- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
265,301

Tình Yêu Như Trái Phá

29 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 11613)

hopluu99-266w_0_300x183_1

Dịch thuật

TÌNH YÊU NHƯ TRÁI PHÁ 

 

 Trên tạp chí mạng Da Màu ngày 02.04.2010, có đăng bài ca từ Tình sầu của nhạc sĩ kiêm thi sĩ Trịnh Công Sơn và bản dịch tiếng Anh Meditations in love của Đinh Từ Bích Thúy. Tiếp theo là phản hồi của nhiều độc giả, kể theo thứ tự thời gian: Nguyễn Đức Tùng, quynh du, T.T., ActionMinded, phaitran, Trinh - Trung Lap, Điền L., Thái Kim Lan. Sau đó, ngày 20.04.2010, đăng thêm bài góp ý của Bùi Vĩnh Phúc dưới nhan đề Tình Yêu & Con Tim trong Tình sầu của Trịnh Công Sơn: một thoáng dư ba (góp ý với Đinh Từ Bích Thúy và Thái Kim Lan), kèm theo phản hồi của ba độc giả khác là Trần Nguyên Đán, Lũy (hai lần) và phan ngọc, cộng với thư trao đổi (thân tình) giữa tác giả BVPh và dịch giả ĐThBTh.

 

Trọng điểm

 Các lời bình luận và góp í của độc giả, tựu trung, đều xoay quanh hai trọng điểm kể sau:

 * í nghĩa hai vế của nguyên tác: Tình yêu như trái phá

 con tim mù lòa.

 * bản dịch câu ca từ nói trên : Love as an artillery shell that blinds the heart.

 Nguyên tác trích dẫn trên đây chép theo dịch giả đăng sau bản dịch: mỗi vế một hàng, giữa hai vế không có dấu phẩy dấu chấm, vế sau chữ đầu không viết hoa, cuối câu có dấu chấm.

Về bản dịch 

Thay cho từ ghép artillery shell, Nguyễn Đức Tùng và quynh du đề nghị « ‘’trái phá‘’ nên dịch là ‘’grenade‘’ », còn T.T. thì là ‘’smoke grenade‘’ và Điền L. ‘’exploding shell’’, trong khi ActionMinded trực tiếp khen ngợi: « ĐTBT dịch trái phá sang artillery shell là đúng cả ý lẫn từ. », còn phaitran (« Tình yêu như lựu đạn nghe bậy bạ quá các vị ơi. ») và Trinh - Trung Lap ( «… dịch phẩm này của chị Bích Thúy sẽ quảng bá () Nhạc Trịnh ») một cách gián tiếp.

Riêng Thái Kim Lan thì không màng bàn tới từ này hay từ kia, bởi chị không hiểu hai vế của nguyên tác như họ, kể cả dịch giả, đã hiểu và đã dịch, dầu chữ dùng của họ có khác nhau. Và Bùi Vĩnh Phúc trong bài viết sau đó cũng tỏ í tán đồng cách hiểu của chị.  

Í nghĩa

Theo Thái Kim Lan thì giữa hai vế của nguyên tác « không có liên hệ nhân quả kỉểu ‘’trái phá‘’ là nguyên nhân làm ‘’mù lòa‘’ con tim. ». Chị « thiển nghĩ Trịnh Công Sơn nói - hay hát - hai điều mà ta tưởng một nhưng là hai: bản chất của tình yêu và thiên chất (nature) của trái tim. ». Bằng cớ là « trong bản nhạc viết tay của Trịnh Công Sơn mà (chị) có lần đọc, ở giữa hai câu (= vế) – hai câu chứ không phải một câu kép – () là một dấu nghỉ bằng một phách rưỡi. » Cho nên chị chép (lại) nguyên tác như sau: « Tình yêu như trái phá. Con tim mù lòa. » - xin chú í: giữa hai vế trích dẫn có dấu chấm.

Còn Bùi Vĩnh Phúc, trong bài góp í (khá dài) với cái tựa đề (khá dài) nói trên, sau khi đà trích dẫn (khá dài) nhà thơ xứ Libăng Khalil Gibran (đầu thế kỉ XX), nhà văn Anh quốc Thomas Carlyle (thế kỉ XIX) và hoàng đế La mã Julius Caesar (thề kỉ I tcn), thì rạch « một dấu gạch chéo giữa hai hình ảnh nói về ‘’tình yêu‘’ và ‘’con tim’’, vì, trên đại thể, (ông) cũng có suy nghĩ như chị Thái Kim Lan… ». Rồi chép (lại) nguyên tác như sau: Tình yêu như trái phá / con tim mù lòa – xin chú í: giữa hai vế không có dấu chấm, mà có dấu gạch chéo tượng trưng.

Và cuối cùng, họ (ThKL + BVPh) đã thuyết phục được dịch giả (ĐThBTh). Trong thư trao đổi giữa Đinh Thị Bích Thúy và Bùi Vĩnh Phúc, ngày 23.04.2010, dịch giả viết: « Theo đề nghị của anh và chị Thái Kim Lan, Thúy sẽ sửa câu đầu trong bản dịch ‘’Tình sầu‘’ thành : Love as an artillery shell. The heart is blind. » Xin chú i: giữa hai vế có dấu chấm, nghĩa là, nói như Thái Kim Lan, không có liên hệ nhơn quả giữa trái phá và con tim mù lòa.

Thiển kiến

Chúng tôi không có cái hân hạnh được nhìn thấy bản nhạc viết tay của Trịnh Công Sơn và thấy giữa hai vế ‘’có dấu nghỉ bằng một phách rưỡi’’ (1) như Thái Kim Lan, và cũng không có cái diễm phước được đọc nhiều biết rộng qua các tác phẩm từ cổ chí kim như Bùi Vĩnh Phúc. Thành thử thiển kiến (thiển, với dấu hỏi) chúng tôi sắp trình bày dưới đây chỉ dựa trên văn bản in trên hai cuốn sách ấn hành mấy năm qua và do chính dịch giả ghi chép sau bản dịch, và, đồng thời, trên cách diễn đạt của người Việt chúng ta. 

Trong hai cuốn sách, một là tập Một cõi Trịnh Công Sơn (Nxb Thuận Hóa liên kết với Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây – 2002) do Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha và Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên soạn, và hai là tập Trịnh Công Sơn, vết chân dã tràng của Ban Mai (Nxb Lao động liên kết với Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây – 2008), chúng tôi đọc thấy câu đầu bài ca từ Tình sầu in như sau:

* tập đầu (tr. 609): Tình yêu như trái phá, con tim mù lòa.   

Giữa hai vế có dấu phẩy, cuối câu không xuống hàng có dấu chấm.

* tập sau (tr. 425): Tình yêu như trái phá

  Con tim mù lòa

Mỗi vế một hàng, chữ đầu vế sau viết hoa như các câu tiếp theo khác, không có dấu chấm dấu phẩy.

Căn cứ trên cách xếp câu vừa trích và của dịch giả, thì khi Thái Kim Lan đánh dấu chấm giữa hai vế và Bùi Vĩnh Phúc phân chia hai vế bằng gạch chéo để chứng tỏ và biện minh cho lối diễn dịch của mình, chúng tôi thấy có chút gì giả tạo, gò ép trong cách chấm, gạch của họ. Vì rằng, cứ lần lượt đọc hết các câu đầu (hai vế của nó có xuống hàng hay không) của tám đoạn ca từ mà xem. Hãy nhẫn nại đọc từng câu một: Tình yêu như vết cháy trong da thịt người (đoạn 2), Tình yêu như trái chín trên cây rụng rời (đoạn 3), Tình yêu như thương áo quen hơi ngọt ngào (đoạn 4), Tình yêu như nỗi chết cơn đau thật dài (đoạn 5), Tình yêu cơn bão đi qua địa cầu (đoạn 6), Tình yêu cho anh đến bên cơn muộn phiền (đoạn 7), Tình yêu đốt sáng con tim tật nguyền (đoạn 8), ắt nhận thấy rõ rằng hai vế của mỗi câu đều có liên hệ mật thiết với nhau, không bị chia cắt, không bị tách rời. Câu Tình yêu như trái phá con tim mù lòa (đoạn 1) không nằm ngoài nhận xét này.

 Thế cho nên khi dịch giả, bị/được thuyết phục, ‘’sửa lại câu đầu () thành: Love as an artillery shell. The heart is blind.’’, thì, đơn thuần về mặt câu cú (không đụng tới í nghĩa, dầu chẳng phải là không có điều gì để bàn), dấu chấm ngăn cách hai vế đặt vào toàn bộ tám câu giáo đầu trích dẫn trên đây và của bản dịch bỗng nhiên hóa nên khúc mắc, cồm cộm như có hột sạn lọt vô trong giày khi ta rảo bước. Và lạc lõng giữa bài ca từ.

Diễn đạt Đông/Tây

Gần bốn mươi lăm năm trước, vào tháng 12/1966, khi chuyển dịch xong truyện kể La Chute (Sa đọa – 1954) của nhà văn Pháp Albert Camus (1913-1960), chúng tôi có bộc bạch như sau: « Trong công trình này, chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp khó xử: người Việt nam ít khi biểu lộ những thực tại vô hình bằng những khái niệm trừu tượng, mà thường gợi ý qua nhiều cách nói vận dụng hình ảnh cụ thể. Mà ép buộc dùng hình ảnh cụ thể lại khó bề bám sát ý nghĩa của từ ngữ trừu tượng. Gặp những trường hợp tương tợ, chúng tôi đã không ngại tùy cơ ứng biến, cốt sao vừa diễn tả được trọn vẹn những ý niệm phát biểu. » (trích bản tiếng Việt) (2)

Nhắc qua khó khăn gặp phải trong công trình chuyển dịch tiếng Pháp (nghĩa là cách diễn đạt của người Pháp và, nói chung, của phương Tây) ra tiếng Việt (nghĩa là cách diễn đạt của người Việt và, nói chung, của phương Đông) cốt để lưu í bạn đọc rằng công trình chuyển dịch ngược lại, từ Đông sang Tây, cũng mắc phải khó khăn tương tự.

Trong câu Tình yêu như trái phá con tim mù lòa của Trịnh Công Sơn, có thể xem, theo cách diễn đạt của người phương Đông, trái phá ở đây chỉ là hình ảnh cụ thể biểu lộ khái niệm phác họa sự thể vừa inh tai vừa tác động mạnh chẳng ai cưỡng nổi và, trong trượng hợp này, khiến cho con tim bị mù lòa về thể chất lẫn tình cảm. Trái với cách diễn dịch của Thái Kim Lan và của Bùi Vĩnh Phúc đã thuyết phục (được) dịch giả Đinh Từ Bích Thúy, hai vế câu ca từ có quan hệ mật thiết với nhau chớ không tách rời nhau. Bởi nó là một (chữ của Thái Kim Lan), nói lên nhận xét muôn đời về tình yêu muôn thuở, không pha trộn triết lí, không đượm màu tôn giáo.

Chắc vì không nghĩ tới cách diễn đạt khác nhau giữa phương Đông và phương Tây nên đại đa số các vị độc giả và dịch giả đã luận giải với nhau về chỗ trái phá là thứ bom đạn gì, thể như phải dịch sát nghĩa đúng với thứ bom đạn đó thì bản dịch mới đạt. Rồi thì bảo phải dịch khi là grenade (lựu đạn), khi là smoke grenade (đạn khói) hay exploding shell (đạn pháo), còn dịch giả thì tra tự điển tìm coi nó mặt mũi ra sao để dịch là artillery shell, cho rằng từ ghép này ‘’có vẻ chính xác và rộng hơn từ ‘grenade‘’’. Họ bàn cãi với nhau như vậy xem ra có phần vô tích sự, không tác dụng, không lợi ích, bởi đây là một câu văn hư cấu chớ đâu thuộc loại khoa học.

Là bởi trái phá trong câu ca từ chỉ là hình ảnh cụ thể phác họa một í niệm chớ không một vật thể đặt định nào. Trái phá ở đây dịch là artillery shell, hay grenade, hay smoke grenade, hay exploding shell, hay một từ khác chỉ định bom đạn thì cũng có í nghĩa tượng trưng ngang nhau. Nhưng nếu như chuyển nó bằng một từ nào thích hạp với cách diễn đạt bản năng của người phương Tây thì chắc dễ được họ tiếp thu một cách thấm thía hơn. Chẳng hạn sử dụng í niệm coup de foudre của Pháp, hoặc love at first sight (hay coup de foudre lấy nguyên xi tiếng Pháp) của Anh và Mĩ - cả hai đều hàm nghĩa sét đánh giống như chúng ta đã nhại theo tiếng Pháp Và chắc còn nhiều từ/thành ngữ sở tại và cách diễn đạt khác nữa mà chúng tôi không/chưa nghĩ ra, mà bạn đọc sành Anh ngữ và Mĩ ngữ đã nghĩ tới rồi.

Tạm kết

Trở lên trên là những í kiến sơ đẳng, nhưng đã được tôi luyện qua kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy và chuyển dịch Pháp->Việt, Việt->Pháp và Pháp->Anh, Anh->Pháp. Tuy chỉ chạm tới những chi tiết nhỏ nhặt, nhưng chẳng phải vì vậy mà không liên quan tới những vấn đề khái quát.

Dịch thuật vốn là một công việc trần ai, ngoại trừ lối dịch cẩu thả và lấy có, kể cả của mấy dịch giả danh tiếng, thường thấy trên thị trường của chúng ta hiện nay. Cho nên câu chuyện sẽ còn dài và còn lâu mới (chưa chắc) chấm dứt. (3)

 

TRẦN THIỆN - ĐẠO

(Paris, 03/05/2010)

--------------------------

(1) Dấu nghỉ bằng một phách rưỡi trong âm nhạc không nhứt thiết tương đương với dầu chấm trong văn chương.

(2) Còn đây là bản tiếng Pháp: La mise en vietnamien du texte d’Albert Camus où l’abstrait abonde, nous en avons fait l’expérience, est très délicate. Aussi avons-nous souvent été partagé entre le souci de la discipline de traduction que nous avons essayé de respecter en cherchant le mot juste et le souci d’une forme vietnamienne naturelle, dans la mesure où celle-ci permet d’exprimer, en sa totalité, la pensée de l’auteur, sans pour cela nuire au style élaboré de l’œuvre. (Albert Camus, Sa đọa - Trần Thiện-Đạo phiên dịch, giới thiệu và chú giải – Nxb Giao Điểm, 1972 - tr. 228-229).

(3) Trần Thiện-Đạo, Cái tật khôn chừa – Phê bình dịch thuật (Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây sắp ấn hành).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Bảy 20227:53 CH(Xem: 1842)
Truyện Kiều ra đời đã hơn hai thế kỷ của đại thi hào Nguyễn Du đã làm say mê bao trái tim người đọc nhiều thế hệ kể cả trong và ngoài nước. Đã có rất nhiều cây bút phê bình, thưởng lãm hướng đến áng thơ tuyệt tác này. Hãy cùng khám phá tác phẩm vừa mới xuất bản của một nữ lưu xứ Huế – Ninh Giang Thu Cúc – viết về Truyện Kiều có tựa đề Đọc Kiều thương khách viễn phương NXB Văn hóa văn nghệ quý II năm 2019.
15 Tháng Sáu 20222:18 SA(Xem: 1801)
Nếu ai đã đọc "Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa", chắc chắn đều bày tỏ sự thán phục đối với tác giả, tôi cũng vậy. Tác giả NTV đã đem tấm lòng thành cùng với nhiệt tâm thu thập dữ liệu về các nhân vật nói tới trong sách, cùng với các hình ảnh ghi dấu cuộc đời bể dâu của họ. Tuồng như tôi thấy họ sống lại thêm một lần nữa. Thật vậy, khi nhìn thấy hình ảnh một nhà văn quen biết ra đi từ lâu, và qua lời kể chuyện của tác giả, tôi xúc động biết bao, tưởng chừng như người ấy vẫn ở đâu đó, chưa một lần vĩnh biệt.
18 Tháng Ba 202210:50 CH(Xem: 2426)
Cuốn To Our Grand Children with Love độc đáo ở chỗ là người cầm nó trên tay không phải là một độc giả mà chính là đồng tác giả với hai vị chấp bút: Giáo sư tiến sĩ Nguyễn-Lâm KimOanh và luật sư tiến sĩ Lưu Nguyễn Đạt. Vì thế, đây không phải là một “cuốn sách” theo định nghĩa, hình thức và nội dung thông thường. Tiểu đề của tập sách này cho thấy đây là một “công trình”, một sự hợp tác giữa thế hệ ông bà và thế hệ các cháu, bắt đầu từ ông bà, những người từng sống qua nhiều chặng đường lịch sử và địa lý, muốn kết nối với thế hệ Việt Nam trẻ, sinh trưởng và lớn lên ở Hoa Kỳ.
18 Tháng Ba 20229:06 CH(Xem: 2060)
Tuyển tập II ra mắt vào tháng 2 năm nay, gồm chân dung của 15 văn nghệ sĩ và nhà văn hóa: Nguyễn Tường Bách và Hứa Bảo Liên, Hoàng Tiến Bảo, Tạ Tỵ, Trần Ngọc Ninh, Lê Ngộ Châu, Nguyễn Văn Trung, Dohamide, Lê Ngọc Huệ, Nghiêm Sỹ Tuấn, Đoàn Văn Bá, Mai Chửng, Trần Hoài Thư và Ngọc Yến, Phan Nhật Nam, John Steinbeck cộng thêm phần phụ lục Con đường sách Sài Gòn và Câu chuyện đốt sách.
07 Tháng Ba 202212:49 SA(Xem: 2228)
Tuyển tập II - Chân dung văn học nghệ thuật và văn hóa" là một công trình mới của Nhà văn Ngô Thế Vinh, giới thiệu 15 văn nghệ sĩ và nhà văn hóa thành danh thời trước 1975 ở miền Nam Việt Nam. Những tác phẩm, chân dung và chứng từ trong tuyển tập này minh chứng cho một nền văn nghệ nhân bản, năng động và đột phá đã bị bức tử sau biến cố 30/4/1975. Do đó, tuyển tập là một nguồn tham khảo quý báu về di sản của nền văn nghệ và giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa.
27 Tháng Mười Hai 20217:22 CH(Xem: 2936)
Tôi vẫn có thói quen chờ đợi vào những ngày giờ trước Giáng Sinh. Hồi còn bé ở Sài Gòn, bao giờ thì “điều gì đó” dẫu lớn hay nhỏ cũng đến, khiến lòng mình rộn ràng. Lần cuối cùng tôi biết háo hức chờ đợi là ngày mở bao thiệp giáng sinh chàng gửi với tấm thiệp in hàng chữ: “It’s time for you to make amends....” và chữ ký dưới “Merry Xmas” như một lần nữa xác nhận anh đang “break up” với tôi. Hôm nay, một ngày trước Giáng Sinh, trời mưa dầm dề cả ngày, mở cửa lấy xấp thơ vào nhà mắt vẫn cay khi giục các bao thiệp giáng sinh vào sọt rác, tôi thấy có bao thơ lạ từ xứ lạ. Mở bao bì, bìa tập thơ màu xám trắng như nỗi buồn trong cơn mưa khiến mắt tôi dừng lại ở dòng tựa: Chiều Tình Yêu.
15 Tháng Tám 202110:45 CH(Xem: 5362)
Cuốn thơ song ngữ có tên là “Các Bài Thơ Việt Nam Khó Quên – Unforgettable Vietnamese Poems” của Hương Cau Cao Tân đến với tôi vào những ngày đầu Xuân giữa mùa đại dịch. Sách khá dầy, khoảng 300 trang, trình bầy trang nhã, mỹ thuật, những trang thơ Việt-Anh in song hành dễ dàng đối chiếu. / Sách gồm 100 bài thơ Việt và 100 bài thơ chuyển dịch sang Anh ngữ. Tác giả đã chọn ra 16 nhà thơ nổi tiếng và lựa ra những bài mà tôi chắc rằng nhiều độc giả đã từng ưa thích. Tôi tạm chia các nhà thơ ra từng thời kỳ để dễ cảm nhận những dòng thơ này: Thời kỳ Văn Nôm: Bà Huyện Thanh Quan, Trần Tế Xương. / Thời kỳ Tiền Chiến: Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, T.T. Kh., Vũ Đình Liên, Xuân Diệu. / Thời kỳ Kháng chiến: Hữu Loan, Quang Dũng. /Thời kỳ Đất nước chia đôi: Nguyên Sa, Phùng Quán.
04 Tháng Tám 202111:36 CH(Xem: 4209)
Thỉnh thoảng tôi dọn sách vở xem cuốn nào cần giữ, cuốn nào mang cho, và đặc biệt là cuốn nào cần gửi trả khổ chủ kẻo lỡ quên đâm mang tiếng. Thuộc vào số ít sách phải gửi lại khổ chủ, tôi tìm thấy cuốn này: Vietnamese Colonial Republican – The Political Vision of Vu Trong Phung, tạm dịch là Người Việt Cộng hoà thời Thuộc địa - Viễn kiến Chính trị của Vũ Trọng Phụng, của sử gia Peter Zinoman thuộc phân khoa Sử học của Đại học California tại Berkeley. / Tôi vẫn có ý định viết bài giới thiệu tập biên khảo của GS Zinoman từ khi đọc xong, với nhiều thích thú, từ… giữa mùa đại dịch Covid vào hè năm ngoái. Bài bên dưới là lời giới thiệu khái quát tập biên khảo đã giúp tôi biết thêm rất nhiều về nhà văn Vũ Trọng Phụng vốn khá độc đáo của nền văn học tiền chiến, nay càng thêm (có thể nói là) độc nhất như một tay “tiền trạm” của chủ nghĩa cộng hoà tại Việt Nam dưới cái nhìn của sử gia Zinoman.
04 Tháng Tám 20218:53 CH(Xem: 4325)
Từ những ngày còn trẻ chưa biết lo là gì tôi đã tình cờ đọc tập thơ “Ngày Sinh Của Rắn” của nhà thơ Phạm Công Thiện, mà trong đó không biết vì sao tôi cứ nhớ mãi câu thơ này, “Cửu Long ca từ Tây Tạng!” Cũng từ đó Sông Cửu Long không bao giờ ngừng chảy trong ký ức của tôi. Và bây giờ tôi nhận được cuốn “Mekong – Dòng Sông Nghẽn Mạch” của nhà văn Ngô Thế Vinh như một tình cờ kỳ lạ mà tôi có với dòng sông lịch sử này.
03 Tháng Ba 202112:07 SA(Xem: 5320)
“Vòng Đai Xanh” của Ngô Thế Vinh được xem là một tiểu thuyết chiến tranh, được viết rất thực bởi một quân y sĩ xông pha ngoài trận tuyến. Cuộc chiến tự vệ của người dân Miền Nam chống xâm lược của Cộng Sản Miền Bắc kéo dài đến 15 năm (1960-75), nếu không nói đến hoạt động khủng bố, phá hoại 2-3 năm trước khi chiến tranh chính thức khai mào, cho nên chúng ta không thiếu những tác giả viết về cuộc chiến đó, cảm khái từ những mất mát, đổ vỡ, tan hoang của con người, của tuổi trẻ, của gia đình, của xã hội, của đất nước vì chiến tranh.