- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TRÒ CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ TRANG CHÂU

05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 2377)

TRÒ CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ TRANG CHÂU

 

Trần Thị Nguyệt Mai thực hiện qua eMail

 

Trần Thị Nguyệt Mai:  Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh?

 

Trang Châu:  Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Ông thân sinh tôi là một tướng 3 sao trong quân lực VNCH.

Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975.

Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.

 

TRANG CHAU 1

Chụp ở Đà Lạt năm 1956-57, khi học tú tài 2 ở lycée Yersin.

- Hình bên trái: từ trái sang: TC là người thứ 4.

- Hình bên phải: Hàng đứng (từ trái sang): TC là người thứ 3


TRANG CHAU 2

TC đứng trên tàu Mary của Médecins du Monde 

đi cứu người vượt biển, năm 1988.

 

 

TTNM:  Được biết anh làm thơ từ năm 15 tuổi. Nguyên do gì đã đưa anh đến với thơ?

 

Trang Châu: Tôi còn nhớ, lúc bắt đầu đánh vần được chữ quốc ngữ, tình cờ thấy cuốn truyện thơ Lục Vân Tiên mẹ tôi để ở đầu giường, tôi tò mò mở ra đọc, đánh vần từng chữ, chữ hiểu chữ không. Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mấy câu thơ sau đây:

‘’Đêm khuya ngọn gió thổi lò

Sương sa ẩm thấp, mưa to lạnh lùng...’’

 

Hai câu thơ tả cảnh Lục Vân Tiên, mù lòa, bị đem bỏ trong hang Xương Tòng cho chết đói. Tôi đã khóc khi đọc và hiểu được hai câu thơ này. Cũng như tôi đã sung sướng vui mừng tiếp đó khi đọc hai câu thơ sau:

‘’Đêm nằm thấy một ông tiên

Đem cho thuốc uống mắt liền sáng ra...’’

 

Đó là kỷ niệm khó quên lần chạm mặt đầu tiên với thơ.

Vì theo học chương trình Pháp giờ Việt văn rất ít: mỗi tuần chỉ 2 giờ học. Vị giáo sư là một linh mục: Cha Bính. Sau khi giảng dạy các thể thơ VN như: lục bát, song thất lục bát, phú, Đường thi, tứ tuyệt, thơ Mới, cha Bính bắt cả lớp làm thơ; đề tài : tự do, thể thơ : tự do. Bài thơ đầu đời của tôi ở tuổi 15 là viết về người mẹ vắn số của mình:

 

Thăm Mộ Mẹ

 

Tôi đứng nhìn xem nấm mộ tàn

Im lìm an giấc dưới trời lam

Trên đầu bia đá rêu xanh phủ

Cỏ úa lan tràn phủ dọc ngang

 

Lúc ấy hồn tôi cố tưởng mơ

Bóng người từ mẫu tận mây mờ

Với bàn tay trắng êm êm mát

Ôm ẵm người tôi lúc trẻ thơ

 

Nhưng hết, hôm nay hết cả rồi

Còn đâu hình bóng quý yêu tôi

Với bàn tay trắng êm êm mát

Vỏn vẹn còn trơ nấm mộ tồi

 

Cha Bính phê trong tập vở của tôi: “Hay quá!”. Ngài đã đem bài thơ của tôi đọc cho cả lớp nghe. Tôi nổi tiếng từ hôm đó. Bài thơ đầu đời của tôi, tôi chưa bao giờ gởi đăng báo hay cho in trong các tập thơ của mình. Có lẽ tôi vẫn ngại bài thơ còn “non” quá. Nhưng thơ đã đến với tôi từ đó và sẽ ở với tôi mãi mãi.

 

 

TTNM:  Do đâu anh chọn bút hiệu Trang Châu? Bài viết xuất hiện đầu tiên của anh trên báo có phải từ nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y khoa? Hay là một tờ báo nào khác?

 

Trang Châu:  Trang là tên ông anh ruột.

Đúng. Thời đó tôi bắt đầu và chỉ viết cho nguyệt san Tình Thương.

 

 

TTNM:  Qua tiết lộ của anh, NM tìm đọc các số báo Tình Thương* được nhà văn Trần Hoài Thư sưu tập và khôi phục từ Đại học Cornell (Hoa Kỳ). Bài thơ đầu tiên của anh xuất hiện trên báo là bài Buồn Một Phương, đi trên Tình Thương số 2 – Xuân Giáp Thìn 1964 (tháng 2/1964). Cũng nhờ bộ sưu tập này, NM được biết từ số 14 - Xuân Ất Tỵ tháng 2/1965 đến số 24 tháng 12/1965, anh cùng đứng chung trên manchette tờ báo với Chủ nhiệm: Phạm Đình Vy, Chủ bút: Nguyễn Vĩnh Đức, Tổng Thư ký: Ngô Thế Vinh, Thư ký: Lê Văn Châu, Quản lý kiêm Thủ quỹ: Vũ Thiện Đạm.

 

TRANG CHAU 3

Hình chụp trước tòa soạn báo Tình Thương năm 1964-65.

Từ trái qua: Bùi Thế Hoành, Lê Văn Châu, Ngô Thế Vinh, Phạm Đình Vy.

 

Từ thơ rồi sau đó anh cũng viết văn. Điều gì đã khiến anh viết văn? Hình như anh viết khi đã vào lính. Thời tạp chí Tình Thương anh chỉ làm thơ và rất nổi tiếng với những bài thơ đăng trên đó. Có phải vậy không?

 

TRANG CHAU 4

 

 

Trang Châu:  Phải nhìn nhận thời gian 2 năm (1964-1965) cộng tác với tờ nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y khoa Sài Gòn đã giúp tôi tìm được một lối đi riêng cho thơ mình. Dạo đó tôi hay mua đọc thơ, văn Pháp loại livre de poche. Tôi thích nhất thơ của Jacques Prévert. Tôi muốn sáng tác thơ mình theo cái style của ông ấy. Dí dỏm, tinh nghịch, thỉnh thoảng pha chút mỉa mai, chua chát. Đại loại như:

 

‘’Để thay đổi không khí cho tình yêu

Em nên đi lấy chồng

Và nhớ đến anh

Trong những giờ hạnh phúc…’’

……………………………………………………

‘’Nếu em không là Hồng, là Mai, là Cúc

Thì xin gọi em là em

Người con gái phụng phịu trả lời: em muốn

Anh gọi em bằng tên... anh’’

 

Thời cộng tác với nguyệt san Tình Thương tôi có viết văn, nhưng chưa viết truyện ngắn. Chỉ là những bài viết về thời cuộc. Chỉ có bài ‘Nhật Ký Một Chuyến Đi’ viết vào năm 1964 khi một toán sinh viên quân y hai năm cuối nhận lệnh Cục Quân Y lên đường ra miền Trung (Quế Sơn) cứu trợ nạn lụt. Bài viết này coi như tiền thân của những bài bút ký sau này trong tác phẩm văn đầu tay: Y Sĩ Tiền Tuyến.

Tôi chỉ thực sự bắt đầu viết truyện ngắn vào khoảng năm 1969-1970 khi cộng tác với tờ Văn Học do anh Phan Kim Thịnh làm chủ nhiệm. Viết truyện ngắn có nhuận bút, thơ thì không. Không biết có phải viết truyện ngắn được nhuận bút là một vuốt ve tự ái đã thôi thúc tôi viết hay thực sự tôi muốn thử nghiệm một lãnh vực mới.

Tôi nhớ tôi đã viết được 14 truyện ngắn. Nhà xuất bản Đường Sáng (đã in và phát hành cuốn Y Sĩ Tiền Tuyến của tôi) đã nhận xuất bản và đã trả tác quyền trước. Nhưng sách chưa kịp in thì miền Nam mất. Ra hải ngoại tôi còn nhớ nội dung vài truyện và cố gắng viết lại với đôi chút thêm bớt như các truyện: Dì Thu, Chị Xuyến, Nhung nào khác, Bên Đường…

Tôi tự trách mãi việc mình, trưa 29 tháng 4 năm 1975, do vội vã rời nhà để đào thoát, đã xách túi đồ nghề theo mà bỏ lại túi đựng bản thảo thơ, văn cùng cuốn album trong đó có 3 tấm hình tôi quý: Hình vào Dinh Độc Lập bắt tay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhận giải thưởng văn học nghệ thuật với tác phẩm đầu tay: cuốn bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến. Hình được Tướng Nguyễn Ngọc Loan gắn Dân Vụ Bội Tinh tại vùng đóng quân ở Kinh Sáng (Chợ Đệm - Bình Chánh) và tấm hình tôi đang săn sóc một thương binh Bắc Việt bị trọng thương (có ghi lại ở chương Đường Ra Bến Hải, trong Y Sĩ Tiền Tuyến).

 

 

TTNM:  Khi học xong ra trường, anh chọn về Quân Y Dù. Có điều gì quyến rũ anh trong việc chọn binh chủng này thay vì các binh chủng khác hay không?

 

Trang Châu:  Tình hình chính trị thời điểm 1964-1966 rất rối ren, sinh viên xuống đường chống chính quyền quân sự liên miên.

Nhân sự trong tòa soạn nguyệt san Tình Thương chia ra làm 2 phe: một bênh vực, một chống. Tôi đứng ở giữa. Tôi nhớ tôi đã nói rằng: Trước khi muốn làm cách mạng cho đất nước hãy làm cách mạng bản thân đã. Đất nước đang chiến tranh. Vậy mình phải làm nhiệm vụ của một người trai thời chiến. Tôi chọn phục vụ một lực lượng tổng trừ bị: Nhảy Dù. Về Dù phải tình nguyện chứ không do Cục Quân Y phân chia đơn vị lúc ra trường. Theo bước tôi đi, về sau có Phạm Đình Vy về Thủy Quân Lục Chiến, Ngô Thế Vinh về Lực Lượng Đặc Biệt. Về Nhảy Dù có Trần Đông A và Đường Thiện Đồng.

 


TRANG CHAU 5

Hình chụp năm Mậu Thân 1968 –

Chờ lên phi cơ đi nhảy bồi dưỡng

 

 

 TRANG CHAU 6

 

 

Hình chụp ở Bệnh viện Đỗ Vinh trong căn cứ Hoàng Hoa Thám

của Sư Đoàn Dù, năm 1969 – Từ trái sang TC là người thứ tư

 

 TRANG CHAU 7

Hình bìa sau của tập truyện Y sĩ tiền tuyến, năm 1970.

 

 

TTNMĐược biết Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký của Tạp chí Tình Thương, học chung lớp, ra trường cùng năm và cùng về Quân y Dù với anh. Sau này, tháng 4/1968, anh Tuấn đã hy sinh khi đang săn sóc cho một thương binh ở Khe Sanh. Xin anh kể về những kỷ niệm với anh Nghiêm Sỹ Tuấn khi cùng học chung ở Đại học Y khoa cũng như khi ở trong quân đội.

 

Trang Châu:  Nghiêm Sỹ Tuấn là bạn học cùng lớp với tôi. Chỉ khác nhau ở chỗ Tuấn là trưng tập còn tôi là hiện dịch. Tôi đáo nhậm đơn vị trước Tuấn 6 tháng. Khi Tuấn tình nguyện về Quân y Dù tôi đang ở trạm cứu thương tiểu đoàn 6 Dù, hậu cứ ở Vũng Tàu. Tôi xin đổi về trạm cứu thương tiểu đoàn 3 Dù cho được gần nhà vì hậu cứ tiểu đoàn 3 Dù nằm ở Sài Gòn. Tuấn thế tôi ở tiểu đoàn 6 Dù.

Tuấn nhỏ con, tính tình trầm lặng, uyên bác, giỏi ngoại ngữ. Nguyệt san Tình Thương của sinh viên Y khoa Sài Gòn dạo đó có đăng từng kỳ tác phẩm nổi tiếng Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, dịch giả là Nguyễn Vĩnh Đức & Nghiêm Sỹ Tuấn.

TRANG CHAU 8

 

Nghiêm Sỹ Tuấn là bác sĩ Dù duy nhất hai lần bị thương, một lần nhẹ ở Dakto (mảnh đạn xước bờ vai) và một lần khá nặng ở Cao Lãnh (đạn ghim vào đầu gối). Sau khi lành vết thương đầu gối, Tuấn được gởi đi thụ huấn khóa giải phẫu tổng quát một năm tại Tổng Y viện Cộng Hòa. Nghe nói Tuấn xin được trở về phục vụ bệnh viện Đỗ Vinh của sư đoàn Dù sau khi mãn khóa. Hình như yêu cầu của Tuấn không được Cục Quân Y chấp thuận. Và Tuấn từ chối theo học khóa giải phẫu tổng quát, trở về làm y sĩ trưởng tiểu đoàn 6 Dù cho tròn nhiệm vụ 2 năm ở cấp tiểu đoàn của đơn vị tổng trừ bị.

Năm Mậu Thân 1968, trận Khe Sanh mở màn. Tuấn ghé bệnh viện Đỗ Vinh thăm tôi trước khi theo đơn vị ra vùng hỏa tuyến. Anh tâm sự với tôi:

- Sếp vừa cho tôi hay, tôi ‘’lội ‘’ chuyến này là chuyến chót.

Tuấn đã lội chuyến chót, nhưng đi không bao giờ trở về. Một quả pháo của địch đã rơi đúng chỗ Tuấn đang đứng, chuẩn bị truyền dung dịch cho một thương binh nằm trên cáng đặt trên miệng hầm. Tôi là người nhận lệnh đi báo tin buồn cho gia đình Tuấn. Hình ảnh ông cụ thân sinh của Tuấn, rơi phịch xuống ghế ngồi, hai mắt trừng trừng nhìn tôi, sau khi tôi báo tin dữ, ám ảnh tôi suốt đời.

Tôi có làm cho Tuấn một bài thơ, khá dài, 6 đoạn. Hôm nay chỉ xin trích một đoạn, coi như để tưởng nhớ một bạn học cùng lớp, một đồng đội cùng binh chủng:

Hỡi thằng y sĩ Dù bé nhỏ của chúng tao ơi!

Đi chưa bao giờ biết mệt

Chiến đấu chưa bao giờ biết nằm

Đêm Gio Linh xác địch chất bên miệng hầm

Chiều Cao Lãnh đạn ghim sâu vào gối

Và Dakto mảnh xước bờ vai

Hỡi thằng duy nhất của chúng tao ơi!

Hai lần chiến thương vẫn còn “súng, xắc”...

 

 

 

TTNMNhân nhắc đến tác phẩm Y sĩ tiền tuyến, điều gì đã thôi thúc anh viết cuốn sách này? Anh đã có những kỷ niệm khó quên nào với tác phẩm ghi đậm dấu ấn của một Trang Châu - Y sĩ tiền tuyến?

 

TRANG CHAU 9

 

 

Trang Châu:  Thành thật mà nói, nếu không có việc nền Đệ Nhị Cộng Hòa tái lập lại Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật, còn được nôm na gọi là giải Tổng Thống, thì có lẽ không có tác phẩm Y Sĩ Tiền Tuyến.

     Bài ký đầu tiên tôi viết là ‘Nhật Ký Một Chuyến Đi’ kể lại chuyến đi cứu trợ nạn lụt năm 1964 ở Quế Sơn (miền Trung) của toán sinh viên Quân Y, theo lệnh của Cục Quân Y. Bài ký này được đăng ở nguyệt san Tình Thương của sinh viên y khoa Sài Gòn.

     Bài ký thứ hai tôi viết lúc đang còn phục vụ ở tiểu đoàn 3 Dù. Khoảng đầu năm 1967, Cục Tâm lý chiến tổ chức một cuộc thi toàn quốc với đề tài: Bút ký chiến đấu. Tiểu đoàn 3 Dù lúc đó đang đóng ở Chợ Đệm (Bình Chánh). Ngoài đôi lần khám bệnh, phát thuốc cho dân chúng, tôi khá rảnh rang thì giờ. Một hôm mở đài phát thanh nghe thì biết tin trên. Tôi viết bài ‘Đường Ra Bến Hải’ gởi đi dự thi. Bài ký kể lại cuộc hành quân ở vùng Cùa của quận Cam Lộ. Một cuộc hành quân không đụng độ lớn nhưng rất kham khổ dưới cái nắng nóng ghê gớm. Bài ký được chấm giải nhất.

     Bài ký thứ ba tôi viết lúc đang làm việc ở bệnh viện Đỗ Vinh của sư đoàn Dù. Lúc bấy giờ Phòng Tâm lý chiến của sư đoàn Dù cho ấn hành đặc san Mũ Đỏ. Họ gặp tôi xin góp bài. Bài ký này có tựa ‘Thử Lửa’, trong đó tôi kể lại trận đánh lớn mà tôi tham gia trong lần hành quân đầu tiên với tiểu đoàn 6 Dù.

     Chỉ khi nghe tin Bộ Văn Hóa tái lập lại Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật tôi mới có ý định viết thêm những đoạn ký khác, sắp xếp lại theo thứ tự thời gian cho thành một tác phẩm. Tác phẩm dự thi không bắt buộc phải là tác phẩm đã xuất bản càng làm tôi phấn khởi. Tôi gởi bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến đi dự thi dưới dạng chữ đánh máy. Và Y Sĩ Tiền Tuyến đã là một trong ba tác phẩm trúng giải năm 1969.

     Nếu có ai hỏi tôi nghĩ gì về chiến tranh VN thì tôi sẽ mượn mấy câu cuối trong bài ‘Đường Ra Bến Hải’ để trả lời: “Và một ngày sắp tới, ngồi trên trực thăng, nhìn xuống cảnh núi rừng trùng điệp chắc tôi lại sẽ nghĩ vẩn vơ... Chiến tranh buồn cười thật: một đằng lặn lội từ ngoài Bắc vào, một đằng từ châu Mỹ xa lắc xa lơ tới và một đằng chúng tôi từ Vũng Tàu lên, kéo đến chốn rừng thiêng nước độc này tìm giết lẫn nhau...’’

 

 

TTNM:  Nghề bác sĩ giúp anh tiếp xúc với rất nhiều người cũng như nhiều cảnh đời. Nhưng nó có giúp anh chút nào trong cảm hứng sáng tác văn cũng như thơ?

 

Trang Châu:  Tôi nghĩ nghề của tôi đã giúp tôi có đề tài để viết truyện ngắn hơn làm thơ. Xuyên qua bệnh nhân, ở nhiều lứa tuổi, những cảnh đời khác biệt của họ, giúp tôi có những sự kiện mới, lạ để khởi đầu một câu chuyện. Nhưng những cảnh đời đó chỉ giúp tôi vào truyện, kết thúc câu chuyện lại là cái hướng tôi chọn để nhân vật của tôi nhắm tới mà đi, nhận lấy mà sống hay cam chịu.  Truyện ngắn của tôi vào đầu 60 phần trăm là có thật ngoài đời, đoạn kết đa phần lại là hư cấu. Còn nhớ khi nhờ nhà văn Mai Kim Ngọc đề tựa cho tập truyện Dì Thu, ông cứ đùa đùa hỏi: Phần thật chiếm bao nhiêu phần trăm vậy Trang Châu? 

 

 

TTNM:  Trong những sáng tác của anh, anh ưng ý những tác phẩm nào nhất và vì sao?

 

Trang Châu:  Với tôi không có tác phẩm nào tôi ưng ý nhất. Chỉ có bài viết nào gây xúc động mạnh khi tôi sáng tác và có âm hưởng lâu bền khi tôi có dịp đọc lại thì tôi coi là ưng ý. Thơ thì có: Mừng Em, Dặn con khi khôn lớn, Xuân nhớ bạn. Truyện ngắn thì có: Dì Thu, Chị Xuyến, Bên Đường. Bút ký thì có: Đường Ra Bến Hải. Đồng hạng thì có nhưng nhất thì chưa. Cũng có thể sẽ không bao giờ có.

 

 

TTNM:  Về nghề nghiệp, tại sao anh chọn ngành y? Điều gì trong y khoa khiến anh thấy thích thú khi theo nghề này?

 

Trang Châu:  Khi còn học lớp seconde (đệ tam) tôi ước lên đại học tôi sẽ chọn y khoa để tìm hiểu mẹ tôi mất về bệnh gì. Thế nhưng rồi sau khi đậu tú tài 2, ban triết, tôi lại muốn đi học Luật để ra làm luật sư. Nhưng trường Luật năm đó bỏ tiếng Pháp, đổi sang dạy bằng tiếng Việt. Thấy tôi có vẻ lừng khừng chọn ngành, bà kế mẫu tôi nói: nhà muốn có một bác sĩ nhưng sợ y khoa khó lắm e Châu học không nổi. Thế là chạm tự ái thằng nhỏ. Thế là tôi ghi danh học y khoa. Ba năm đầu thật vất vả. Ngoài chồng bài vở, thực tập còn phải chống chỏi với cái thiếu hăng say của chính mình. Cho đến khi lên năm thứ ba, thực tập ở bệnh viện Từ Dũ, mỗi sinh viên có trách nhiệm phải đỡ 20 ca sinh đẻ bình thường tôi mới bắt đầu yêu nghề của mình. Còn nhớ sau khi kéo được đứa bé sơ sinh ra khỏi người mẹ nó, đặt ống hút nhớt trong mũi, trong miệng, vỗ đít nhẹ cho nó khóc, nhỏ thuốc vào mắt, cắt cuốn rún, lau mình mẩy, quấn tã cho nó rồi đem đứa bé lại cho mẹ nó. Nhìn cảnh người mẹ, mới vừa đây kêu la khi rặn đẻ, giờ hai tay ôm con, mắt sáng với nụ cười sung sướng, tiếp theo hai tiếng cám ơn, mình mới thấy mình vừa đóng góp một chút gì cho hạnh phúc của người khác.

 

 

TTNM:  Khi nhắc đến tên Trang Châu, anh mong độc giả nhớ tới anh ở những điều gì?

 

Trang Châu:  Hơi khó trả lời. Có lẽ tôi nên mượn lời những nhà văn nhà thơ đã viết về tôi và mong những gì họ nghĩ về Trang Châu cũng được đông đảo độc giả nghĩ như vậy.

 

‘’Đọc Trang Châu người ta dễ dàng cảm thấy chuyện rất thật, rất cuộc đời, như một phiên bản thật thà của cuộc sống quanh ta. Chúng có cái hấp lực riêng níu kéo người đọc. Tôi vẫn cho một truyện thành công phải giữ người đọc tới dòng chữ cuối. Và khi đọc xong, truyện vẫn còn vương vấn trong trí người đọc, không dễ gì mà rời xa, không dễ gì mà xếp lại.’’ -- Song Thao (trích Đọc Dì Thu của Trang Châu).

 

‘’Thơ Trang Châu nói chung là thơ rất hiền. Trong thơ Trang Châu ta thấy phảng phất những âm điệu êm đềm như thơ Nguyễn Bính hay yêu kiều như giọng Đinh Hùng. Trong thơ Trang Châu tiếng nói không bị đập phá, không bị xô đẩy tới những biên cương không chờ đợi. Vì vậy tôi chắc thơ Trang Châu sẽ được tiếp đón dễ dàng với nhiều thế hệ người đọc thơ.’’ -- Đỗ Quý Toàn (Trích Tựa - Thơ Trang Châu)

 

‘’Hình như có nhà phê bình văn học nào đó đã nói văn thơ khi đã đạt tới mức nghệ thuật thì nên vứt bỏ kỹ thuật đi. Chúng ta không thấy cái công dụng sửa chữ đổi lời nào trong toàn tập thơ. Trang Châu nghĩ sao viết vậy, suôn sẻ và gẫy gọn, êm ái mà thân tình. Có một thứ tình yêu rất lớn, thiệt lớn mà tác giả say mê hơn tất cả mọi thứ say mê. Đó là tình yêu quê hương đất nước. Lúc nào anh cũng ‘’muốn làm một cái gì ‘’. Theo tôi người có trái tim bình thường là những người bình thường, có trái tim thật lớn mới là thi sĩ.’’ -- Võ Kỳ Điền (Trích Bạt - Thơ Trang Châu)

 

‘’Dù đã viết Y Sĩ Tiền Tuyến tác phẩm được giải thưởng văn chương toàn quốc, thơ Trang Châu lại rực rỡ và sáng trưng trong những mảnh đời sống. Thơ của tình một thuở, của quê hương, của trái tim không bao giờ ngưng đập nhịp. Thơ Trang Châu ngắn lời nhưng dài ý. Một chút Huy Cận, một chút Nguyễn Bính phảng phất. Thơ tình yêu không bao giờ cũ. Thơ Trang Châu còn là niềm suy tư của người con trai đối với quê hương dân tộc.’’ --Nguyễn Mạnh Trinh (Trích báo Hồn Việt).

 

‘’Quê hương và chiến tranh đã được nói tới nhiều, nhìn ngắm nhiều, và lần này qua ngòi bút của một nhà văn Y sĩ, nghĩa là qua một lương tâm đích thực. Đây là một ký sự, một tác phẩm văn chương. Bởi vì tất cả những sự kiện có thực trong đời sống, khi đem vào tác phẩm, dù được sắp xếp hoặc hỗn độn, hoặc trật tự như thế nào cũng đều thoát ra một dẫn giải. Ở đây lẽ tự nhiên, là một dẫn giải về cuộc chiến mà tất cả chúng ta đang chịu đựng và chống trả trong đau đớn và hy vọng.’’ -- Nguyễn Đình Toàn (lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến)

 

‘’Có những sự kiện, những cảm giác mà tất cả mọi người đều biết, đều viết, đều thấy là thông thường. Chính trong những sự kiện thông thường ấy, những cảm giác mà mọi người đều biết, đều viết ấy, Trang Châu đi tìm cái lạ, cái mới. Anh đem tâm tư mình lên bàn mổ, đem cảm nghĩ của mình ra giải phẫu. Mỗi câu văn, mỗi trang sách của Trang Châu đều là một phần của chính anh. Đọc Trang Châu, cái thích nhất là thấy anh viết rất thật.’’ -- Nguyễn Đạt Thịnh (lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến).

 

‘’Đi vào đời sống sinh động và nhiều mặt của đất nước hiện nay, hạnh phúc và may mắn của một nhà văn mới lên đường, như trường hợp Trang Châu, là từ điểm khởi hành đi thẳng, đi ngay vào những thực tế lớn. Thực tế lớn của đất nước bây giờ là tuyến đầu, là mặt trận. Trang Châu đã có mặt ở đó. Qua những ghi nhận khỏe, tốt, tích cực và có hiệu lực của ông, tôi muốn nghĩ nếu một thực tế gai lửa không bao giờ đến với nhà văn như một tiếp nhận dễ dàng, mà như một thử thách dữ dội, Trang Châu đã có đủ điều kiện để đương đầu và biểu hiện được những đặc thù của nó.’’ -- Mai Thảo (Trích lời giới thiệu trang bìa sau Y Sĩ Tiền Tuyến, in đợt 2 của nhà xuất bản Đường Sáng). 

 

‘’Văn chương nghệ thuật đã xua vào binh chủng ưu tú của quân đội một chiến sĩ đắc lực. Ở Trang Châu có một trường hợp ngộ nghĩnh: trường hợp một người vừa phục vụ nghệ thuật vừa phục vụ nhân sinh thật kỹ, nói một cách khác là một người vì nghệ thuật mà nhào vô phục vụ nhân sinh đến nơi đến chốn. Phải nói ra như thế để thấy cái giá phải trả cho cuốn ký này nó cao đến đâu.’’ -- Võ Phiến (Văn Học Miền Nam - Trích Ký).

 

‘’Nghe lời kêu cứu thống thiết của đồng bào nơi Biển Đông, ông đóng của phòng mạch lên đường ra trùng khơi tìm cơ hội nối lại nghĩa đồng bào. Chỉ cần một tâm hồn nhân hậu như thế cũng đủ hấp lực lôi cuốn chúng ta vào truyện rồi. Nhưng ở đây, tác giả còn khéo léo bố cục cho câu chuyện có tiền có hậu, có trước có sau, tưởng như một tiểu thuyết hư cấu. Nhưng không, đây là chuyện thật một trăm phần trăm, viết trong những lời văn trong sáng, chân thật, không chút làm dáng mà vẫn chuyên chở được nỗi khát khao đem lại chút hạnh phúc cho người đồng chủng.’’ -- Trương Anh Thụy (Trích bài giới thiệu bút ký Về Biển Đông - Xuân Ất Hợi 1995)

 

‘’Trang Châu đã có những chọn lựa tuyệt đẹp cho cuộc đời của ông bằng những năm mặc bộ quân phục màu ngụy trang. Thế rồi, ở cái tuổi ai cũng nghĩ không còn làm được gì nữa, Trang Châu trở lại Biển Đông và đem về cuốn bút ký Về Biển Đông. Những thứ ông mang về là những tài sản vô giá như hình ảnh con tàu chật chội, những gắn bó tình người, như biển Đông nồng mặn, như niềm vui không bờ bến của những người nhìn thấy khung trời Tự Do. Về Biển Đông là một cuốn sách do một thuyền nhân viết về những thuyền nhân và cho những thuyền nhân.’’ -- Bùi Bảo Trúc (trích bài giới thiệu buổi ra mắt bút ký Về Biển Đông, Arlington 1995).

 

‘’Trong cương vị nhà văn, Trang Châu đem đến cho người tị nạn một chút tình người, tình máu mủ, đồng bào. Trong cương vị của một y sĩ, ông đã phần nào xoa dịu những đớn đau thể chất của đồng loại.’’ -- Hoàng Khởi Phong (Về Biển Đông - Trích báo Người Việt số tháng 6-1995)

 

‘’Tập truyện là một sưu tập người nữ, và truyện cũng như người của Trang Châu rất hấp dẫn. Trang Châu kinh sợ sự nhạt nhẽo và thích chất muối mà chỉ người nữ phong trần mới có. Về muối quả thật nhân vật nữ của Trang Châu có sẵn đến mức đậm đà, có khi đến chỗ mặn chát. Họ đối ứng có duyên, xử lý mọi chuyện dễ dàng, dễ dãi, và cái đùa cợt bất cần đời của họ dễ lây sang người đọc. Nhưng ngẫm lại, câu chuyện không hẳn chỉ có khôi hài mà còn rất nhiều bất hạnh. Nhân vật nữ của Trang Châu không được đời ưu đãi’’. -- Mai Kim Ngọc (Trích Tựa - Tập truyện Dì Thu)

 

‘’Truyện của Trang Châu giản dị, nồng nàn, nhiều tình cảm, giàu lòng thương và có hậu. Nhân vật của tác giả nam cũng như nữ, lăng xăng đi tìm một tình yêu, một sự âu yếm, một tâm hồn đồng điệu. một hạnh phúc. Có khi tìm được có khi không, có khi không có kết thúc. Và người đọc được mời tham dự vẽ ra đoạn cuối. Cám ơn tác giả đã có một ý nghĩ âu yếm về phái nữ: ‘’Tôi nghĩ trên đời này không có người đàn bà nào xấu cả, chỉ có những người đàn ông không biết mỗi người đàn bà đẹp ở chỗ nào mà thôi.’’ -- Kiệt Tấn (Trích Bạt - Tập truyện Dì Thu)

 

‘’Gần nửa thế kỷ. Có vẻ như vị y sĩ oai phong áo hoa mũ đỏ ngày xưa và bức chân dung tác giả bây giờ chả liên hệ gì với nhau. Nhưng tôi lại nghĩ ngay, có đấy. Tuy thời gian đã làm thay đổi hình hài, quy luật chung mà, song mãi mãi vẫn bất biến những đam mê, nhất là văn chương nghệ thuật. Mai sau người ta có thể không còn nhớ bác sĩ Lê Văn Châu nhưng chắc chắn nhà văn Trang Châu sẽ còn đó, trong dòng chảy của văn học Việt.’’ --  Khánh Trường (Trích lời giới thiệu trang bìa sau tập truyện Người Ăn Trưa Trong Xe)

 

‘’Muốn sử dụng chất liệu tầm thường để tạo ra những truyện ngắn hấp dẫn, người viết cần phải có một tâm hồn nhạy cảm, một khả năng quan sát tinh tường, cộng thêm với óc sáng tạo và tài năng pha trộn thực kiện với hư cấu. Qua những loạt truyện ngắn mới nhất Trang Châu tỏ ra đáp ứng được những đòi hỏi vừa kể. Tài khéo léo nơi ngọn bút Trang Châu được thể hiện rõ nhất khi anh mô tả các nhân vật trong truyện. Chỉ vài ba nét phác họa, anh đã khiến độc giả hình dung ra được khuôn mặt, dáng vẻ, lời nói, cử chỉ và ngay cả tính tình người anh muốn giới thiệu. Một đặc điểm khác trong cách hành văn của Trang Châu là tính chất dễ dàng thoải mái, không gò bó điệu đà.’’ -- Lê Văn (Trích Bạt - Tập truyện Người Ăn Trưa Trong Xe).

 

 Nếu có ai nhắc đến tên Trang Châu, tôi mong được cảm thông về con người của tôi, con người như nhà văn Võ Kỳ Điền từng nhận xét: ‘’lúc nào cũng muốn làm một cái gì’’. Và cái gì tôi muốn làm đó thường không phải là cái được đa số chọn làm. Có thể vì ngoài hai chữ y sĩ, tôi còn đeo thêm hai chữ nghệ sĩ, nhất là khi hai chữ sau nằm trong tim nhiều hơn ở trong đầu.

 

 

TTNM:  Xin anh cho biết những tác phẩm đã và sẽ xuất bản của anh.

 

Trang Châu:  Danh sách các tác phẩm đã xuất bản:

* Ở Việt Nam:

- Tình Một Thuở (thơ) – 1964

- Y Sĩ Tiền Tuyến (bút ký) – 1970

- Giải Thích (thơ) – 1972

 

* Ở Hải Ngoại:

- Thơ Trang Châu – 1989

- Về Biển Đông (bút ký) – 1995

- Dì Thu (tập truyện) – 2000; tái bản lần thứ 2, 2013

- Thơ Tuyển – 2007

- Người ăn trưa trong xe (tập truyện) – 2013

- 12 truyện ngắn 12 bài thơ – 2017

- Y Sĩ Tiền Tuyến (bút ký) – tái bản lần thứ 10, 2017

- eBook: Nhà tiên tri (tác phẩm dịch Le prophète của Khalil Gibran) – 2021

 

Chưa in:

- Góp Nhặt (thơ, truyện ngắn, hồi ức)

- Thơ dịch Jacques Prévert

- Giới thiệu tác giả

 

TTNM:  Chân thành cảm ơn anh Trang Châu đã dành cho Nguyệt Mai một cuộc trò chuyện thật thú vị. Kính chúc anh luôn được vui khỏe, an lành và có nhiều hứng thú để tiếp tục sáng tác.

 

Trang Châu:  Cám ơn Nguyệt Mai đã thực hiện phỏng vấn.

 

 

  Trần Thị Nguyệt Mai  -Thực hiện 22/3/2026 – 11/4/2026

 

 

 

* Nguyệt san Tình Thương (1964 – 1966) do nhà văn Trần Hoài Thư sưu tập

https://tranhoaithu42.com/2021/05/17/nguyet-san-tinh-thuong-tai-chinh-trang/

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1093)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 1275)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 1154)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1476)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1355)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1539)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1929)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2027)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1817)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1807)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10492)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17320)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16389)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16849)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1539)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2027)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1979)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2774)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1273)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1354)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1816)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1557)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1091)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1474)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1928)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1806)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1154)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3283)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3272)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3823)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2376)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14013)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30126)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36256)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11741)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13139)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3045)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4363)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4314)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4801)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5379)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8467)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7867)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10782)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.