- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HỒN CỐT HUẾ TRONG “TRUYỆN KHẢO…” CỦA MỘT NHÀ VĂN RẶT HUẾ

27 Tháng Năm 20249:48 SA(Xem: 27686)


bia Truyen khao ve hue


HỒN CỐT HUẾ TRONG “TRUYỆN KHẢO…”

CỦA MỘT NHÀ VĂN RẶT HUẾ.

Hoàng Thị Bích Hà

 

 

Sau hơn hai mươi năm, tác phẩm ra đời, tôi đọc lại cuốn sách và cảm xúc vẫn nguyên vẹn trong tôi như lần đầu tiếp cận với Truyện Khảo Về Huế của tác giả Trần Kiêm Đoàn (Nxb Trẻ tháng 3/ 2000).

 

1.Vài nét về tác giả:

 

Nhà văn Trần Kiêm Đoàn sinh năm 1946 tại Liễu Hạ, Hương Cần, Huế.

Tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Huế năm 1970, Cử nhân Văn Khoa (1971)

Dạy học các trường Nguyễn Hoàng, Hải Lăng (Quảng Trị), Nguyễn Tri Phương, Đồng Khánh (Huế). Cosumnes River College (California), giảng viên thực hành tại Sac State Universty (California)

-Cao học Xã hội (Master in Social Works, đại học California State, Sacramento, 1988)

-Tiến sĩ Tâm lý học (Doctor of Clinical Psychology. đại học Southern California, 2000. Hiện đang sống và làm việc tại Mỹ.

* Các tác phẩm đã xuất bản:

- Hương Từ Bi (Huế, 1966)

-The Impact of Relocation on the Vietnamese Refugees in the United States.

(CSUS, 1988)

- Chuyện Khảo Về Huế (Cali., 1997)

- The Vietnam War and Its Psychological Aftermath (LA., 2000)

- Viết rải rác thơ, văn, bút ký, biên khảo, nhận định… trên các báo tiếng Việt và tiếng Anh trong và ngoài nước.

 

2. Ông là người vào y khoa mà ra sư phạm chỉ vì thời gian đào tạo và học phí phù hợp với cậu học trò nghèo vùng ven lên thành phố trọ học. Biến cố và đổi thay, ông cũng nổi trôi theo thời vận và cuộc đời cứ “xô đẩy” ông một cách ngoạn mục, “xô” ông từ quê lên tỉnh rồi “xô” một cú thật mạnh qua thấu bên kia bờ đại dương - xứ sở của văn minh hiện đại nhất nhì thế giới. Cuộc đời cũng công bằng đối với ông khi thương khó, khi nâng đỡ để bây giờ ông trở thành Giaó sư đứng trên giảng đường Đại Học của xứ sở Cờ Hoa. Ông đi nhiều, tiếp xúc nhiều nơi, khắp năm châu, bốn biển trong những chuyến công cán hoặc du ngoạn cùng người thân, gia đình. Nhưng dù vậy tôi cũng dám cá rằng không thể nhìn thấu suốt ba ngàn thế giới như với Huế ông nhìn rõ Huế như chúng ta nhìn vào lòng bàn tay của chính mình. Cũng bởi vì ông nhìn Huế không chỉ bằng mắt mà bằng tâm. Qua cuốn sách Chuyện Khảo về Huế, Con yêu bánh nậm, Từ ngõ Huế xưa,v.v..Tôi dám quả quyết với bạn đọc và với cả chính tôi điều đó. Bởi vì ông thương Huế, yêu Huế. Huế đối với ông gần gũi và thiêng liêng, là ruột thịt. Huế của ông là người mẹ già tóc bạc ngồi bên bộ phản kê bên khung cửa sổ chờ con, là người cha lưng còng tóc bạc lưng còng mòn mỏi chờ con. Huế cũng thiết thực và quen thuộc như tô bún bò, cơm hến và chén chè Cồn của Huế. Truyện Khảo Về Huế là: “chuyện kể có đầu, có đuôi vừa sáng tạo vừa dựa trên những dữ kiện thực tế, giáo khoa và sử liệu thì gọi là “Chuyện khảo”. “Dù mang dưới cái tên nào đi nữa thì những trang viết”… của ông “cũng là những mảnh lòng gởi Huế qua chuyện Khảo lẫn chuyện khào về Huế” ( tr 11)

Mỗi lần nghĩ về Huế, tôi không biết mình đang về với Huế hay Huế đang về trong tôi. “Huế riêng tôi là quê mẹ đi để mà nhớ”, “nếu không có năm 1975 , có lẽ suốt đời tôi sẽ không biết rõ Huế đã về trong tôi tự bao giờ”

 

3. Hồi ức về tuổi thơ và nỗi xúc động lần đầu tiên trở về với Tổ quốc, với Huế.

 

Mẹ sắm cho đôi dẹp đầu đời giá trị “bằng hai vuông lúa của mạ”. “Đôi dép đầu đời mẹ tôi sắm bị lấy mất đi không bao giờ trả lại, nhưng lòng tôi lại mang đôi dép cũ mà đi cho hết một đời”.

Ông giới thiệu về hoàn cảnh ra đời ở thế hệ ông.

“Tôi thuộc về thế hệ chiến tranh Việt Nam: chào đời trên miệng hầm, lớn lên trong khói lửa chiến tranh, hát tình ca và đồng ca trong tiếng gào của bom đạn và bỏ Huế mà đi với nỗi ưu tư dằng dặc của những mơ ước chưa thành hiện thực” (trang 6)

Nhà văn nói về việc chọn nghề dạy học:

“ ở Huế mà vào trường Sư Phạm thì cũng như ở trên dòng đời xuôi ngược mà chọn nghề đưa khách đò ngang: An phận trong nếp cũ và yên thân giữa nhịp đời trầm lặng, nhẹ nhàng trôi.”

Tâm thức người con xa quê trong ông khi nghĩ về đất nước: “Đất nước tôi trước hết là mẹ già ngồi chờ con trên bộ phản kê bên khung cửa của căn nhà lá đơn sơ. Tổ quốc là người cha già lưng còng tóc bạc ngồi trông con mòn mỏi từng giờ.”( tr 18). Giản dị vậy thôi mà thiêng liêng cao cả không có gì sánh nổi.

Nơi xứ người, để thích nghi và sống tốt là điều không dễ dàng gì, buộc tác giả hay bất kỳ người sống tha phương phải bắt kịp, thích nghi với môi trường văn hóa xứ sở, nhưng đâu đó trong tim vẫn đầy ắp văn hóa cội nguồn và nỗi nhớ khôn nguôi.

“Tôi nói Tiếng Việt để thương và Tiếng Anh để sống. “có một cái không tìm mà vẫn có là nỗi nhớ quê nhà”, sau bức màn quá khứ là trùng trùng cảm xúc nhớ thương”

Trở về, khi ông đặt chân xuống sân bay, Tân Sơn Nhất là đất mẹ Việt Nam, lòng dâng trào niềm bồi hồi xúc động: “Quang cảnh phi trường Tân Sơn Nhất vẫn không có gì đổi khác so với 20 năm về trước, đi giữa đường Phố Sài Gòn …một cảm giác “thuộc về” làm tôi thoáng ngỡ ngàng và cảm thấy lòng mình ấm lại. Tôi thuộc về vùng đất này như cụm rau muống thuộc về cái ao và cái ao thuộc về cụm rau muống” …Nơi có tiếng thô thiển hay bóng bẩy đến cỡ nào tôi cũng hiểu được. Cho dù sống 10 năm hay vĩnh viễn một đời cũng khó mà thuộc về một đất nước nào khác trọn vẹn như đang ở trên chính quê hương đất nước của tôi” (tr 20)

Đi qua đường phố Sài Gòn ông có cảm giác thanh thản như đang đi vào khu vườn nhà hương hỏa của tổ tiên để lại. “Dù không nguy nga tráng lệ nhưng là của mình.”

 

Những kỷ niệm của người con xa quê lâu ngày trở về với mẹ. Tuổi ấu thơ trong vòng tay của mẹ. Tất cả hiện lên như một cuốn phim mà trong mỗi chúng ta cũng tìm thấy bóng hình mình trong đó. Bởi vì ai cũng từng có mẹ và được sống trong tình yêu và trái tim kỳ vỹ của người mẹ. Ông kể về mẹ thật cảm động, làm cho độc giả chúng tôi nước mắt lả chả rơi lúc nào không hay. Ân tình Huế, người mẹ Huế, tính cách Huế, thời tiết Huế, sản vật mà thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất nhiều nắng gió miền Trung- Nơi kinh đô một thời vàng son của các triều đại cuối cùng ở đất Cố Đô đã để lại cho Huế một nền ẩm thực ngon ở vị, thanh tao ở cách chế biến, khéo léo, tỉ mỉ trong cách bày biện tao nhã, đẹp mắt mang tính nghệ thuật cao. Ăn mà như thưởng thức là để tận hưởng bởi sự kỳ công, bắt mắt dưới những bàn tay tài hoa, cần mẫn của những người phụ nữ chốn Thần Kinh.

 

4.Về Mưa Huế”

 

Cứ sống thật với Huế dù chỉ một giờ và tĩnh tâm với Huế. “Ngôn ngữ tuyệt vời nhất dành cho Huế là im lặng và cảm nhận” (trang 227). Huế chuyển qua mùa mưa là khi nào? Và đây là những nhận xét của ông nhờ óc quan sát góc nhìn tinh tế:

“Nếu vào những buổi chiều đầu thu nào đó ở Huế, có những đàn chim bay xao xác từ phía biển lên rừng trên bầu trời đã lãng đãng có mây hồng pha sắc tím, đó là khi trời Huế đang chuyển sang mùa mưa”

“Mưa Huế là sự đối xử khắc nghiệt, vừa là sự cầm chân vỗ về của bà mẹ thiên nhiên dành cho Huế (…) cái mưa rây hạt triền miên của Huế là một cái gì vừa đáng yêu, vừa đáng ghét một cách rất…Huế. Nó vừa là sức hãm vừa là sức bật của đời sống tinh thần. Mưa không nhỏ, không to mà rây rây muôn ngàn sợi như từ tay của bà tiên hiền dịu mà lạnh lùng, những cơn mưa có thể vài ngày, hay kéo dài hàng tuần, có khi non cả tháng”.

Thực tế có năm chúng tôi chứng kiến mưa một đợt kéo dài hai tháng cận đến tết mới ngớt. “Mưa mọc rêu trên thành, mưa dầm dề úng đất, mưa se da, se thịt, mưa héo úa tâm hồn. Huế đã tự thể hiện vẻ “nên thơ” riêng từ trong cảnh trầm lắng dưới những cơn mưa dầm ngút mắt không hạn kỳ đó” (trang 230- 131)

Mưa đã góp phần vào sự hình thành nếp sống, phong thái sinh hoạt, cảm quan nghệ thuật và nét văn hóa đặc thù của Huế. Khách phương xa đến Huế thường đi từ cảm giác ngán ngẩm: “Trời mưa ở Huế sao buồn thế” và dần dần yêu cái “nên thơ” của mưa Huế lúc nào không hay.

“Huế có “Mặc Vân Thi Xã” ngâm ngợi thưởng nguyệt lúc thanh bình, có Thất Thủ Kinh Đô trong cơn binh lửa. Huế có Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương nức tiếng tài hoa vương giả cũng cần có Đoàn Trưng, Đoàn Trực dám nổi loạn chống lại triều đình Huế. Huế có nem tré, chả lụa (ăn chơi) bên cạnh bánh khô, bánh nở, bánh đúc (ăn thiệt). Huế có hò Nện, hò Hô, hò Giã Gạo mạnh bạo đổ mồ hôi bên cạnh những ca khúc Nam Ai, Nam Bình sầu thương đòi đoạn. Có nón bài thơ thanh tú và tà áo trắng thướt tha của cô nữ sinh thì cũng cần cái nón phong sương và vạt áo nâu lam lũ của mấy o bánh gánh dạo, chè khuya, cơm hến, bún bò,…mới đủ sắc màu và mùi vị cho hồn thơ của Huế. Chỉ nhìn thoáng qua, sẽ rất dễ thấy dáng thơ nhưng khó thấy cái hồn của Huế. Cũng thế, thoáng nhìn mưa Huế chỉ thấy nét trầm phai ủ rủ, nhưng đã thực sống với Huế qua những mùa đông, sẽ thấy từ những bụi nắng thinh không của mưa Huế có những nụ hồng và hơi ấm của tình yêu, không phải chỉ là tình yêu đôi lứa mà nhiều thứ tình cảm nồng nàn góp lại” (Trang 234-235). Thời tiết Huế cũng góp phần hun đúc nên tính cách Huế.

 

5.Tính Cách Huế, và những món ăn xứ Huế.

 

Huế hiếu học, thâm trầm trong cốt cách, lãng mạn nên thơ, khiêm cung mà cũng “mần đày” không “noái” ngạ “vui rộn rã mà vẫn man mác buồn”. Người Huế sống kín đáo, nhẹ nhàng mà sâu lắng, chan hòa và chung thủy, ít bộc lộ tình cảm nội tâm với người khác. Người Huế thường mang tiếng là hay “mần đày” và “ xét nét” vì cái bản chất nhạy cảm và nhiều mặc cảm không tên tuổi, chỉ có thể “cảm” mà không giải thích được.” ( tr.135)

“Huế đã dạy cho tôi rằng, hãy thương mến hay thương yêu, đừng thương hại” (Tr/16). Năm 1977 khi ông đang đứng lớp ở trường Đồng Khánh - Hai Bà Trưng bị gọi lên cho nghỉ dạy. Một vài đồng nghiệp nhìn ông với anh mắt thương hại, ám ảnh trong ông không thể nào nguôi.

“Huế bắt tôi phải ray rức vì không được làm thầy với đồng lương GS đệ nhị cấp 75 đồng mỗi tháng hơn là lái xe lam kiếm cả mấy trăm bạc mỗi ngày hay buôn bán ở chợ Trời kiếm bạc ngàn mỗi lần trúng mánh.” (trang 16)

Trong tâm hồn Huế đôi lúc cũng mâu thuẫn giữa thưởng thức cái đẹp của người, của đời mà nghiêm khắc với con cái, với gia đình và đôi khi với ngay cả chính mình.

“Huế ơi! Huế khó khăn như một bà già trầu. Huế thích nghe chuyện Đi Chùa Hương của thiên hạ, nhưng lại không thích con gái của mình mới 15 tuổi đã “Lưng đeo giải yếm đào/quần lĩnh áo the mới,..”. Huế cũng khó khăn như một ông già nệ cổ, thích con mình thà đậu tú tài mà về làm thuê còn hơn là lên hàng phú ông mà đánh vần xuôi chưa được, vần ngược chưa xong (tr 17). Huế thích cho con cái học hành đến nơi đến chốn, dẫu nghèo cũng vui. Huế lãng mạn bão liệt như sóng ngầm nước xoáy,…ông đã liệt kê nhiều nét biểu lộ tính cách Huế thật thú vị.

 Mỗi người Huế có sẵn hồn thơ, dịch lý, tử vi,…đều đủ chỉ là có thể hiện ra bên ngoài hay không mà thôi! Sau 1975, ông về Huế tìm gặp lại mấy người bạn từng gắn bó bên nhau, chào nhau, chửi yêu nhau bằng những câu nghe thân thương và rất Huế: “ Mụ cô mi,Thằng Đoàn! Mi là thằng gà chết. Hơn 10 năm mới vác xác về thăm”. Những người bạn ngày xưa không học văn mà giờ gặp lại cũng làm thơ, phổ nhạc ngâm tràn cung mây và đều là văn nghệ sĩ Huế cả. Bạn ông: “những thằng khánh kiệt mà khẩu khí vẫn hào sảng. Những đứa con ruột hay con tinh thần của xứ Huế…làm văn nghệ như làm thơ trên đá, suốt một đời chân thực với chính mình. Nói chuyện bạt mạng kỳ hồ. Sáng tác văn thơ làm rung rinh dư luận “ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ”.

 

Ông viết về mưa Huế, tâm huế, màu của Huế,… Ông kể những món ăn đặc trưng của Huế như cơm hến, bún bò, các loại bánh, các loại chè, các loại mắm, ruốc Huế,…“chắt chiu mà hào sảng, đơn giản mà thâm trầm như tình cảm của người con gái Huế”. Món ăn nào ông cũng tìm về tường tận cội nguồn, cách chế biến, thưởng thức và những kỷ niệm đẹp. Những món ăn xứ Huế cũng là hành trang người Huế mang theo trong tâm thức và đôi khi cũng là một cứu cánh mưu sinh nơi xứ người. Tuy nhiên những món Huế ra khỏi Huế cũng có phần khác đi ít nhiều để đáp ứng thực khách, phù hợp với khẩu vị của người địa phương nơi mình lập nghiệp, sinh sống.

 

Ông nhận ông là Huế làng ròn, lên Huế thi đậu Càng Cua (concours) là vào lớp đệ thất (lớp sáu bây giờ) trường Hàm Nghi với vị trí thứ nhì/ 1000 thí sinh dự thi và 200 trúng tuyển năm đó thì ông chỉ là một cậu bé 11-12 tuổi. Lên Huế học rồi suốt quảng thời niên thiếu cho đến khi thi đậu Y Khoa nhưng lại ra sư phạm.Và ông gắn bó với nghề giáo ở trong nước hay hơn nửa đời còn lại sống ở nước ngoài. Sống với Huế rồi xa Huế. Nếu ông không ra đi với “nỗi dằng dặc ưu tư” để xa Huế ngàn trùng thì Huế có hiện rõ trong tâm thức ông với tình cảm da diết nhớ mong để rồi ông viết về Huế quá đúng và hay như vậy không? Bản thân tôi cũng từng gắn bó với Huế hơn nửa đời người. Có lần tôi đi công tác với các đồng nghiệp, tạm xa Huế có 10 ngày thôi, chiều chiều ngồi chơi tán gẫu bên ly trà, tôi cũng nói với họ rằng: Lúc ở Huế cảm thấy Huế bình thường. Xa Huế mới thấy thương Huế, nhớ Huế và yêu Huế hơn! Mấy anh chị đồng nghiệp cũng gật đầu đồng ý! Rồi trầm tư lắng động nhìn xa xăm như thể đang thả hồn về với Huế.

 

6. Làng quê Liễu của nhà văn Trần Kiêm Đoàn cách Huế 10km- Nơi có đặc sản mang thương hiệu Quýt Hương Cần ai đã ăn một lần sẽ ghiền và nhớ mãi.

Ông học hành, trưởng thành và dạy học khá lâu ở Huế nên ông rành Huế lắm! Dù Huế chay, Huế rặt, Huế Lai,… hay khách tao nhân đến Huế nếu yêu Huế, sống sâu sắc với Huế, dành cho Huế thứ tình cảm thiết tha như máu thịt sẽ hiểu Huế, cảm nhận được hồn Huế. Tình cảm đó thể hiện rõ trong các tác phẩm. Hồn cốt Huế, nét Huế lúc rõ mồn một, lúc lãng đãng khói sương hay mờ mờ nhân ảnh. Bằng cả tấm lòng yêu Huế, hiểu Huế trong thi ca, âm nhạc, hội họa hay văn chương,…trở thành những tác phẩm đặc sắc dành cho Huế, có lẽ không người con dân, dâu rể Huế hay người yêu Huế nào mà không biết, không thuộc như: Tạm Biệt Huế (Thu Bồn) Dòng sông ai đã đăt tên (Trần Hữu Pháp). Trở lại Huế thương (An Thuyên),…

Cứ mỗi lần đi đâu đó xa Huế rồi trở về, ngồi trên tàu thống nhất sắp đến các ga thuộc địa phận Thừa Thiên Huế, trên tàu vang lên bài hát: “Trở Lại Huế thương” thì lòng người xa Huế nào mà chẳng nao nao, rộn ràng như sắp được sà vào lòng mạ Huế.

 

7. Nhà văn Trần Kiêm Đoàn dành cho Huế những tác phẩm  đặc sắc:

 

Mỗi tác phẩm có những chủ đề riêng, viết vào những thời điểm khác nhau: Thơ hay văn xuôi người đọc chúng ta đều nhận ra trong đó chứa nhiều cảm xúc dành cho Huế và đầy ắp hồn Huế. Hay nói cách khác người đọc nhận ra hồn cốt Huế trong mỗi tác phẩm của nhà văn Trần Kiêm Đoàn. Ông là một “Huế rặt” từ chân tơ kẻ tóc, từ lời nói văn chương bóng bẩy hay câu đùa tưng tửng đều rất chi là Huế. Dù cho ông có sống nửa đời còn lại ở đất khách quê người hơn nửa vòng trái đất thì nét Huế trong ông vẫn không phôi pha chút nào. Bởi vì càng xa Huế, ông càng nhớ Huế. Huế càng trỗi dậy, mãnh liệt hơn, cồn cào hơn. Huế sống trong ông, ông mang tâm thức Huế trong hồn và bộc lộ ra trên từng câu nói, từng bài viết của ông! Ai đọc những tác phẩm của ông dù thoáng qua hay đọc kỹ cũng nhận ra điều đó.

 

Lần theo cảm xúc rất đỗi chân thành của tác giả với giọng văn giản dị nhưng dí dỏm và lôi cuốn. Nhà văn Trần Kiêm Đoàn đã cho người đọc trở về với Huế, cuốn sách chỉ trong chỉ trong 250 trang giấy của một ấn phẩm mà dường như ông đã gói cả khung trời Huế, mưa nắng Huế, ân tình Huế, nét duyên Huế và cả những dỗi hờn của Huế. Ai đã đọc qua rồi hãy đọc lại sẽ thấy mỗi lần đọc lại tác phẩm vẫn tràn đầy cảm xúc. Nhiều cảm xúc đan xen: khi xúc động rưng rưng ở những đoạn văn tác giả tả giây phút trở về với mẹ, khi tủm tỉm hay bật cười sảng khoái với những đoạn văn miêu tả nội tâm lẫn ngoại cảnh Huế đầy hài hước, tưng tửng, rất có duyên. Nếu không xa Huế, nhà văn Trần Kiêm Đoàn không thể nhớ Huế, thổn thức với Huế đến nao lòng! Để rồi ông viết với cả tấm lòng của người con xa Huế, chạm đến con tim người đọc như thế!

 

 

Hàng năm ông lại về với Sài Gòn, với quê hương Việt Nam, với Huế, với làng Liễu Hạ - nơi có căn nhà hương hỏa của ông để đắm mình trong không khí Huế, “nạp” thêm năng lượng Huế, món ăn Huế và lòng yêu Huế. “Về Huế được đi lại trên những con đường phố cũ, tôi nghe thân thương như bàn chân tôi và đất đá giữa đường vẫn còn nhớ nhau mà trò chuyện. Trên khuôn mặt của người cũ thêm nét phong trần và có chút già đi, nhưng với tình cảm thì sự đứt đoạn của thời gian chẳng làm phai đi cái giao tình của Huế” (tr. 35)

Kính chúc ông luôn an lành sức khỏe bên người thân gia đình để còn có nhiều lần trở về với Huế và nhiều cảm hứng sáng tác dành cho Huế.

 

Saigon, ngày 11/5/2024

Hoàng Thị Bích Hà

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 203)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 495)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 391)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2576)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1755)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1426)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2508)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1973)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2626)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1826)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1826)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11733)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18320)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17357)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 203)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2508)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2626)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4015)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 489)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1972)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3794)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3287)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2575)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2513)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2895)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2842)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 382)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1755)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1426)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2771)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4659)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14902)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31036)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37782)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12748)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14037)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5263)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7787)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6860)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7278)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8238)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9851)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9063)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11936)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.