- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Cảm Nghĩ Về Phim ' The Hurt Locker'

10 Tháng Ba 201012:00 SA(Xem: 131482)

hinh_1_0_193x300_1Hè vừa qua trên đường từ Paris về lại Mỹ, tôi ghé thăm chị bạn ở Virginia trước khi về lại bờ biển miền Tây. Chị bạn đã gần 80. Lần cuối gặp chị khoảng... 15 năm về trước lúc tôi còn làm việc ở Stockton, California, và tôi đã đưa chị đi chơi cùng khắp miền Bắc Cali, đã cùng nhau ôn lại kỷ niệm về các sinh hoạt điện ảnh có với nhau ở Sàigòn trước cuộc đổi đời 1975. Ghé thăm chị lần này vì không biết có còn lần tới. Tôi hình dung những buổi đi viếng các thắng cảnh thủ đô Hoa Thịnh Đốn, đặc biệt Đài Tử Sĩ Chiến Tranh Việt Nam mà lần nào ghé thủ đô tôi cũng tới viếng, và các viện bảo tàng mà tôi chưa có dịp đặt chân tới, đồng thời tâm sự thả giàn với nhau, có thể là lần chót. Chị kêu chân đau không đi bộ được lâu. Rút cục trong vài ngày ở chơi với chị, chúng tôi... chui vào rạp xi-nê cả thảy ba lần.

 

Một trong những lần đó là để xem phim The Hurt Locker. Lâu nay ít theo giõi sinh hoạt điện ảnh nên tôi không có ý niệm gì về cuốn phim này. Khi phim bắt đầu chiếu và biết đó là một phim về cuộc chiến ở Iraq, tôi ngán ngẩm trong bụng. Từ gần 10 năm nay tôi đã thấy và nghe rất nhiều về cuộc chiến này. Như nhiều người Mỹ, tôi không đồng ý việc Hoa Kỳ đem quân vào Iraq, và nghĩ chúng ta nên tập trung vào Afghanistan, giúp xứ này thành một gương mẫu về dân chủ và phát triển kinh tế, và đặc biệt vận động cho quyền được đối xử và sống bình đẳng của giới phụ nữ tại nước này.

 

Song, cũng như nhiều người Mỹ, tôi ủng hộ những người lính đang chiến đấu tại Iraq. Tôi xúc động, đôi khi muốn ứa nước mắt nữa, khi nhìn thấy trên truyền hình những người lính trẻ bị cụt tay cụt chân, có người bị thương và liệt não nằm đó, bên cạnh người vợ trẻ và lũ con thơ, hay những người cha người mẹ lẽ ra phải được thảnh thơi sống đời của mình ở cuối đời nhưng nay phải cưu mang người con thương phế. Mỗi khi chương trình Newshours của PBS chấm dứt bằng vài phút chiếu hình và tên tuổi của những người lính vừa tử trận ở Iraq hay Afghanistan, tôi ngưng mọi việc đang làm để theo giõi, nhẩm đọc tên, tuổi, cấp bậc, tỉnh và tiểu bang, và nơi họ hy sinh, với ý nghĩ để họ không chỉ là những con số, và với niềm kính cẩn pha lẫn chua xót. Tôi thấy bất nhẫn khi nghe đôi người quen phát biểu, cho rằng những người lính này đã tình nguyện chọn quân ngũ vì những đặc quyền đặc lợi, thì có chết người thân của họ cũng không nên than trách, vv.

 

Nhưng tôi bị lôi cuốn vào chuyện phim The Hurt Locker lúc nào không hay, mặc dù chị bạn tôi nửa chừng cuốn phim đứng dậy bỏ ra ngoài ngồi chờ tôi, có lẽ vì cảnh trong phim nhiều chỗ quá căng thẳng cho một người ở tuổi chị. Tôi cũng tự hỏi làm sao mình có thể ngồi lại theo giõi đến phút chót và sau đó bắt gặp mình suy nghĩ nhiều về cuốn phim. Tôi cũng ngạc nhiên một cách thích thú khi thấy ở cuối phim ghi đạo diễn là một phụ nữ, Kathryn Bigelow. Phải chăng vì đề tài chiến tranh khi vào tay một phụ nữ, nhất là một người có tài và xuất thân là một họa sĩ vốn nhạy cảm, đã được khai triển một cách tế nhị, thấm đượm tình thương (compassion), và do đấy nhân bản hơn? Tôi không biết rõ lắm, chỉ biết là mình tiếp thu cuốn phim với niềm xúc cảm gần như thiêng liêng, như mỗi lần được thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật chân tuyền.

 

Khi The Hurt Locker được chọn là một trong 10 phim vào sơ kết giải điện ảnh cao quý Oscar năm nay, rồi vượt lên đứng ngang hàng trong kỳ chung khảo với cuốn phim Avatar -- cuốn phim đã thu về số tiền kỷ lục 2 tỉ Mỹ kim, cao nhất trong lịch sử điện ảnh, của đạo diễn James Cameron (cũng là chồng cũ của đạo diễn Locker) -- tôi có linh cảm là Locker sẽ thắng, mặc dù số thu ngoài rạp rất khiêm tốn, chỉ có trên 21 triệu Mỹ kim. Xem Avatar, một chuyện khoa học giả tưởng, với dàn cảnh vĩ đại tốn kém (230 triệu Mỹ kim, so với 11 triệu của Locker), và khá quyến hoặc với kỹ thuật 3D, có nhiều phần được cấu tạo bởi kỹ thuật vi tính, mang chủ đề thiên về bảo vệ môi sinh -- một quan tâm đặc biệt của tôi --, tôi thấy tâm hồn mình như được trải ra, nâng cao, hướng thượng. Song, khác với Locker, Avatar giúp giải trí tôi nhiều hơn là khiến tôi phải suy tư. 

 

Quả như tôi linh cảm, ngày 7 tháng 3 vừa qua, cũng tình cờ là một ngày trước Ngày Phụ Nữ Quốc Tế thứ 99, lần đầu tiên Hollywood trao vương miện cho một nữ đạo diễn. Ngoài hai giải Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất và Phim Hay Nhất, The Hurt Locker còn chiếm thêm bốn giải nữa: gồm Truyện Phim Hay Nhất, Nam Diễn Viên Xuất Sắc Nhất, Hình Ảnh Đẹp Nhất, và Ráp Nối Hay Nhất. Một bài báo đã so sánh việc Locker đánh bại Avatar như anh tí hon David thắng chú khổng lồ Goliath xưa. Một bài báo khác đã diễn tả là nữ đạo diễn Bigelow đã, với Locker, phá vỡ tan tành cái trần bằng kiếng (glass ceiling) vốn lâu nay vẫn ngăn cản giới phụ nữ vươn lên trong nghề làm phim. Mặc dù trước Bigelow đã có ba nữ đạo diễn được đề cử vào chung kết giải Oscar, song đây là lần đầu tiên một phụ nữ được chọn làm Đạo Diễn Xuất Sắc Nhất.

 

The Hurt Locker là tiếng lóng trong quân đội Mỹ, phát xuất từ hồi Chiến tranh Việt Nam, chỉ tình trạng bị thương trong một vụ nổ -- "they sent him to the hurt locker", có nghĩa "họ đã chuyển anh ta vào cái hộp thương tích". Đó là câu chuyện về một đơn vị quân đội Mỹ chuyên môn đi gỡ mìn ở Iraq, với nhân vật chính là Trung sĩ William James, do Jeremy Renner đóng (được giải Oscar Nam Diễn Viên Xuất Sắc Nhất), dựa vào truyện phim (cũng đã được giải Oscar Truyện Phim Hay Nhất) do Mark Boal, một ký giả đã từng theo một đơn vị gỡ mìn ở Iraq, viết.

 

Phim đã hẳn có nhiều cảnh gỡ mìn căng thẳng đến nghẹt thở. Một trong những cảnh đó còn tiếp tục chiếm ngự trong đầu tôi, đó là lúc James gỡ cái "áo vét mìn" quấn quanh và khóa bằng nhiều khóa trên thân một người đàn ông Iraq. Chiếc đồng hồ bom báo cho biết sắp hết giờ mà James chỉ mới gỡ được có một phần hệ thống bom gài quanh người đàn ông. Người đàn ông khóc van xin anh ráng gỡ mìn khỏi thân ông ta, nói ông còn vợ con cần ông sống, và túm lấy tay James trong khi anh biết không còn kịp nữa, nói lời xin lỗi vội vàng, rồi quay lưng rút chạy đúng lúc bom nổ tung người đàn ông và chính James cũng bị sức ép của bom ủi rạp và bị vùi trong đống gạch ngói vừa bị chấn động của bom nổ đổ rớt tung tóe. James sống sót.

 

Trở về Mỹ đoàn tụ với vợ và đứa con trai nhỏ, James không thích nghi được với đời sống dân sự. Một tối nọ, anh nói với thằng con khoảng 2 tuổi, rằng chỉ có một điều anh biết là anh yêu thích. Cảnh kế đó và chót của phim cho thấy anh ta trong bộ đồ chống bom (bombsuit) đang, lưng quay lại khán giả, bước xuống một con phố hoang tàn ở Iraq, tiến tới mục tiêu quen thuộc ...

 

Tôi vẫn nghĩ cái khéo léo của một nhà sáng tạo nghệ thuật là tạo được một đoạn kết "mở", mặc khán giả tha hồ đoán non đoán già cái gì đã hay sẽ xẩy ra sau khi đóng sách lại hay xem xong một cuốn phim, mặc dù có thể không đúng với ý của tác giả. Khi Scarlett O'Hara của Gone With the Wind tất tả chạy từ nhà Ashley Wilkes sau khi Mélanie qua đời, vì khám phá ra chính Rhett Butler mới là người nàng cần, Rhett đang sửa soạn bỏ nhà ra đi. Scarlett khóc lóc van xin song vẫn không giữ được chân Rhett lại. Nàng ngồi phục xuống cầu thang, khóc một chặp, rồi ngửng đầu lên nhìn về phía trước, nói qua màn nước mắt: "Ngày mai ta sẽ nghĩ cách chiêu hồi [Rhett]. Cu ối c ùng t ất, ngày mai là một ngày khác." Đoạn kết ấy, viết từ năm 1936, đã mở đầu cho nhiều thế hệ độc giả sau đó đòi biết cái “ngày mai” đó của Scarlett, đã đưa tới ít ra hai cuốn truyện tiếp theo (sequels) và một cuốn phim, chưa kể một vụ kiện một tác giả và nhà xuất bản đã nhái và nhạo Gone With The Wind. Và vì thế mà Hemingway, tác giả A Farewell to Arms, đã viết đi viết lại tới 39 lần đoạn kết của cuốn tiểu thuyết này của ông?

 

The Hurt Locker đã kết thúc song tôi thấy tôi vẫn lặng người ngồi lại trong rạp, mặc dù biết chị bạn đang chờ ở ngoài. Tại sao Trung sĩ James tình nguyện trở lại Iraq để đi làm cái việc gỡ mìn vô cùng nguy hiểm ấy? Phải chăng vì anh ta thấy việc làm của mình có thể giúp cứu được nhiều mạng người? Tại ...? Có lẽ tôi nên ngưng tại đây về những cái "tại" này -- Tôi nhớ tới hai cuốn truyện nối tiếp của Gone With The Wind mà tôi nghĩ lẽ ra đã không nên có.

 

Mặc dù một số cựu chiến binh của cuộc chiến Iraq chỉ trích cuốn phim là "không chính xác", song đối với tôi cuốn phim đã cho thấy một góc đặc thù của cuộc chiến, rất sống động và đầy nhân tính. Người xem hiểu thêm về sinh hoạt của một đơn vị chuyên gỡ mìn, như khi xem một phim tài liệu; đồng thời cảm thông được với những người lính chuyên làm cái việc đó, qua các nhân vật và cảnh huống, mà chỉ có một tác phẩm nghệ thuật hay mới có thể truyền đạt được những cảm xúc này. Mặc dù rất thích loại phim tài liệu, song tôi nghĩ nếu Locker được thực hiện dưới hình thức một phim tài liệu (documentary) có lẽ sẽ không gây ấn tượng mãnh mẽ bằng khi đó là một phim truyện (feature film) và được thực hiện một cách có nghệ thuật.

 

Trong phim ảnh, một truyện phim hay là nền móng cần thiết, không có không xong, song người viết truyện phim khi chấm cái chấm cuối cùng chỉ mới thực hiện được một nửa tác phẩm. Một tác phẩm điện ảnh, cũng như một vở kịch, chỉ được hoàn tất và trọn vẹn với một đạo diễn giỏi, có khả năng đem được tài diễn xuất của các diễn viên biến thành nhân vật sống động, như có thật. Bigelow đã hoàn tất cái việc đó.

 

Bigelow sinh năm 1951 tại San Carlos, Calif., con duy nhất của một viên quản lý tại một xưởng chế tạo sơn và một nhân viên thư viện. Trước khi bước vào điện ảnh, bà tốt nghiệp đại học về mỹ thuật và sinh hoạt trong ngành hoạ, và là một hoạ sĩ có tài, đã từng dậy tại California Institute of the Arts. Bà tốt nghiệp cao học về điện ảnh tại Columbia University. Phim ngắn đầu tay của bà, dài 20 phút, The Set-Up (1978), là một nghiên cứu về bạo lực. Những phim kế đó (*) của bà cho thấy loại phim hoạt động (action) không xa lạ đối với bà.

 

Song bà thực hiện The Hurt Locker không phải vì muốn làm một phim hoạt động để lôi cuốn khán giả đặng mang về một số thu đáng kể, hay để vinh danh bạo lực. Ngoài việc đây là một công trình nghiên cứu tâm lý nhân vật (a character study) -- cái gì đã lôi cuốn nhân vật Trung sĩ James vào các công tác nguy hiểm làm vậy, và mặc dù đã may mắn sống sót trở về song rồi lại tình nguyện trở lại Iraq tiếp tục làm công việc gỡ mìn? --, Bigelow cũng còn muốn gửi gấm vào đó một thông điệp.

 

"Tôi không thích bạo lực. Tuy nhiên, tôi rất quan tâm tới sự thật. Và bạo lực là một thực tế trong đời sống của chúng ta, một phần của cái bối cảnh trong đó chúng ta sống," Bigelow trả lời một cuộc phỏng vấn về một cuốn phim trước Locker. "[Cuộc chiến tại Iraq] là một cuộc chiến không thể thắng, tại sao chúng ta đưa quân vào đó? [...] Phương tiện duy nhất mà tôi có, cơ hội duy nhất mà tôi có, là sử dụng phim ảnh." (**)

 

Như nhiều người Mỹ chống chiến tranh tại Iraq nhưng ủng hộ người lính đang chiến đấu tại đây, dù họ là những quân nhân tình nguyện, khi nhận lãnh trong tay giải Oscar cao quý, Bigelow đã xin gửi tặng giải thưởng đó, một cách tượng trưng, cho những người lính viễn chinh cả nam lẫn nữ, và cầu chúc họ sớm được hồi hương an toàn.

 

Đạo diễn phim ảnh vốn thường là việc của phái nam; và lại đạo diễn một phim chiến tranh lại càng là việc của đàn ông. Nhưng đây không phải là điều khiến Bigelow bận tâm.

 

"Nếu có một sự đề kháng nào đối với việc đàn bà làm phim, tôi đã chọn không quan tâm tới nó như một trở lực vì hai lý do: Tôi không thể đổi cái giống của tôi, và tôi từ chối ngưng làm phim," Bigelow nói. "Cái quan trọng không phải là ai hay cái gì đã đạo diễn một cuốn phim, cái quan trọng là bạn hoặc phản ứng về cuốn phim đó, hoặc không. Nên có thêm nhiều phụ nữ làm phim; tôi nghĩ là chưa có một ý thức là việc này thực ra có thể làm được. Đúng là ta có thể làm được." (TD, 03/2010) 

Ghi chú:

(*) Xem toàn bộ phim mục của Kathryn Bigelow tại http://hcl.harvard.edu/hfa/films/2009julsep/bigelow.html
(**) Những câu trả lời phỏng vấn của Kathryn Bigelow trích dẫn trong bài lấy từ Web link tại http://www.imdb.com/name/nm0000941/bio

thehurtlocker_0_600x344_1

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 941)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 726)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1227)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9943)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16781)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16207)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3123)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5304)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7318)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6665)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 940)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 725)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2422)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2265)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2508)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2493)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1226)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13620)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29724)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35749)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10862)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12700)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3339)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3623)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4170)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7859)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7170)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10009)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.