt Nam, nước biển đã nhiều lần cao hơn nước sông, đã tràn vào khiến cho vùng sinh thái ở đây bị nhiễm mặn.
Tôi đã bất bình khi được xem “Mê Kông Ký sự”, một bộ phim nhiều tập được đoàn làm phim của hệ thống truyền hình Việt Nam, với những phương tiện của quốc gia, tìm đến tận đầu nguồn của con sông, rồi theo dòng chẩy xuôi qua bẩy quốc gia Tây Tạng, Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt trước khi nhập vào lãnh thổ Việt Nam, rồi đổ ra Biển Đông với chín cửa bể để có tên “Cửu Long”. Qua bộ phim hơn 20 tập này, không thấy một ai trong đoàn nhắc tới các con đập bậc thềm Vân Nam chắn ngang dòng chính khúc thượng nguồn sông Mekong. Lẽ ra với chút ý thức về môi sinh, đoàn làm phim không thể không hướng ống kính vào các con đập này, nói với người dân nước Việt về những tai họa nó sẽ gây ra ở phía hạ nguồn. Và có khi nào đoàn làm phim này nghĩ tới những dòng sông nhỏ của Việt Nam hiện đang ngộp thở bởi cách xây dựng những đập thủy điện nhỏ ở khắp mọi nơi. 
Ngô Thế Vinh cũng đã đến với Tràm chim Tam Nông, để ngậm ngùi thấy những cánh hạc Đông phương hay còn gọi là những con sếu đầu đỏ càng ngày càng khan hiếm. Ông cũng đến thăm trường đại học An Giang, trường đại học Cần Thơ, để biết được chương trình giảng dậy các trường đại học này dường như không phù hợp lắm với vùng đồng bằng lúa nước, và là vựa lúa cho toàn bộ miền Nam cũng như nước Việt, trong một thời gian không xa sẽ trở thành một quốc gia có một trăm triệu dân. Từ 7 năm trước đây, ông đã có một tầm nhìn xa khi đề nghị thiết lập một Phân khoa Sông Mekong cho Đại Học Cần Thơ. Và mới đây, cũng vẫn lời kêu gọi ấy “Cần có Phân khoa Mekong cho Đại Học Cần Thơ” một lần nữa được nhắc đến trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần số ngày 30/08/ 2009. 

Nhà văn Ngô Thế Vinh đối với tôi không phải là một bác sĩ chỉ chuyên chẩn bệnh cho con người. Ông còn là người bắt mạch cho những dòng sông, tìm cách và kêu gọi mọi người bảo vệ sự khai thông của những dòng sông mà điển hình là con sông Mekong đang là “mạch sống” của hơn 60 triệu cư dân sống ven sông mà giờ đây vì hoàn cảnh lịch sử, vì những cái nhìn hạn hẹp cho những lợi ích ngắn hạn, đã và đang làm nhiều khúc sông bị nghẽn mạch.

HOÀNG KHỞI PHONG
Tác giả “Người Trăm Năm Cũ
08/2010
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1367)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4883)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
31 Tháng Ba 20207:18 CH(Xem: 572)
NGÔ THẾ VINH Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ “Cây Cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi" và vào mấy năm cuối đời, như một Di Chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho: “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước. Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh. Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.
30 Tháng Ba 20206:04 CH(Xem: 513)
Em hớ hênh thèm một miếng thương / Để anh dáo dát đụng chân giường / Ngoài kia dẫu dịch tràn như sóng / Anh vẫn chết chìm trong mắt em. /
30 Tháng Ba 20205:57 CH(Xem: 394)
tháng hai, tháng ba ta trở về / chiều đi lên đồi nghe mùi của đất bốc lên thoang thoảng / lá vây quanh và mây xanh trên đầu / mớ ký ức vẽ hình vòng cung /
28 Tháng Ba 20206:12 CH(Xem: 753)
Ban đầu, ông thấy người gai gai, sốt, chán ăn. Bụng bảo dạ, nhẽ mình lao động hơi quá sức. Chả là vừa tập Gym hồi đêm về sáng trên máy bay với Hải Yến xong, thì tối hôm đó lại về sân hàng chiếu ở Times city thi đấu cả đêm. Bắt buộc phải cả đêm, bởi nếu không thì khó mà sống với phòng nhì đang kỳ lửa nồng được. Dù ông biết thân trước khi lâm trận, đã viện đến bao nhiêu sự trợ giúp, ngay cả từ lúc mới xuống sân bay kia. Thế nên đêm đầu về nhà cũng làm cho em Thuận mãn nguyện. Những đêm sau thì phải cố, cũng qua bài. Gặp mặt Hội 3G, tay bắt mặt mừng ôm hôn thắm thiết, mừng công trình rực rỡ để đời đã hoàn thành. Mừng cú tuyệt tác one in hole trên chín tầng mây, thật là độc nhất vô nhị! Nhưng mấy hôm tiếp theo đi họp hành, tiệc tùng chiêu đãi nhiều thấy mệt mỏi. Càng ngày càng thấy người ốm tệ. Sốt, ho, khó thở... Hay là nhiễm cúm virus corona? Em Thuận hoảng hốt vội gọi xe đưa vào viện khám. Xe đưa ông Nam vừa đi thì cũng có xe khác đến đưa ngay cả hai mẹ con đi cách ly chống dịch.
26 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 498)
Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).
25 Tháng Ba 202010:33 CH(Xem: 499)
Ơi bạn ta / Trong mỗi căn phòng cách ly / Hãy quán chiếu về sự chết / Hãy mở cánh cửa thâm u đã từng khóa chặt / Hãy mĩm cười về phía biển xanh / Sóng vẫn chập chùng pháp âm vô lượng nghĩa.
25 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 548)
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh...
25 Tháng Ba 20209:25 CH(Xem: 619)
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.