- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KHĂN PIÊU DÍNH MÁU

27 Tháng Chín 20256:04 CH(Xem: 9281)
KHAN PHEU
Khăn Piêu - ảnh INTERNET

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

KHĂN PIÊU DÍNH MÁU

Truyện ngắn.

 

Hắn lơ mơ tỉnh dậy lúc gà gáy sáng lần thứ hai. Đầu choáng váng, hậu quả của cuộc rượu tối qua. Đã lâu lắm, trong lần kỷ niệm của cựu sinh viên trường cũ 15 năm trước, hắn mới có một trận say không còn biết trời đất là gì như thế.

      Loáng thoáng giấc mơ quái dị đêm qua: chiếc khăn Piêu hắn vẫn treo một góc giá sách chẳng hiểu sao bỗng dưng ướt đẫm, ép dẹp vào trong, màu đỏ hồn nhiên chủ đạo của khăn lại có vẻ nghẹn ngào. Hắn kéo chiếc khăn, hóa ra nó dính vào gáy mấy cuốn sách bằng máu chưa khô tạo ra những hình thù tựa chữ cổ khắc trên đá…

      Ánh sáng đèn đường lọt khe cửa làm hiện một tờ giấy với những dòng nguệch ngoạc gài vội đầu giường. Hắn không dám động đến như sợ bỏng tay.

      Đây là lá thư thứ ba.

Còn 5 năm trước, hắn nhận được lá thư đầu tiên em gửi về Hà Nội, em thổ lộ là đã thầm yêu hắn từ ngày ấy…

      Đó là ngày hắn lên một Thị xã xa xôi miền núi phía Bắc làm một phim tài liệu khoa học về rừng đầu nguồn, theo yêu cầu của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh, qua sự giới thiệu của Lò Trung bạn hắn, cán bộ cơ quan này, người đã có hai công trình nghiên cứu in sách. Sáng ngày quay đầu tiên đúng vào Chủ nhật, em đưa học sinh đi tham quan ngoại vi Thị xã. Ống kính máy quay đã ghi lại được hình ảnh học trò nhỏ cùng một cô giáo trẻ đứng quây quanh nhà Thái học Lò Trung, bên một vũng nước sâu, chăm chú nghe anh kể chuyện nơi trú ngụ của thần thuồng luồng - chúa tể suối Tông… Ngày trước, từ đây dọc theo con suối Tông về phía đầu nguồn là một cánh rừng nguyên sinh rậm rạp. Vũng nước sâu này từng trong xanh đến rợn người, có tiếng linh thiêng, không ai dám đi qua đây một mình. Có việc cần đi qua, ai cũng phải cúi lạy. Phụ nữ phải bỏ khăn piêu xuống lặng lẽ bước. Phìa - tạo (chủ mường chủ bản) cũng phải xuống ngựa đi bộ. Tương truyền, có một tốp con gái lên rừng hái lá dong, cô xinh nhất đã trượt chân rơi xuống hang sâu mất tích. Hôm sau, một gánh lá dong nổi lên tại vũng nước này. Người ta nói, cô gái ấy đã bị thuồng luồng bắt về làm vợ… Người dân vùng này đều coi đây là rừng thiêng vào bậc nhất, không ai dám vào để hái măng kiếm củi khô chứ đừng nói đến việc chặt cây phá rừng! Suối Tông chảy ra dòng Nậm Lung tận Thị xã rất nhiều cá nhưng không ai dám đánh bắt. Luật tục Thái nói rõ: rừng thiêng thờ cúng thần linh, ai xâm phạm sẽ bị phạt nặng… Em chủ động hỏi thêm Lò Trung mấy điều, rồi tranh luận sôi nổi với anh, toàn bằng tiếng địa phương. Sau đó Lò Trung cho biết: anh với cô giáo Lay đều là người Thái đen nhưng quê ở hai vùng cách xa nửa ngày đường ô tô. Không chỉ giáo viên trường em mà cả các giáo viên dạy văn dạy sử cấp Phổ thông trung học toàn tỉnh đều coi anh như người thầy về văn hóa Thái của mình… Những ngày đoàn phim nghỉ tại nhà khách Công đoàn, Lay thường tới thăm, trò chuyện với hắn có buổi tới khuya, hắn phải nhắc khéo ngày mai phải quay sớm, em mới tạm biệt vẻ lưu luyến khó rời… Sau một lần giảng cho Lay một đoạn thơ Kiều trong chương trình bổ túc, em đề nghị Ban Giám hiệu mời hắn tới trường phụ đạo miễn phí cho thầy trò một buổi về Nguyễn Du và Truyện Kiều

      Trong lá thư đầu ấy, em tâm sự: “…Lúc nhìn anh mồ hôi ướt đẫm chỉ góc máy cho cậu quay phim và giải thích về cảnh quay em hiểu là anh yêu văn hóa dân tộc em đến thế nào… Buổi anh nói chuyện về Kiều, em và các cô giáo trẻ đã ứa nước mắt trước cảnh một người con gái trong trắng dịu dàng bị đẩy ra trước một thằng đàn ông xa lạ thô bỉ, một mụ đàn bà trơ trẽn, để chúng xem xét mặc cả như một món hàng… Anh ạ, em đã có gia đình, hai con nhỏ một trai một gái đang là học trò của em… Nhưng chồng của em chẳng may là một kẻ vũ phu nghiện rượu, không bao giờ em có thể “khắp” (hát Thái) nổi một bài dân ca em yêu thích hay hát được một bài hát quen thuộc nào khi có anh ta kể cả lúc đã “máu lẩu” (say rượu) hay chưa có giọt rượu nào trên môi… Tối qua uống say về, anh ta đã bạt tai em dúi dụi vì biết em đi theo đoàn làm phim, đã trò chuyện thân thiết với anh… Nếu anh ta thương em, yêu em thật lòng, thì dù anh ta ít học thô lỗ, em cũng cảm thông được với sự ghen tuông!… Em đã chạy vào phòng ôm đứa con gái đang ngủ và khóc một mình, nhớ về anh… Em chợt yêu anh quá… Đừng trách giận em nhé, em thực lòng đó anh, em dám vứt bỏ tất cả để theo anh cùng trời cuối đất! Người Thái em có câu: “Yêu quý người nào thì muốn bồng muốn cõng người đó trên lưng” mà… Anh chẳng có chút gì giống với kiểu đàn ông mà dân tộc em rung mõ báo động: “Anh lội suối - đục suối, bước lên sàn - người lạ chạy run, vào bản - gái bản hết hồn… Người thế thương được a?”. Qua một người trong đoàn phim, em biết anh cũng không có hạnh phúc, vợ anh bỏ đi Tây xuất khẩu lao động hơn 10 năm, con gái thì bên ngoại nuôi, anh chỉ lao đầu đọc sách làm phim… Chúng ta cùng cảnh ngộ anh ơi! Nhưng anh đừng lo, em không có đòi hỏi gì cao xa, không dám mong anh sẽ gắn bó với đời em… Em chỉ hy vọng được gặp lại anh trên Thị xã buồn chảy ngập rượu này, cái Thị xã đang bắt đầu phá bỏ rừng thiêng để kiếm cái ăn này, để được khóc trên vai anh, dù chỉ một lần nếm vị ngọt của tình yêu mà em không hề được biết từ khi học trung học tới khi về nhà chồng, cho đến tận đêm nay viết cho anh trong nước mắt…”

      Lá thư của một phụ nữ Thái đã “tằng cẩu” (búi tóc cao, tức có chồng) làm cô giáo gần 10 năm cùng ấn tượng sau năm lần gặp gỡ giúp hắn hình dung khá rõ nét  một tâm hồn nhiều mơ mộng, yêu thơ văn, thích ca hát, ham hoạt động xã hội, nhưng bị đè nén lâu bởi cuộc sống có người chủ gia đình thừa rượu thiếu học vấn, nhiều sức lực ít tình yêu thương, đủ lời cay nghiệt mà không chút cảm thông, và càng đè nén sức bật càng sôi sục… Cuộc gặp hắn tình cờ quả là giọt nước làm đầy tràn cốc nước, với bản tính hồn hậu của người miền núi, em đã bày tỏ tình cảm hết sức chân thật. Còn hắn, ngờ đâu lại là một thứ “tình yêu sét đánh” đối với người con gái vốn khao khát tình yêu nhưng không có tình yêu, cả trước lẫn trong cuộc hôn nhân chỉ còn có ý nghĩa trên pháp lý!

      Hắn định viết thư trả lời ngay, hay gọi điện thoại tức thì để em khỏi chờ mong. Nhưng hắn sẽ phải viết gì, nói gì đây? Hắn còn ngỡ ngàng trước tình cảm của em, chưa có sự tĩnh tại cần thiết để lý giải cảm xúc bản thân... Thế là hắn nén mình lại để tập trung hoàn thiện hậu kỳ bộ phim suốt gần tháng trời, và quyết định sẽ tìm gặp em vào dịp lên thanh lý hợp đồng phim. Tới lúc đó, biết đâu em sẽ coi “những dòng thư nước mắt” kia chỉ là tâm trạng nhất thời dại dột?

       Tròn một tháng sau, hắn ngược Tây Bắc để trả phim, và đến với nơi có một người chẳng biết còn chờ mong mình như hứa hẹn hay không… Trên chuyến xe đêm ngập bóng tối đường trường, hắn bồi hồi với kỷ niệm tuổi trẻ giờ quấn quýt thêm chiếc khăn Piêu của một thiếu phụ có đôi mắt buồn thăm thẳm trên gương mặt tươi vui tinh nghịch tựa cô gái mới lớn… Hắn mơ màng sống trong lời em nói về rừng thiêng quê em, trộn lẫn lời của nhà Thái học bạn hắn: Người Thái từ xưa cho rằng rừng thiêng là nơi ngự trị của thần linh… Trước đây cứ vài năm một lần, người ta phải tổ chức lễ cúng trâu tại những cánh rừng thiêng. Có niềm tin: những con thú bị thương trong một cuộc đi săn khi chạy trốn vào rừng thiêng sẽ được thần linh bảo vệ, người đi săn thấy con thú đã chạy vào đó thì không dám truy đuổi nữa... Rừng thiêng nghiễm nhiên trở thành nơi trú ngụ an toàn của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Bao đời rồi, người Thái vẫn sống bình yên như vậy và truyền nhau lưu giữ những điều cấm kỵ, để họ còn có được một cánh rừng già hiếm hoi, quý giá như chính sự sùng kính tổ tông và những điều thiêng liêng nhất. Luật tục Thái quy định: rừng phòng hộ ở đầu nguồn nước tuyệt đối cấm khai thác; rừng dành cho việc khai thác tre, gỗ để dựng nhà, phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống thì tuyệt đối không được chặt đốt làm nương… Ở mỗi mường đều có "minh bản nen mương" (hồn thiêng bản mường), có nơi chôn "đắc mương" (cột hồn mường). Đầu mường có "rừng hồn chiềng" gọi là "tu xen", cuối mường có "rừng hồn chiềng" gọi là "tu pọng", cạnh mường có khu rừng mang tên "chiềng kẻo" là khu rừng chôn cất người quá cố. Các rừng này đều là rừng kiêng cấm, không được chặt phá... Mỗi bản cũng đều có những cánh rừng cấm, đó là rừng đầu nguồn, rừng ma... Nhiều bản còn có những khu rừng tre, rừng vầu cấm chặt phá gọi là "pá nó hảm" (rừng măng cấm). Sau những trận mưa đầu mùa, măng mọc rộ, người ta mới tổ chức cho cả bản vào rừng hái măng. Sau đó lại “đóng cửa” chờ đợt măng mới hoặc đến mùa măng sau. Các bản xưa còn có những cánh rừng nguyên sinh dành cho dân bản săn thú, không ai được vào đẵn cây đốt cỏ. Những khu rừng "đon khuông" được coi là rừng của thần linh trú ngụ, thì tuyệt đối không được chặt phá dù chỉ mảy may, nếu ai xâm phạm thì sẽ gặp hậu quả khôn lường...

      Trong buổi chiếu trình duyệt phim tại Sở KH & CN có mấy lãnh đạo Tỉnh dự, em cũng được Lò Trung mời đến. Em mặc áo cóm mới màu cà tím quấn cạp xanh nõn chuối đeo xà tích bạc dường lấp lánh muôn vụn ngọc dưới ánh đèn tựa bà Chúa hoa rừng khiến hắn ngây ngất. Sau phần giới thiệu của bạn hắn, thấy không nhắc đến em, hắn chủ động đứng lên: “Thưa các nhà khoa học, các nhà Thái học, thưa đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy! Thay mặt đoàn làm phim, tôi xin bày tỏ lòng cám ơn tới tất cả mọi người có mặt ở đây, tới đồng bào vùng Nậm Tông đã giúp chúng tôi ghi được nhiều tư liệu sinh động chân thật về rừng thiêng, và tới cô giáo Lay đây, người đã cùng nhà nghiên cứu văn hóa Lò Trung cung cấp những kiến thức quý về phong tục tập quán địa phương, về Luật tục Thái để bộ phim được hoàn thành hôm nay…”. Tiếng vỗ tay rào rào. Em đỏ bừng mặt. Vì xấu hổ hay tự hào vui sướng? Chắc cả hai. Cơ quan Lò Trung yêu cầu hắn làm thêm mấy bản phim lồng tiếng Thái, tiếng Mông, tiếng Mường, và Lò Trung tiến cử luôn em sẽ là người đọc thuyết minh tiếng Thái…

      Sau hôm đó, hắn với em đã sống trong “Tuần trăng mật” của một tình yêu mà em bảo là “Yêu trộm” nói theo phong tục người Thái… Em đưa hắn về thăm ngôi nhà cấp 4 gần trường, xa bản em 7 cây số mà em thuê để nghỉ ngơi sau giờ dạy học và soạn giáo án, ngôi nhà đồ đạc sơ sài, có giá sách nhỏ, độc đáo nhất là chiếc giường tầng cá nhân em xin được từ trường nội trú dân tộc thải ra… Một đêm, bên con suối đầu nguồn Nậm Tông, sau cái hôn dài đắm đuối mà cả em lẫn hắn chưa từng có trong đời, em ngậm ngùi: “Anh ơi! Người con gái Thái có chồng rồi thì không được chơi bời ngoài bản, nhưng họ vẫn thầm yêu trộm nhớ... Họ giống như con trâu cái, cứ mỗi lần cỏ mọc lại muốn đạp bỏ cái chuồng chật chội để đi hoang, đi thật xa vào các thung lũng ẩm ướt ngập hương cỏ mật… Nhưng gái đã có chồng như bị trói, gái có con như nhựa dính... Em cũng muốn làm theo lời ông em: đi suối nào phải đến tận ngọn của suối ấy! Nhưng em đang ở cái cảnh: cúi xuống cũng sai, ngẩng lên cũng trái, lỗi chỉ bằng con muỗi, quay phắt lại thành con trâu mất rồi! Tình yêu của em đã hại anh, hại cả em! Luật tục quê em nghiêm khắc với việc “Yêu trộm” chẳng kém việc phá Rừng thiêng đâu anh…”

      Hắn nhẹ hôn lên đôi môi vừa thốt lên lời xót xa ân hận như tìm cách cảm nhận hết nỗi đau lòng của em để lựa lời an ủi.

- Nhưng đó là sự an phận của người con gái Thái xưa kia! Em là một cô giáo của thời công nghệ điện tử cơ mà! Anh biết em đã sống ly thân hai năm nay… Dù không gặp được anh hay một người đàn ông nào xứng đáng, em cũng không thể kéo dài cái cuộc sống địa ngục ấy thêm ngày nào nữa!

       Em đã trả lời “diễn văn” hùng hồn đó của hắn bằng giọng thấm nước mắt:

- Chồng em... Em không yêu, chưa hề yêu, nhưng em đã trót có hai mặt con với người ta… Với lại, vợ chồng đâu dễ lấy, quả cây đâu dễ thành! Dệt ba lần vải mới quen khung cửi, ba mặt con mới thật là vợ chồng!

- Năm nay em có bằng tốt nghiệp bổ túc Phổ thông trung học, thi Đại học đi, anh sẽ phụ đạo cho. Ngành sư phạm đang thiếu nhiều những giáo viên văn có năng lực cảm thụ văn học và vốn văn hóa dân gian miền núi như em… Tương lai học vấn đó cũng sẽ cần cho cả các con em nữa…

       Em im lặng ngả đầu trên vai hắn. Lúc lâu sau em mới khẽ khàng:

- Cảm ơn anh đã yêu thương đứa con gái dân tộc ít học này… Mấy ngày qua, sống bên anh, em như được sống trên miền Thượng giới mà “Mo Khuôn” (Mo Hồn) của ông cha em đã tả thật hay…  

Em lấy từ túi vải luôn đeo trên người một chiếc khăn piêu.

- Em gửi anh mảnh piêu chính tay em dệt để luôn nhớ đến người con gái đáng thương không có hạnh phúc… Khăn piêu là tín vật không thể thiếu của mỗi cô gái Thái, anh ơi! Khăn piêu em thêu những đóa hoa ban trắng trên nền xanh mà người Thái gọi là “lãi bók ban”, mỗi bông hoa trên piêu đều có hoa đực và hoa cái sóng đôi… Đêm nay ở đầu nguồn rừng thiêng này, em dâng hiến anh lần cuối tình tuyệt vọng của em, và ta cùng cúi xin ông cha em tha thứ vì đã phạm một Luật tục ngàn đời…

      Lúc đó, nếu không có nỗi cảm thương tràn ngập không gian, hắn đã phải bật cười nhẹ vì những lời lẽ cứ như lấy ra từ tiểu thuyết ngôn tình mà chắc em và các cô giáo trẻ thường đọc… Cái tình cảm mới mẻ hắn tìm thấy sau bao năm tháng nghi ngờ về Tình yêu - Hạnh phúc của bản thân khiến hắn đã phải uống từng lời em tựa sương đêm đọng trên chiếc khăn piêu hơi vổng lên bởi búi tóc tằng cẩu chẳng biết khi nào mới gỡ bỏ xuống… Nhưng không ngờ em đã tháo khăn piêu, rút trâm cài để tóc xõa tràn ngực hắn. Cứ thế, em ôm hắn cùng mái tóc dài của em trong vòng tay hồi lâu, thầm thì: “Tạm biệt anh yêu… Đừng bao giờ quên em nhé…”

       Làm sao hắn có thể quên được người con gái này, quên được những lời yêu như thế đến với hắn tựa sao băng vụt qua cuộc đời nhiều u uẩn, nhiều thất bại của hắn!

       Suốt mấy năm sau đó, hắn phiêu bạt làm phim viết báo ở nhiều vùng đất miền Trung, miền Nam, hắn chỉ nhận được một lá thư trả lời của em sau nhiều thư hắn gửi lên không có hồi âm. Em đã dặn hắn không được gọi điện, kẻo chồng em, người nhà chồng hay bạn em dò biết được chuyện của chúng ta thì phiền lắm, ngay trường em có cô giáo ngoại tình mà bị đuổi khỏi ngành… Cũng có lần tìm được dịp để lên xứ núi nhớ thương ấy, song hắn lại tìm cớ hoãn lại, bởi hắn tin: em và hắn sẽ không thể kiềm chế nổi lòng mình khi gặp lại nhau…

      Lá thư này, em chỉ kể lại một truyện cổ dân tộc Thái về khăn Piêu (mà em thật thà bảo là do anh Lò Trung kể cho em): “Ngày xưa, có một mường toàn phụ nữ được gọi là Mường Mẹ, đàn ông ở bất kỳ nơi nào dù vô tình hay cố ý lạc vào đều bị xua đuổi, thậm chí bị sát hại nếu không chịu rút lui. Một hôm có một chàng trai “lạc” vào Mường Mẹ và được một cô gái xinh đẹp yêu thương. Hai người quyết tâm vượt qua mọi qui định ngặt nghèo bao đời để cùng nhau chung sống. Đôi yêu nhau bàn bạc rồi chàng trai về thưa với Mường Bố. Mường Bố cho đây là duyên trời nên bèn cùng nhau sang thưa chuyện cùng Mường Mẹ. Mường Mẹ quyết giữ luật tục từ xưa. Mường Bố đành đưa người sang đe dọa. Mường Mẹ yếu thế buộc phải chấp nhận bỏ lệ cũ, cho phép đôi trẻ xây dựng gia đình. Mường Mẹ cho các thiếu nữ  thêu chiếc khăn gọi là “piêu” rồi in dấu vân tay họ làm chứng, gọi là “cút piêu” và làm các tua vải mầu gọi là “pui piêu”, tượng trưng cho sự gắn kết thủy chung…”. Hắn kẹp lá thư đó trong cuốn sách “Thơ chữ Hán Nguyễn Du” mà hắn luôn mang theo bên mình cùng đồ nghề…

       Sau 5 năm hắn xa xứ núi ấy, Lò Trung gọi: cơ quan anh lại tha thiết mời hắn lên làm một phim tài liệu phóng sự về việc phá rừng tràn lan đến độ báo động, đặc biệt là rừng đầu nguồn có nguy cơ bị hủy hoại hoàn toàn. Anh bảo: mấy năm qua, cũng như nhiều nơi khác, người dân vùng này đã phá rừng ngày một táo tợn để trồng lúa trồng ngô… Mới đầu, một số người trẻ tuổi không biết sợ thần linh là gì đã dám xâm phạm rừng thiêng đầu nguồn. Thấy việc phá rừng không bị sao, nhiều người khác cũng lao vào phát nương làm rẫy. Chỉ vài năm sau, cánh rừng thiêng đã bị phá gần hết trước những đám đông được bảo kê mỗi lúc một cuồng dại tìm kiếm cái ăn từ rừng. Những người già cố ngăn cản con cháu nhưng bất lực, họ đành báo trước tai họa tất sẽ ập đến, bởi thần linh trừng phạt... Thế rồi, con suối Tông vốn là một nhánh cung cấp nước đáng kể và ổn định cho dòng Nậm Lung bỗng nhiên bị cạn kiệt về mùa khô, và lũ quét lũ ống xuất hiện vào mùa mưa. Chuyện chưa từng thấy trong lịch sử vùng này đã diễn ra: Một cơn lũ kinh hoàng đã tàn phá toàn bộ Thị xã, thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, 306 ngôi nhà gạch nhà sàn bị cuốn trôi, 45 người đã thiệt mạng... Và bãi Tông cùng dòng Nậm Tông - nơi bảo tồn, cung cấp các loại giống thuỷ sản cho cả dòng Nậm Lung đã trở thành bãi cát đá trơ trụi khổng lồ tựa thời tiền sử! Lò Trung thốt lên lời than của những người Thái hiểu biết giàu lương tâm: “Bạn quý của tôi ơi, đó là sự trừng phạt của thiên nhiên, là hậu quả của những người vô thần, coi thường quy luật và sức mạnh của tự nhiên. Họ cho rằng không có thần thánh hay lực lượng siêu nhân nào cả. Đúng, thần thánh thì không có, nhưng sức mạnh của tự nhiên thì còn hơn cả thần thánh nữa! Tiếc thay, nhiều cánh rừng đã bị “giải thiêng”. Nhiều luật tục, trong đó có luật tục đầy tính nhân văn và khoa học đã bị rơi rụng, nhiều quy định đã bị xóa bỏ không thương tiếc, vì cho rằng những gì thuộc về luật tục đều là lạc hậu… Bạn hãy lên ngay nhé, cùng giúp người Thái chúng tôi biết yêu rừng trở lại, hiểu sự cần thiết phải giữ rừng, phải khôi phục rừng đầu nguồn…”

      Thế là hắn có cớ chính đáng để trở lại mảnh đất hắn chờ mong bao ngày tháng, mảnh đất “đầy nguy hiểm” đối với chuyện riêng tư của hắn và em. Nhưng hắn đã có cái bùa “Luật tục Thái” bảo hộ người làm phim làm báo, dù hắn đã vi phạm một Luật tục cổ xét cho cùng là bất nhẫn đối với nữ giới cả xưa lẫn nay…

        Sau 5 năm, em vẫn xinh đẹp như trước, lại thêm vẻ quyến rũ đầy ma mị tuy có phần đẫy đà chững chạc hơn. Hắn gặp lại em tại căn nhà cũ em vẫn thuê. Lúc đầu em thoáng có vẻ bối rối, sau đó lấy lại vẻ lịch sự cần có của một thiếu phụ hiếu khách. Em mời hắn tới dự một cuộc liên hoan nhỏ, vào buổi tối - ngay tại nhà em cho ấm áp tình cảm - em bảo thế. Nhân dịp gì vậy em? - Chả là có mấy người bạn doanh nghiệp mới của chúng em dưới xuôi lên bàn liên kết kinh doanh, và… - Doanh nghiệp gì, và kinh doanh gì thế? - Bí mật đã anh! Với lại, để chúc mừng nhà báo Trung ương bạn em thăm lại… - Chỉ là bạn thôi à? - Hứ, anh còn hơn là bạn nhiều… Sao anh hỏi ác thế - Ánh mắt em long lanh và thoáng ướt vẻ bồn chồn nhớ nhung.

       Trong cuộc rượu khá sang do em bày đặt có cả ba cô gái xinh xắn làm “tiếp tân”, họ son phấn tưng bừng, váy hồng mỏng tang, chỉ chiếc áo cóm trắng tinh có hàng cúc bướm bạc sáng lóa cho biết là gái Thái. Ngay từ đầu hắn đã hiểu: hóa ra hắn chỉ là khách mời bất đắc dĩ, tình cờ. Không sao, miễn là trong trái tim em còn dành một góc nhỏ cho hắn… Hắn cứ ngây thơ yên chí như thế, cho tới lúc một người “bạn doanh nghiệp” của em trong hơi men chuếnh choáng giơ chén rượu lên đòi uống chéo tay với hắn. “Tôi nghe Lay có lần kể về nhà báo rồi, Lay khen anh nhưng bảo: anh ấy là con người ngây thơ lắm nên cả đời nghèo túng. Sẽ có dịp giới thiệu với các anh, và mong mọi người giúp anh ấy tỉnh ngộ, kéo anh ấy vào con đường kinh doanh mới…” - “Cám ơn! Nhưng xin lỗi, con đường kinh doanh mới đó là gì thế ạ?”

      Trừ Lay, cả 5 nhân vật trong cuộc rượu nhìn nhau rồi cười phá lên, nhìn hắn đầy vẻ thương hại và thông cảm.

       Chủ nhà liền đứng vụt lên cất tiếng lanh lảnh:

- Các anh ạ, em xin đính chính ngay: không phải em bảo là “kéo anh ấy vào con đường kinh doanh mới“ đâu! Em chỉ bảo: mong các anh sẽ giúp anh ấy thức thời hơn…

Nói xong, em tự tay đặt vào bát hắn miếng thịt nướng thật to với lời giới thiệu trịnh trọng:

- Nai rừng đấy anh! Chắc là anh may mắn được thưởng thức con cuối cùng rồi…

      Mọi người cười ồ lên, nói cười vui vẻ, chớt nhả. Một nhân vật ra dáng đàn anh của cả bọn giơ tay như trấn át, giọng đã lè nhè:

- Anh nhà báo đây là bạn cũ của em Lay, vậy là một bảo đảm bằng vàng rồi! - Anh ta quay sang hắn - Nhà báo ạ, chúng tôi đã được Lay cho xem phim anh làm về rừng đầu nguồn. Rất kính nể. Có điều, những điều nhà báo nói mấy năm trước giờ đây đã lỗi thời! Cả câu khẩu hiệu “Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế” đang được tung hô hiện nay cũng chỉ là cái chiêu bài thôi! Những người quan trọng nhất nơi đây đã bật đèn xanh cho bọn tôi được phép chuyển đổi rừng triệt để, phá bỏ hết các luật tục cổ lỗ để đem lại sự giàu có cho người Kinh người dân tộc xứ này… Chúng tôi đã mua tặng Lay một căn hộ biệt thự liền kề giữa trung tâm, đã giao dịch để sang năm Lay trở thành Trưởng phòng Giáo dục Thị xã, như một cách trả ơn em đã ủng hộ bọn tôi hết lòng trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo xây dựng thiên đường hạnh phúc cho địa phương miền núi mới chỉ giàu có tiềm năng này… Hơ hơ… Nào, cạn chén để cùng em Lay tạm biệt ngôi nhà sẽ đi vào lịch sử như một căn cứ địa của nghèo đói này…

      Hắn nhìn Lay. Đôi mắt em vẫn long lanh, nhưng còn đâu vẻ thoáng ướt của kỷ niệm xưa, của nỗi mừng tủi khi gặp lại hắn. Cái long lanh của niềm tự đắc, tự hào bóng nhẫy khi vây quanh em là những doanh nhân khét tiếng “thành đạt” có quan hệ sinh tử với các nhân vật chủ chốt nắm quyền sinh sát đối với mọi vấn đề Dân sinh địa phương, những doanh nhân thế kỷ có uy lực hơn mọi Chúa đất của vùng Thập châu Thái xưa…

      Hắn chẳng thiết tham gia chuyện trò gì nữa, lầm lỳ cạn hết chén này đến chén khác khi được rót đầy chén cùng tiếng hô đồng thanh ”cạn chén”, “au hoảnh” (hết nhé), mong dìm sâu những cảm nghĩ tồi tệ cứ mỗi lúc một thôi thúc đòi ngoi lên khuấy đảo hắn…

      Lúc thức dậy, hắn thấy mình nằm trơ nơi từng ghi dấu cuộc tình mưa bóng mây  song đau đớn thay, lại hằn vết bỏng suốt đời hắn… Hắn rón rén cầm lá thư như một kẻ ăn trộm, bật đèn lên và đọc với tâm trạng của kẻ sắp bị hành hình.

“Anh ơi! Gặp lại anh, em bất ngờ quá, và xúc động vô cùng… Bao lâu nay em vẫn nhớ về anh…”

       Hắn chợt thấy ân hận. Mình thật có lỗi khi đã không gửi lên cho em những cuốn sách dịch văn học kinh điển như đã hứa, bởi nếu vậy biết đâu hắn sẽ không phải chịu đựng lối thể hiện tình cảm che đậy vụng về sự phá sản một thứ thiêng liêng đã trót mọc rễ trong lòng hắn, và để thanh minh một cách bẽ bàng: “... Nhưng em xấu hổ lắm… Em không còn là cô giáo Lay dễ thương như xưa nữa đâu anh ơi. Anh Trường, chủ doanh nghiệp đã cưu mang mẹ con em sau khi ly dị chồng… Em ôm một con nhỏ ra đi hai bàn tay trắng, còn đứa lớn anh ấy nhận nuôi song rồi không nuôi được, lại gửi trả em khi đã phá nốt gia sản còn lại trong các cuộc rượu chè… Anh bảo, một cô giáo Phổ thông cơ sở làm sao xoay sở nổi với đồng lương thưởng bèo bọt lại luôn bị chậm bị cúp phạt, ngay căn nhà xập xệ này em cũng phải liên tục nợ tiền thuê, có lần đến nửa năm ròng… Tuy em không yêu, nhưng cũng đành sống cảnh “già nhân ngãi non vợ chồng” nơm nớp lo vợ người ta lên đánh ghen… Anh hãy tha thứ cho em nhé, vì đã không trọn lòng chung thủy như tín vật khăn Piêu em tặng anh… Em không xứng với anh nữa rồi, hãy quên người con gái tội nghiệp này đi nhé, anh!…”

      Nhưng điều hắn muốn được biết nhất thì em đã không hé nửa chữ: đó là, tay Trường bồ em - chủ doanh nghiệp và đồng bọn đã câu kết với những người có trách nhiệm trong Tỉnh ra sao để có thể phá tan nát những cánh rừng thiêng đầu nguồn mà không bị pháp luật trừng trị? Cái pháp luật hiện đại trong tay những kẻ nào đã làm khiên che cho lũ hung thần đi tới đâu Thần rừng Thần núi Thần sông phải hiện lên van lạy rối rít? Các Thần linh trong tâm thức dân gian cổ xưa đó đang “ôm đầu máu” chạy trốn tận những đỉnh núi cao nhất khi rừng mất dần, rồi tới lúc cả núi cũng sẽ bị băm nát thì các vị sẽ biết chạy về đâu?

      Ngày mai, hắn sẽ gặp Lò Trung để nhận nhiệm vụ làm phim của cơ quan anh. Nhưng trước hết, hắn cần hỏi nhà Thái học những điều băn khoăn nhức nhối trên. Rồi dần dà, lúc “trà dư tửu hậu” có thể sẽ tâm sự cùng anh về mối tình của hắn với một người con gái Thái vốn yêu rừng mà giờ phải cam tâm sống kiếp “mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường” với một kẻ đao phủ giết rừng không ghê tay, tiếp tay cho kẻ bất lương đang thủ tiêu nốt những Luật tục tốt lành của đồng bào dân tộc, phải mang tâm hồn và thân xác vốn đẹp đẽ ra để đổi lấy những đồng tiền ướt máu của rừng… Kỷ niệm Tình yêu xứ núi mà hắn từng coi là bảo vật quý nhất đời, giờ hắn có cần lưu giữ nữa hay không? Để làm gì? Và những bộ phim mà hắn làm theo đơn đặt hàng thế này, liệu có ích gì?

Viết thêm

Sẽ không có những dòng này nếu như hắn không lục tìm trên giá sách nhỏ của em mong lấy lại các bức thư của hắn. Không thấy gì cả. Biết đâu em đã đốt tất cả để “phi tang”? Nhưng hắn đã vô tình vớ được một danh sách ghi nắn nót bằng chữ của một cô giáo thường viết chính tả cho trò cấp Một, danh sách tên tuổi địa chỉ 15 người cả Thái lẫn Kinh tuổi từ 17 đến 22 mà chắc chỉ là con gái, bởi các chữ đệm “thị” và tên nhiều loài hoa… Như một cái máy, hắn chụp lại bản danh sách, với thoáng hồ nghi lo lắng, thầm cầu trời khấn Phật suy đoán của mình là vớ vẩn… Đưa cho Lò Trung xem mấy ảnh chụp, sau khi đọc thấy tên một cô gái họ Cà 17 tuổi, anh bật người lên: “Con bé này cùng xóm với tôi, học lớp 12, dạo này vứt bỏ trang phục dân tộc để toàn diện váy mỏng, bỏ nhà đi đâu cả tuần vừa mới về… Trời ạ! Cơ quan chức năng đang nhờ chúng tôi tìm kẻ cầm đầu việc thu gom, dụ dỗ, mua chuộc các cô gái trẻ, có cả sinh viên, gái vị thành niên, những người hoàn cảnh khó khăn hoặc thích ăn diện, để làm “kho dự trữ” của bọn cướp đất phá rừng “tiến cống” lũ quan chức hư hỏng và bọn giàu xổi… Cám ơn cậu nhé, cho chúng tôi xin cái này, một đầu mối khá quan trọng đó…”.

       Hắn không dám nói đã lấy được bản danh sách từ đâu dù bạn nài nỉ, và tịt ngóm luôn ý định kể cho bạn về mối tình phạm một Luật tục của đồng bào anh là “Yêu trộm” mà từ đây hắn sẽ “đào sâu chôn chặt” trong ký ức. “Nếu anh thật sự là bạn tôi, mong anh thôi đừng hỏi bằng cách nào tôi có thứ này… Và xin anh đừng cho ai biết người cung cấp” - “Vì sao thế?” - “Anh cứ biết vậy. Coi như một lời cầu xin, và anh cứ tin là lương thiện… Không phải tôi sợ liên lụy đâu… Chuyện dài lắm… Nỗi đau lòng lớn nhất của đời tôi…”. Nhà nghiên cứu văn hóa Thái nhìn hắn vẻ dò hỏi nhưng đượm cảm thông, và biết đâu anh đang ngầm liên hệ tình cảnh của hắn với một “ca” tâm lý dân gian trong một motif truyện cổ Thái, Sinhmun, Kháng nào đó mà anh đã sưu tầm…

       Hắn không muốn biết và sau đó chẳng rõ “số phận” của bản danh sách cùng “tác giả” của nó ra sao, chỉ biết rằng hắn đã có một nguyên cớ để lý giải thêm bí mật giấc mơ đêm ấy, và được an ủi phần nào về tội “Yêu trộm” cùng tội “phản bội lòng chung thủy” - nếu quả thực đáng gọi là “phản bội”: Trong những vết máu chưa khô từ chiếc khăn Piêu in vào các gáy sách của hắn, bên cạnh vết giống son môi hình như có những dòng chữ bí ẩn tựa Luật tục thời hiện đại mở đầu bằng bản án về tội ác phá rừng đầu nguồn, tội ác hủy hoại sự trong sạch và Tình yêu của các trinh nữ… Còn với hắn, chiếc khăn Piêu này đã trở thành nấm mộ của một mối tình đã góp phần phá bỏ một Luật tục ít nhiều man rợ.

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 484)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 372)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1154)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1184)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1039)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 919)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2007)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2975)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2496)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9832)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16680)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15670)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16109)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1184)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2975)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2900)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1039)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5141)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7101)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6406)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 484)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 372)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1154)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2496)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2340)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2164)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2346)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2361)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 919)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13421)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29507)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35651)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10616)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12592)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2007)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2975)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3170)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3294)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4015)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7690)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7031)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9697)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.