- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CÔ BÉ TRÊN MÁI NHÀ SÀN

26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 7385)

họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Tranh minh họa của họa sĩ Nguyễn Thị Hiền

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

CÔ BÉ TRÊN MÁI NHÀ SÀN

Truyện ngắn



Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…

Đã ba hôm, cô bé mang cái tên Thái có nghĩa là chăm chỉ, khéo léo, tinh tế lần đầu tiên đã phải chịu đói, khát và rét vượt qua sức chịu đựng thông thường của người lớn. Có lúc, Chang rón rén lần mò xuống tận cùng mái sàn mấp mé nước đục ngầu dập dềnh, cởi Cỏm (áo nữ Thái) ra dúng cánh tay áo xuống mặt nước để lấy lên mút từng giọt cho đỡ khát, rồi lại lò dò leo lên đỉnh nóc mái nhà, ôm chặt lấy Khau cút(1) và căng mắt nhìn về các hướng ngóng người đến cứu mình… Hôm đầu, khi nước ngập tới Quản(2) và gian bếp, Chang trượt chân bị ngã, em đã ướt như chuột lột, rồi cứ thế vội tìm cách leo lên mái nhà sàn từ cửa sổ, theo tốc độ nước lũ dâng lên và theo bản năng sinh tồn, lúc đó em đã thấy lạnh cóng, dù mới vào thu. Nhưng cái lạnh ấy đã bị lấn át bởi cái đói, cái khát và nỗi lo lắng cho ải êm (bố mẹ) và hai em; Chang quên cái lạnh khi quần áo tự khô để gió rừng quẩn vào người em từ sáng sớm tới qua đêm, thời gian như vô tận… Không biết lúc này ải, êm và em gái em trai đang ở đâu giữa biển nước mịt mùng? Em gái lớp 5, em trai lớp 3, còn Chang lớp 7 – ba chị em cùng trường PTCS xã, ngôi trường mới được nâng cấp đầu năm lúc này chắc cũng đang ngập trong nước và bùn sau trận lũ ống lũ quét chưa từng thấy ở vùng sâu vùng xa quê em. Vào hôm bão lũ ập về bản, Chang bị cảm sốt nặng nên nhờ em gái đến trường gặp cô giáo Chủ nhiệm lớp mình xin phép nghỉ học. Chỉ sau độ hai tiết học sáng, mưa bão cùng biển lũ đã ào ạt đổ về nhấn chìm bản em trong đất bùn đỏ khé và nước tận đầu nguồn giận dữ, cùng nước mưa dỗi dằn than khóc - như ý nghĩ của em bắt đầu được tích lũy từ năm trước bây giờ chợt lóe lên cùng ánh chớp rạch trời…

Năm ngoái, cũng đận này, sau một trận lũ ống, nước cũng đã ngập khắp bản, Chang nghe người lớn thầm thì bên bếp lửa: “Mấy trăm năm nay, chắc còn hơn thế, có lẽ từ thời Mưa máu vùng Thập châu Thái đến giờ mới có một trận lũ lụt làm ngập hết các vườn rau, ngập tới “dinh cơ” của trâu bò lợn dưới chân sàn”. Còn năm nay, kinh khủng quá, lụt ngập đến tận mái nhà sàn! Rồi các năm sau, chẳng biết còn ngập tới đâu nữa! Đã ba ngày ba đêm, nhất là trong đêm thứ ba này, Chang có dịp ngẫm về một câu có vần của của ông cha Thái: “Lếch báu hụ nào, sào báu hụ nưới” (Trẻ con không biết lạnh, thiếu nữ không biết mệt). Chang còn lâu mới thành “con gái” trưởng thành, nhưng cũng đang thoát khỏi giới “trẻ con”, thế nhưng cái tâm lý chung an ủi hai giới này hóa ra trật khấc đối với cảnh ngộ của em: Mệt, Đói, Khát, Lạnh suốt mấy ngày hành hạ cô bé vốn đang bị cảm sốt, khiến em có lúc bủn rủn tay chân suýt thì tuột tay khỏi Khau cut mà lăn tự do xuống biển nước mênh mông…

Đêm nay, đêm thứ ba, Chang cảm thấy mình chỉ còn chút sức tàn để ôm lấy chiếc Khau cut như vật cứu tinh duy nhất và chập chờn nhớ lại bao kỷ niệm của đời học trò phổ thông cơ sở… Một trong những kỷ niệm không thể quên là câu chuyện đau lòng về người bạn gái em mới quen hai năm trước, trong một lần được bố mẹ đưa đi thăm Thị xã - cô bạn mà bố người Thái mẹ người Kinh, đều là cán bộ ngân hàng. Liên - cô bạn mới lứa tuổi Chăng, cũng lớp 5. Bố Liên và bố Chăng người cùng Huyện, có quan hệ làm ăn buôn bán gì đó trước đây. Bố Liên sa đà rượu, cờ bạc, buôn lậu, bạn xấu, lừa đảo khách hàng, khiến mẹ Liên chán ghét, hai người hay cãi cọ nhau  và thường bỏ Liên ở nhà một mình những ngày em không phải đến trường… Hôm đó, Chủ nhật, cô bé Liên 11 tuổi thơ thẩn chơi ở nhà, vô tình rơi xuống hố nước vừa lộ thiên trong sân nhà sau một trận lũ quét vào Thị xã. Hố này thông ra con suối Nặm Lung tận đầu Thị xã. Chang đã nhắm mắt rùng mình khi được nghe bố kể lại, hình dung ra cô bạn quý đã co mình như một con dúi bị săn ra sao để lũ cuốn trôi trong hố ngầm suốt bốn cây số ra tận dòng Nặm Lung, vài ngày sau bố mẹ Liên mới tìm thấy xác con, mẹ Liên chết ngất và bố Liên lại có dịp chìm trong men rượu quên đau buồn… Hóa ra, Chang may mắn hơn cô bạn bất hạnh. Em vẫn còn sống, còn hy vọng có người cứu mình để thực hiện những ước mơ mà hai đứa đã say sưa bàn bạc, giao ước, hẹn hò, và giờ em sẽ thực hiện thay cho cả bạn…

Và giữa lúc miên man trong bao cảm nghĩ hỗn độn, bao cảm giác mơ hồ chẳng rõ hình thù hay gốc gác gì nữa, tâm trí của cô bé mới chỉ được ra Thị xã một lần chợt được ru trong những câu chuyện của bố và các ông bà lớn tuổi bên mâm rượu cùng lời “khắp” (hát) Thái: “À… í… ời…”. Những câu chuyện về mường Thái, sau những chuyện làm ăn kiếm bữa chật vật hàng ngày của bố mẹ và hàng xóm hầu như lại quay về những chuyện buồn muôn thuở… Chuyện in hằn trong tuổi thơ của ba chị em Chang là chuyện bố kể bên bếp lửa sàn: Ngày ấy, ở bản nọ, có một gia đình đông con. Vào mùa đói, bọn trẻ chỉ được ăn củ mài và rễ cây rừng. Người mẹ kiệt sức, bị ốm nặng. Ông chồng sang nhà tạo bản, nì nèo mãi mới vay được một nắm gạo nấu cháo cho vợ ăn hồi sức. Chẳng ngờ, khi chạn bát kêu lách cách, cháo chưa kịp múc ra, bọn trẻ đã vùng dậy, nhào đến nồi cháo chầu chực. Hai vợ chồng đành nhường cả nồi cháo cho các con. Sau đó, hai vợ chồng gạt nước mắt bí mật đưa lũ con vào rừng sâu để chúng tự kiếm sống…Năm sau, may mắn được mùa, hai vợ chồng lại vào rừng tìm các con. Nhưng… Thơ ca dân gian vùng Thái cổ này đã khóc cho số phận dành cho chúng: Cô chị cả đã hoá thành khỉ kêu/ Cô chị hai thành vượn hót mặt đỏ/ Còn thằng ba thằng tư thành con dím, con  dũi đào đất làm ổ sâu…

Rồi chuyện này nữa, khiến Chang thao thức suốt cả tuần, hồi em vào lớp Một: có người mẹ trẻ đi đào củ mài, vì quá mệt và đói nên cắm đầu chết trong hố củ. Đứa con nhỏ ngồi chờ không thấy mẹ dậy cứ gọi mãi, giục mãi mẹ về cho em bú, rồi nó biến thành con chim đêm... Còn người mẹ hóa thành củ mài, hai chân chĩa lên trời thành dây leo cho mọi người nhìn thấy… Và lúc này, khi cơn đói quặn trở lại theo chu kỳ mới lập thấp thoáng sự tích củ mài, Chang chợt nghĩ tới nắm xôi em từng gỡ vụn ra rồi ném vãi lên trời, kêu thật to, như người lớn từng làm xưa nay: “Ơi!... Nộc phay ơi! Chim lửa ơi! Về đây mà ăn cơm nếp nương”, đúng vào hôm lần đầu tiên Chang nhìn thấy bầu trời như sẫm lại màu tro, xuất hiện một đàn chim nhỏ xíu như cái trứng gà màu đỏ rực đang bay liệng cất tiếng kêu thảm thiết… Khi cô em gái hỏi, Chang đã ra vẻ đàn chị hiểu biết giải thích cho em: Những con Nộc phay đấy, tức Chim lửa, đó là linh hồn của những người chết đói tháng ba, những người đi tìm gạo ở mường xa bị lửa cháy rừng thiêu chết, họ bay trở về tìm người thân vào mùa lúa chín… Em chưa tới lúc nói thêm cho nó, theo lời bố kể: cụ nội rồi đến ông nội của chúng mình cũng đã biến thành Chim lửa, vì lúc chết không đủ tiền cúng ma làm hỏa táng nên phải chôn ở rừng ma… Bác nhà thơ người Thái tên là gì nhỉ tới trò chuyện với thầy cô giáo buổi Ngoại khóa, mà Chang vốn được cô Chủ nhiệm yêu bởi mê văn đã kể lại cho: lịch sử của mường Thái Tây Bắc chính là lịch sử của cái đói… Lẽ nào lại thế? Em chỉ biết chẳng có gì ngon lành bằng nắm xôi gói lá chuối rừng, kèm theo một miếng cá nướng và gói chéo mà mẹ dúi vào cặp em ngày trường tổ chức thăm quan Rừng đầu nguồn. Nhưng Rừng đầu nguồn tới nay đã bị phá tan hoang mất rồi! Ngày đầu tiên trên mái sàn, Chang còn nhiều nước mắt hòa nước mưa khóc thương cho mường bản, cho mình, còn đêm nay, em chẳng còn giọt nước mắt nào nữa thì mới thấy trái tim non nớt của mình thật sự khóc nhớ thương cho Rừng…

Không gian sao vắng lặng. Không một tiếng cá quẫy. Không tiếng một chim đêm quen thuộc. Tiếng trâu bò rống thảm thiết trước khi cạn sức để chìm nghỉm trong nước giờ đã thành qúa khứ xa lắc sau mấy ngày đêm! Chang bồn chồn mong xuất hiện dù chỉ một tiếng Pí tam lay(3) dẫu buồn thương nẫu ruột để cầu mưa khi mưa đã làm ủng cả trời đất, để chứng tỏ sự sống của mường bản chưa nỡ rời bỏ em. Hiển hiện trước mắt em chỉ là nước mênh mông nhập nhòa trong sương đêm, màn sương dường cũng mệt mỏi đến lả đi sau những ngày phải chứng kiến những trận lũ ống lũ quét dữ tợn đột ngột khiến những con vật nhanh nhẹn nhất vùng rừng sâu như hươu, nai cũng không thoát nạn khi đang ở giữa lòng suối cạn! Chang bỗng nhớ lại mồn một ngày cùng em gái tới thăm ông Mo của bản để hỏi về lai lịch mường Thái, theo yêu cầu của cô giáo trước buổi Ngoại khóa về lịch sử địa phương cuối Học kỳ. Ông Mo có bộ mặt nhăn nhúm như một quả quýt khô, mái tóc không mọc ở đỉnh đầu mà mọc ở quanh đầu, ông luôn mặc một bộ quần áo chàm bạch phếch, chiếc vòng đồng to được chạm nổi những hình thù kỳ quặc thường xuyên đeo ở cổ chân, khiến ông như một nhân vật phù thủy trong truyện cổ Thái. Nhưng ông lại hiền hoà dễ gần, và đặc biệt yêu quý bọn trẻ con - nhất là những đứa ham hiểu biết. Lúc đó ông đang ngồi dưới sàn, cầm một sợi lạt khô bằng cật giang bé xíu để xâu những con nhặng chết và khô xác bởi gió Lào và bồ hóng, bên cạnh mấy xâu các con cánh cam, con sâu đo, con bọ ngựa chết. Chăng tò mò chưa kịp hỏi thì được ông cho biết: Chúng là những cuốn Lịch do ông cha nhiều đời tạo ra, từ đây, ông sẽ xem xét tính toán trên sách, xem ngày để đoán sự xuất hiện của con thuồng luồng (tô ngựa), con vật tạo ra mưa lũ. Năm nào thuồng luồng ít và lẻ thì mưa nhiều, và năm nào thuồng luồng ra nhiều và chẵn thì mưa ít, nạn hạn hán sẽ đe doạ đất mường. Vì thuồng luồng ít, chúng chỉ lo làm ra mưa chứ không có thời giờ để chơi bời, và nếu lẻ, chúng không có đôi có lứa nên siêng năng tạo ra mưa. Còn thuồng luồng ra nhiều, chúng chỉ mải miết chơi bời, và lại chẵn nữa thì chúng sẽ thoả mãn tình cảm lứa đôi nên chẳng đoái hoài đến việc làm mưa nữa… Ông chỉ tay vào xâu nhặng xanh và thầm thào: “Năm nay năm lẻ, vào tháng nhặng xanh sẽ lại có lũ muộn cháu à! Lũ muộn thì kinh khủng lắm!”. Lúc ấy Chăng rối hết cả đầu óc, bây giờ lại càng thấy rối hơn khi nhớ về các “cuốn Lịch” kỳ lạ của người nắm giữ Hồn vía của mường bản. Nhưng cũng chính ông Mo là người hé ra một bí mật hệ trọng cho bọn trẻ con, như ông nói hộ các Thần linh của vùng này: Những cuốn Lịch bằng sâu bọ chỉ là Sứ giả của Núi Rừng, còn các cơn lũ ống, lũ cuốn, lũ muộn chính là sự nổi giận, là sự trừng phạt của Mẹ Thiên nhiên khi Rừng đầu nguồn hay Rừng Thiêng, Rừng nguyên sinh, Rừng phòng hộ đã bị tàn phá nặng nề, khi các Luật tục Thái ngàn đời bảo vệ Rừng và muông thú bị sự ngu dốt, tham lam và nghèo đói giết chết thê thảm chẳng khác gì cuộc chọc tiết nai tơ vô tội đáng yêu lúc chúng còn rúc vú mẹ! Sự ngu dốt và tham lam đó, trong tâm tưởng Chang vào lúc này, đã nguy hiểm hơn mọi thứ Ma trên quê hương em, như Ma lớn (phi luông), Ma bé (phi nọi), Ma rừng (phi pá), Ma ruộng (phi na), Ma cà rồng (phi phống, phi Xngạn)… Ông Mo từng kể: vào lúc gian nan của mường Thái thì Ma cà rồng sẽ xuất hiện càng nhiều để hút máu người sống lẫn người chết, chúng thường biến thành con đom đóm xanh lè to bằng nắm tay trẻ em bay lập lòe ngoài cửa sổ… Nhưng đợt lũ dữ dằn này hình như đã đánh bạt mọi loại Ma, kể cả Ma cà rồng! Lũ đã trở thành thứ Ma khủng khiếp nhất đe dọa sự làm ăn, sự yên bình và sự sống của mọi người trong mường bản…

Trong ánh trăng mờ cuối tháng phủ sương, Chăng thấy nước đã rút xuống qua khỏi sàn nhà tự bao giờ, nước chỉ còn ngập cột sàn hơn một mét. Em run lên vì mừng. Ngôi nhà của em nằm lẻ loi, xa nhất bản, nên chắc các đoàn cứu hộ sẽ tới sau cùng. Em muốn hét to lên kêu cứu, nhưng không đủ sức nữa. Khi run rẩy hy vọng vì thấy cảnh ngộ của bản, của ngôi nhà thân yêu và của bản thân mình đã sáng sủa hơn, thì đồng thời Chang bắt đầu thấm cái đói, cái rét tận xương tủy… Em hoảng sợ thấy mình đang rời cõi sống, đang biến thành “phi” (hồn ma) tội nghiệp mà chưa kịp làm được gì cho bố mẹ và các em - với tư cách là cô chị cả; và như thế, dù không bị Then Xội cõi Âm trừng trị, em đâu có đủ tư cách để lên Mường Trời nữa!… Ông Mo từng nói cho bọn trẻ háo hức hiểu biết trong bản rằng: chỉ có phi Tổ tiên và phi chủ cõi Trời thì mới tồn tại mãi mãi, còn các “phi” khác thì có sống có chết. Khi chết, “phi” biến thành “phí” - loài nấm bám ở thân cây, “phí” chết biến thành loài ve sầu kêu bên rừng. Ve sầu chết lại biến thành rong rêu trên đất để hòa nhập vào thiên nhiên vĩnh cửu… Sao lúc này Chang lại nhớ như in mấy câu trong bài “khắp hảy phi tai” (hát khóc người chết) của thầy Mo mà em được dự đám tang bác gái em, bị chết oan vì không có tiền đi bệnh viện Tỉnh, theo bố em kể, vào hồi đầu năm ngoái: “Hết đời người mình mới lên trời/ Mình yêu mường trời hơn mường người/ Con côi ngấn mắt đau thương/ Giương mắt ngóng!” Và mấy lời cúng tiễn thê lương chân thành của ông Mo: “Ô hô! Mười đắng mới có một ngọt, mười cay mới có một bùi! Mười bản không bằng bản rụng rốn, mười mường chẳng bằng mường chôn nhau... Đất người dù gạo chất đống, chớ cắp đòn gánh đến lân la… Con gái ra suối múc nước đứng ngóng, con trai ra đồng mót lúa ngồi mong! Đi đường nước được cá chép cá trắm, đi đường cạn được con hoẵng con nai. Đi không vấp, về không vướng, ngủ ngon ở lành…”. Nếu mình chết, và đúng là chết oan, thì liệu có được khóc bằng bài “khắp hảy phi tai” không, khi mà sẽ có biết bao người lớn, trẻ con phải chết oan sau trận lũ kinh hoàng này? Và ông Mo duy nhất của bản liệu có thoát khỏi lũ cuốn, lũ ống, dù ông là phù thủy tốt hiểu được toàn bộ lẽ tự nhiên xưa - nay của mường Thái? Những bài học nằm lòng về se sợi, dệt thổ cẩm được mẹ chỉ tay truyền dạy cho từ lúc còn học mẫu giáo đến nay, thế là phí phạm mất rồi! Và ý tưởng đang trở thành hiện thực của cô giáo Chủ nhiệm lớp 7 về làng nghề Thổ cẩm cần phục hồi tại xã nhằm cung cấp sản phẩm cho một Công ty Du lịch mới phất trên Tỉnh, cô huy động tất cả mấy đứa trò gái khéo tay của trường làm nòng cốt, nhưng thế là sẽ không có mình nữa… Chang chợt ứa nước mắt thương thân, thương cô giáo, thương các bạn gái được cô giáo chọn đưa vào nhóm sản xuất thí điểm. Nỗi xót thương sâu nặng tới độ rút cạn chút sức lực cuối cùng khiến Chang mê man đi, trời đất quay cuồng đảo lộn, em buông tay rời chiếc Khau cut để cả thân hình nhỏ nhắn sắp thành thiếu nữ cứ thế lăn trượt mấy vòng trên mái phibrôximăng ẩm ướt…

***

Tờ mờ sáng hôm sau, các chiến sĩ Biên phòng và các nhóm công tác cứu hộ sau mấy ngày giúp dân bản vật lộn với Tử thần cuối cùng đã tìm thấy cô bé 13 tuổi nằm trong đống bùn nhão sát chân cột sàn, bên cầu thang gỗ dẫn lên Chan(4). Em rơi từ nóc nhà sàn xuống lúc nước vừa rút gần cạn sân nhà, mặt bùn lẫn cây cỏ đã vô tình làm nệm đỡ tự nhiên ở đằng lưng. Bởi thế khắp người phủ đầy bùn, tóc tai nhơ nhớp bùn, nhưng khuôn mặt em là khoảng duy nhất dường như bùn né tránh, để mọi người có thể nhận ra rằng: em đã về Mường Trời với đôi má tuổi thơ ửng hồng trong bất kỳ cảnh ngộ nào, cùng nụ cười êm dịu có khả năng hóa giải mọi thù hận thế gian sau những mơ ước và tình thương cuối đời. Em không bao giờ được biết bố mẹ mình đã bị lũ cuốn mất tích khi ở trên nương, cậu em út cùng cả lớp bị đất sụt lở vùi lấp cho tới lúc đó chưa tìm thấy xác em nào, còn cô em gái kế vừa được moi ra khỏi bùn, đang cấp cứu ở trạm xá liên bản… Thế là em sẽ khỏi mang theo nỗi đau lòng vào buổi phi biến thành Ve sầu khiến tiếng kêu của nó bớt bi thương. Và điều an ủi lớn nhất của linh hồn em đang vất vưởng, là cô em gái thân thiết cùng hơn chục trẻ mồ côi khác chắc chắn sẽ trở thành con nuôi của cả bản Thái nghèo. Và cô bé chính là người duy nhất hiểu được nụ cười chợt dừng lại của em, là người đang hy vọng được chị gái giới thiệu vào cùng nhóm sản xuất Thổ cẩm thí điểm, để vùng quê em dần dà nhất định sẽ có truyền thuyết mới về loài Chim lửa - Nộc phay như biểu tượng của Tình yêu và Khát vọng sống của người Thái hôm nay, chứ không còn là hiện thân của những người chết đói tháng ba, những người đi tìm gạo ở mường xa bị lửa cháy rừng thiêu chết bay trở về tìm người thân vào mùa lúa chín suốt bao đời…

------

1. Khau cút là vật trang trí mang biểu tượng văn hóa độc đáo trên nóc nhà sàn của đồng bào Thái đen vùng Tây Bắc, được làm từ hai thanh gỗ hoặc tre dựng chéo nhau ở hai đầu hồi. Các loại Khau cút mang hình dạng khác nhau thể hiện những ước vọng của người Thái, ngoài ra còn có chức năng chống gió lật mái.

2, 4. Chan, Quản: hai mặt sàn bên phải và bên trái trên nhà sàn người Thái,  làm bằng tre nứa gỗ; nhưng chỉ có Chan là lộ thiên, còn Quản là phần sàn nhô ra được che bởi mái của trái nhà. 

3. Pí tam lay là nhạc cụ bằng nứa của dân tộc Thái dành riêng cho trẻ em trǎn trâu và cho nam giới sử dụng khi canh lúa ở ngoài ruộng, nương, hoặc dùng để cầu mưa; nhạc cụ này kiêng không dùng trong mường bản.

Hà Nội, tháng 11- 2025

MA NAT

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 941)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 726)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1486)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1586)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1227)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9943)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16781)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16207)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3123)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5304)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7318)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6665)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 941)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 726)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2422)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2265)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2508)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2493)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1227)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13620)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29724)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35749)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10863)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12701)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3339)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3624)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4171)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7859)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7170)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10009)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.