- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HỒN CỐT HUẾ TRONG “TRUYỆN KHẢO…” CỦA MỘT NHÀ VĂN RẶT HUẾ

27 Tháng Năm 20249:48 SA(Xem: 23181)


bia Truyen khao ve hue


HỒN CỐT HUẾ TRONG “TRUYỆN KHẢO…”

CỦA MỘT NHÀ VĂN RẶT HUẾ.

Hoàng Thị Bích Hà

 

 

Sau hơn hai mươi năm, tác phẩm ra đời, tôi đọc lại cuốn sách và cảm xúc vẫn nguyên vẹn trong tôi như lần đầu tiếp cận với Truyện Khảo Về Huế của tác giả Trần Kiêm Đoàn (Nxb Trẻ tháng 3/ 2000).

 

1.Vài nét về tác giả:

 

Nhà văn Trần Kiêm Đoàn sinh năm 1946 tại Liễu Hạ, Hương Cần, Huế.

Tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Huế năm 1970, Cử nhân Văn Khoa (1971)

Dạy học các trường Nguyễn Hoàng, Hải Lăng (Quảng Trị), Nguyễn Tri Phương, Đồng Khánh (Huế). Cosumnes River College (California), giảng viên thực hành tại Sac State Universty (California)

-Cao học Xã hội (Master in Social Works, đại học California State, Sacramento, 1988)

-Tiến sĩ Tâm lý học (Doctor of Clinical Psychology. đại học Southern California, 2000. Hiện đang sống và làm việc tại Mỹ.

* Các tác phẩm đã xuất bản:

- Hương Từ Bi (Huế, 1966)

-The Impact of Relocation on the Vietnamese Refugees in the United States.

(CSUS, 1988)

- Chuyện Khảo Về Huế (Cali., 1997)

- The Vietnam War and Its Psychological Aftermath (LA., 2000)

- Viết rải rác thơ, văn, bút ký, biên khảo, nhận định… trên các báo tiếng Việt và tiếng Anh trong và ngoài nước.

 

2. Ông là người vào y khoa mà ra sư phạm chỉ vì thời gian đào tạo và học phí phù hợp với cậu học trò nghèo vùng ven lên thành phố trọ học. Biến cố và đổi thay, ông cũng nổi trôi theo thời vận và cuộc đời cứ “xô đẩy” ông một cách ngoạn mục, “xô” ông từ quê lên tỉnh rồi “xô” một cú thật mạnh qua thấu bên kia bờ đại dương - xứ sở của văn minh hiện đại nhất nhì thế giới. Cuộc đời cũng công bằng đối với ông khi thương khó, khi nâng đỡ để bây giờ ông trở thành Giaó sư đứng trên giảng đường Đại Học của xứ sở Cờ Hoa. Ông đi nhiều, tiếp xúc nhiều nơi, khắp năm châu, bốn biển trong những chuyến công cán hoặc du ngoạn cùng người thân, gia đình. Nhưng dù vậy tôi cũng dám cá rằng không thể nhìn thấu suốt ba ngàn thế giới như với Huế ông nhìn rõ Huế như chúng ta nhìn vào lòng bàn tay của chính mình. Cũng bởi vì ông nhìn Huế không chỉ bằng mắt mà bằng tâm. Qua cuốn sách Chuyện Khảo về Huế, Con yêu bánh nậm, Từ ngõ Huế xưa,v.v..Tôi dám quả quyết với bạn đọc và với cả chính tôi điều đó. Bởi vì ông thương Huế, yêu Huế. Huế đối với ông gần gũi và thiêng liêng, là ruột thịt. Huế của ông là người mẹ già tóc bạc ngồi bên bộ phản kê bên khung cửa sổ chờ con, là người cha lưng còng tóc bạc lưng còng mòn mỏi chờ con. Huế cũng thiết thực và quen thuộc như tô bún bò, cơm hến và chén chè Cồn của Huế. Truyện Khảo Về Huế là: “chuyện kể có đầu, có đuôi vừa sáng tạo vừa dựa trên những dữ kiện thực tế, giáo khoa và sử liệu thì gọi là “Chuyện khảo”. “Dù mang dưới cái tên nào đi nữa thì những trang viết”… của ông “cũng là những mảnh lòng gởi Huế qua chuyện Khảo lẫn chuyện khào về Huế” ( tr 11)

Mỗi lần nghĩ về Huế, tôi không biết mình đang về với Huế hay Huế đang về trong tôi. “Huế riêng tôi là quê mẹ đi để mà nhớ”, “nếu không có năm 1975 , có lẽ suốt đời tôi sẽ không biết rõ Huế đã về trong tôi tự bao giờ”

 

3. Hồi ức về tuổi thơ và nỗi xúc động lần đầu tiên trở về với Tổ quốc, với Huế.

 

Mẹ sắm cho đôi dẹp đầu đời giá trị “bằng hai vuông lúa của mạ”. “Đôi dép đầu đời mẹ tôi sắm bị lấy mất đi không bao giờ trả lại, nhưng lòng tôi lại mang đôi dép cũ mà đi cho hết một đời”.

Ông giới thiệu về hoàn cảnh ra đời ở thế hệ ông.

“Tôi thuộc về thế hệ chiến tranh Việt Nam: chào đời trên miệng hầm, lớn lên trong khói lửa chiến tranh, hát tình ca và đồng ca trong tiếng gào của bom đạn và bỏ Huế mà đi với nỗi ưu tư dằng dặc của những mơ ước chưa thành hiện thực” (trang 6)

Nhà văn nói về việc chọn nghề dạy học:

“ ở Huế mà vào trường Sư Phạm thì cũng như ở trên dòng đời xuôi ngược mà chọn nghề đưa khách đò ngang: An phận trong nếp cũ và yên thân giữa nhịp đời trầm lặng, nhẹ nhàng trôi.”

Tâm thức người con xa quê trong ông khi nghĩ về đất nước: “Đất nước tôi trước hết là mẹ già ngồi chờ con trên bộ phản kê bên khung cửa của căn nhà lá đơn sơ. Tổ quốc là người cha già lưng còng tóc bạc ngồi trông con mòn mỏi từng giờ.”( tr 18). Giản dị vậy thôi mà thiêng liêng cao cả không có gì sánh nổi.

Nơi xứ người, để thích nghi và sống tốt là điều không dễ dàng gì, buộc tác giả hay bất kỳ người sống tha phương phải bắt kịp, thích nghi với môi trường văn hóa xứ sở, nhưng đâu đó trong tim vẫn đầy ắp văn hóa cội nguồn và nỗi nhớ khôn nguôi.

“Tôi nói Tiếng Việt để thương và Tiếng Anh để sống. “có một cái không tìm mà vẫn có là nỗi nhớ quê nhà”, sau bức màn quá khứ là trùng trùng cảm xúc nhớ thương”

Trở về, khi ông đặt chân xuống sân bay, Tân Sơn Nhất là đất mẹ Việt Nam, lòng dâng trào niềm bồi hồi xúc động: “Quang cảnh phi trường Tân Sơn Nhất vẫn không có gì đổi khác so với 20 năm về trước, đi giữa đường Phố Sài Gòn …một cảm giác “thuộc về” làm tôi thoáng ngỡ ngàng và cảm thấy lòng mình ấm lại. Tôi thuộc về vùng đất này như cụm rau muống thuộc về cái ao và cái ao thuộc về cụm rau muống” …Nơi có tiếng thô thiển hay bóng bẩy đến cỡ nào tôi cũng hiểu được. Cho dù sống 10 năm hay vĩnh viễn một đời cũng khó mà thuộc về một đất nước nào khác trọn vẹn như đang ở trên chính quê hương đất nước của tôi” (tr 20)

Đi qua đường phố Sài Gòn ông có cảm giác thanh thản như đang đi vào khu vườn nhà hương hỏa của tổ tiên để lại. “Dù không nguy nga tráng lệ nhưng là của mình.”

 

Những kỷ niệm của người con xa quê lâu ngày trở về với mẹ. Tuổi ấu thơ trong vòng tay của mẹ. Tất cả hiện lên như một cuốn phim mà trong mỗi chúng ta cũng tìm thấy bóng hình mình trong đó. Bởi vì ai cũng từng có mẹ và được sống trong tình yêu và trái tim kỳ vỹ của người mẹ. Ông kể về mẹ thật cảm động, làm cho độc giả chúng tôi nước mắt lả chả rơi lúc nào không hay. Ân tình Huế, người mẹ Huế, tính cách Huế, thời tiết Huế, sản vật mà thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất nhiều nắng gió miền Trung- Nơi kinh đô một thời vàng son của các triều đại cuối cùng ở đất Cố Đô đã để lại cho Huế một nền ẩm thực ngon ở vị, thanh tao ở cách chế biến, khéo léo, tỉ mỉ trong cách bày biện tao nhã, đẹp mắt mang tính nghệ thuật cao. Ăn mà như thưởng thức là để tận hưởng bởi sự kỳ công, bắt mắt dưới những bàn tay tài hoa, cần mẫn của những người phụ nữ chốn Thần Kinh.

 

4.Về Mưa Huế”

 

Cứ sống thật với Huế dù chỉ một giờ và tĩnh tâm với Huế. “Ngôn ngữ tuyệt vời nhất dành cho Huế là im lặng và cảm nhận” (trang 227). Huế chuyển qua mùa mưa là khi nào? Và đây là những nhận xét của ông nhờ óc quan sát góc nhìn tinh tế:

“Nếu vào những buổi chiều đầu thu nào đó ở Huế, có những đàn chim bay xao xác từ phía biển lên rừng trên bầu trời đã lãng đãng có mây hồng pha sắc tím, đó là khi trời Huế đang chuyển sang mùa mưa”

“Mưa Huế là sự đối xử khắc nghiệt, vừa là sự cầm chân vỗ về của bà mẹ thiên nhiên dành cho Huế (…) cái mưa rây hạt triền miên của Huế là một cái gì vừa đáng yêu, vừa đáng ghét một cách rất…Huế. Nó vừa là sức hãm vừa là sức bật của đời sống tinh thần. Mưa không nhỏ, không to mà rây rây muôn ngàn sợi như từ tay của bà tiên hiền dịu mà lạnh lùng, những cơn mưa có thể vài ngày, hay kéo dài hàng tuần, có khi non cả tháng”.

Thực tế có năm chúng tôi chứng kiến mưa một đợt kéo dài hai tháng cận đến tết mới ngớt. “Mưa mọc rêu trên thành, mưa dầm dề úng đất, mưa se da, se thịt, mưa héo úa tâm hồn. Huế đã tự thể hiện vẻ “nên thơ” riêng từ trong cảnh trầm lắng dưới những cơn mưa dầm ngút mắt không hạn kỳ đó” (trang 230- 131)

Mưa đã góp phần vào sự hình thành nếp sống, phong thái sinh hoạt, cảm quan nghệ thuật và nét văn hóa đặc thù của Huế. Khách phương xa đến Huế thường đi từ cảm giác ngán ngẩm: “Trời mưa ở Huế sao buồn thế” và dần dần yêu cái “nên thơ” của mưa Huế lúc nào không hay.

“Huế có “Mặc Vân Thi Xã” ngâm ngợi thưởng nguyệt lúc thanh bình, có Thất Thủ Kinh Đô trong cơn binh lửa. Huế có Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương nức tiếng tài hoa vương giả cũng cần có Đoàn Trưng, Đoàn Trực dám nổi loạn chống lại triều đình Huế. Huế có nem tré, chả lụa (ăn chơi) bên cạnh bánh khô, bánh nở, bánh đúc (ăn thiệt). Huế có hò Nện, hò Hô, hò Giã Gạo mạnh bạo đổ mồ hôi bên cạnh những ca khúc Nam Ai, Nam Bình sầu thương đòi đoạn. Có nón bài thơ thanh tú và tà áo trắng thướt tha của cô nữ sinh thì cũng cần cái nón phong sương và vạt áo nâu lam lũ của mấy o bánh gánh dạo, chè khuya, cơm hến, bún bò,…mới đủ sắc màu và mùi vị cho hồn thơ của Huế. Chỉ nhìn thoáng qua, sẽ rất dễ thấy dáng thơ nhưng khó thấy cái hồn của Huế. Cũng thế, thoáng nhìn mưa Huế chỉ thấy nét trầm phai ủ rủ, nhưng đã thực sống với Huế qua những mùa đông, sẽ thấy từ những bụi nắng thinh không của mưa Huế có những nụ hồng và hơi ấm của tình yêu, không phải chỉ là tình yêu đôi lứa mà nhiều thứ tình cảm nồng nàn góp lại” (Trang 234-235). Thời tiết Huế cũng góp phần hun đúc nên tính cách Huế.

 

5.Tính Cách Huế, và những món ăn xứ Huế.

 

Huế hiếu học, thâm trầm trong cốt cách, lãng mạn nên thơ, khiêm cung mà cũng “mần đày” không “noái” ngạ “vui rộn rã mà vẫn man mác buồn”. Người Huế sống kín đáo, nhẹ nhàng mà sâu lắng, chan hòa và chung thủy, ít bộc lộ tình cảm nội tâm với người khác. Người Huế thường mang tiếng là hay “mần đày” và “ xét nét” vì cái bản chất nhạy cảm và nhiều mặc cảm không tên tuổi, chỉ có thể “cảm” mà không giải thích được.” ( tr.135)

“Huế đã dạy cho tôi rằng, hãy thương mến hay thương yêu, đừng thương hại” (Tr/16). Năm 1977 khi ông đang đứng lớp ở trường Đồng Khánh - Hai Bà Trưng bị gọi lên cho nghỉ dạy. Một vài đồng nghiệp nhìn ông với anh mắt thương hại, ám ảnh trong ông không thể nào nguôi.

“Huế bắt tôi phải ray rức vì không được làm thầy với đồng lương GS đệ nhị cấp 75 đồng mỗi tháng hơn là lái xe lam kiếm cả mấy trăm bạc mỗi ngày hay buôn bán ở chợ Trời kiếm bạc ngàn mỗi lần trúng mánh.” (trang 16)

Trong tâm hồn Huế đôi lúc cũng mâu thuẫn giữa thưởng thức cái đẹp của người, của đời mà nghiêm khắc với con cái, với gia đình và đôi khi với ngay cả chính mình.

“Huế ơi! Huế khó khăn như một bà già trầu. Huế thích nghe chuyện Đi Chùa Hương của thiên hạ, nhưng lại không thích con gái của mình mới 15 tuổi đã “Lưng đeo giải yếm đào/quần lĩnh áo the mới,..”. Huế cũng khó khăn như một ông già nệ cổ, thích con mình thà đậu tú tài mà về làm thuê còn hơn là lên hàng phú ông mà đánh vần xuôi chưa được, vần ngược chưa xong (tr 17). Huế thích cho con cái học hành đến nơi đến chốn, dẫu nghèo cũng vui. Huế lãng mạn bão liệt như sóng ngầm nước xoáy,…ông đã liệt kê nhiều nét biểu lộ tính cách Huế thật thú vị.

 Mỗi người Huế có sẵn hồn thơ, dịch lý, tử vi,…đều đủ chỉ là có thể hiện ra bên ngoài hay không mà thôi! Sau 1975, ông về Huế tìm gặp lại mấy người bạn từng gắn bó bên nhau, chào nhau, chửi yêu nhau bằng những câu nghe thân thương và rất Huế: “ Mụ cô mi,Thằng Đoàn! Mi là thằng gà chết. Hơn 10 năm mới vác xác về thăm”. Những người bạn ngày xưa không học văn mà giờ gặp lại cũng làm thơ, phổ nhạc ngâm tràn cung mây và đều là văn nghệ sĩ Huế cả. Bạn ông: “những thằng khánh kiệt mà khẩu khí vẫn hào sảng. Những đứa con ruột hay con tinh thần của xứ Huế…làm văn nghệ như làm thơ trên đá, suốt một đời chân thực với chính mình. Nói chuyện bạt mạng kỳ hồ. Sáng tác văn thơ làm rung rinh dư luận “ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ”.

 

Ông viết về mưa Huế, tâm huế, màu của Huế,… Ông kể những món ăn đặc trưng của Huế như cơm hến, bún bò, các loại bánh, các loại chè, các loại mắm, ruốc Huế,…“chắt chiu mà hào sảng, đơn giản mà thâm trầm như tình cảm của người con gái Huế”. Món ăn nào ông cũng tìm về tường tận cội nguồn, cách chế biến, thưởng thức và những kỷ niệm đẹp. Những món ăn xứ Huế cũng là hành trang người Huế mang theo trong tâm thức và đôi khi cũng là một cứu cánh mưu sinh nơi xứ người. Tuy nhiên những món Huế ra khỏi Huế cũng có phần khác đi ít nhiều để đáp ứng thực khách, phù hợp với khẩu vị của người địa phương nơi mình lập nghiệp, sinh sống.

 

Ông nhận ông là Huế làng ròn, lên Huế thi đậu Càng Cua (concours) là vào lớp đệ thất (lớp sáu bây giờ) trường Hàm Nghi với vị trí thứ nhì/ 1000 thí sinh dự thi và 200 trúng tuyển năm đó thì ông chỉ là một cậu bé 11-12 tuổi. Lên Huế học rồi suốt quảng thời niên thiếu cho đến khi thi đậu Y Khoa nhưng lại ra sư phạm.Và ông gắn bó với nghề giáo ở trong nước hay hơn nửa đời còn lại sống ở nước ngoài. Sống với Huế rồi xa Huế. Nếu ông không ra đi với “nỗi dằng dặc ưu tư” để xa Huế ngàn trùng thì Huế có hiện rõ trong tâm thức ông với tình cảm da diết nhớ mong để rồi ông viết về Huế quá đúng và hay như vậy không? Bản thân tôi cũng từng gắn bó với Huế hơn nửa đời người. Có lần tôi đi công tác với các đồng nghiệp, tạm xa Huế có 10 ngày thôi, chiều chiều ngồi chơi tán gẫu bên ly trà, tôi cũng nói với họ rằng: Lúc ở Huế cảm thấy Huế bình thường. Xa Huế mới thấy thương Huế, nhớ Huế và yêu Huế hơn! Mấy anh chị đồng nghiệp cũng gật đầu đồng ý! Rồi trầm tư lắng động nhìn xa xăm như thể đang thả hồn về với Huế.

 

6. Làng quê Liễu của nhà văn Trần Kiêm Đoàn cách Huế 10km- Nơi có đặc sản mang thương hiệu Quýt Hương Cần ai đã ăn một lần sẽ ghiền và nhớ mãi.

Ông học hành, trưởng thành và dạy học khá lâu ở Huế nên ông rành Huế lắm! Dù Huế chay, Huế rặt, Huế Lai,… hay khách tao nhân đến Huế nếu yêu Huế, sống sâu sắc với Huế, dành cho Huế thứ tình cảm thiết tha như máu thịt sẽ hiểu Huế, cảm nhận được hồn Huế. Tình cảm đó thể hiện rõ trong các tác phẩm. Hồn cốt Huế, nét Huế lúc rõ mồn một, lúc lãng đãng khói sương hay mờ mờ nhân ảnh. Bằng cả tấm lòng yêu Huế, hiểu Huế trong thi ca, âm nhạc, hội họa hay văn chương,…trở thành những tác phẩm đặc sắc dành cho Huế, có lẽ không người con dân, dâu rể Huế hay người yêu Huế nào mà không biết, không thuộc như: Tạm Biệt Huế (Thu Bồn) Dòng sông ai đã đăt tên (Trần Hữu Pháp). Trở lại Huế thương (An Thuyên),…

Cứ mỗi lần đi đâu đó xa Huế rồi trở về, ngồi trên tàu thống nhất sắp đến các ga thuộc địa phận Thừa Thiên Huế, trên tàu vang lên bài hát: “Trở Lại Huế thương” thì lòng người xa Huế nào mà chẳng nao nao, rộn ràng như sắp được sà vào lòng mạ Huế.

 

7. Nhà văn Trần Kiêm Đoàn dành cho Huế những tác phẩm  đặc sắc:

 

Mỗi tác phẩm có những chủ đề riêng, viết vào những thời điểm khác nhau: Thơ hay văn xuôi người đọc chúng ta đều nhận ra trong đó chứa nhiều cảm xúc dành cho Huế và đầy ắp hồn Huế. Hay nói cách khác người đọc nhận ra hồn cốt Huế trong mỗi tác phẩm của nhà văn Trần Kiêm Đoàn. Ông là một “Huế rặt” từ chân tơ kẻ tóc, từ lời nói văn chương bóng bẩy hay câu đùa tưng tửng đều rất chi là Huế. Dù cho ông có sống nửa đời còn lại ở đất khách quê người hơn nửa vòng trái đất thì nét Huế trong ông vẫn không phôi pha chút nào. Bởi vì càng xa Huế, ông càng nhớ Huế. Huế càng trỗi dậy, mãnh liệt hơn, cồn cào hơn. Huế sống trong ông, ông mang tâm thức Huế trong hồn và bộc lộ ra trên từng câu nói, từng bài viết của ông! Ai đọc những tác phẩm của ông dù thoáng qua hay đọc kỹ cũng nhận ra điều đó.

 

Lần theo cảm xúc rất đỗi chân thành của tác giả với giọng văn giản dị nhưng dí dỏm và lôi cuốn. Nhà văn Trần Kiêm Đoàn đã cho người đọc trở về với Huế, cuốn sách chỉ trong chỉ trong 250 trang giấy của một ấn phẩm mà dường như ông đã gói cả khung trời Huế, mưa nắng Huế, ân tình Huế, nét duyên Huế và cả những dỗi hờn của Huế. Ai đã đọc qua rồi hãy đọc lại sẽ thấy mỗi lần đọc lại tác phẩm vẫn tràn đầy cảm xúc. Nhiều cảm xúc đan xen: khi xúc động rưng rưng ở những đoạn văn tác giả tả giây phút trở về với mẹ, khi tủm tỉm hay bật cười sảng khoái với những đoạn văn miêu tả nội tâm lẫn ngoại cảnh Huế đầy hài hước, tưng tửng, rất có duyên. Nếu không xa Huế, nhà văn Trần Kiêm Đoàn không thể nhớ Huế, thổn thức với Huế đến nao lòng! Để rồi ông viết với cả tấm lòng của người con xa Huế, chạm đến con tim người đọc như thế!

 

 

Hàng năm ông lại về với Sài Gòn, với quê hương Việt Nam, với Huế, với làng Liễu Hạ - nơi có căn nhà hương hỏa của ông để đắm mình trong không khí Huế, “nạp” thêm năng lượng Huế, món ăn Huế và lòng yêu Huế. “Về Huế được đi lại trên những con đường phố cũ, tôi nghe thân thương như bàn chân tôi và đất đá giữa đường vẫn còn nhớ nhau mà trò chuyện. Trên khuôn mặt của người cũ thêm nét phong trần và có chút già đi, nhưng với tình cảm thì sự đứt đoạn của thời gian chẳng làm phai đi cái giao tình của Huế” (tr. 35)

Kính chúc ông luôn an lành sức khỏe bên người thân gia đình để còn có nhiều lần trở về với Huế và nhiều cảm hứng sáng tác dành cho Huế.

 

Saigon, ngày 11/5/2024

Hoàng Thị Bích Hà

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 227)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 288)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 472)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 477)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 256)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 493)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 553)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 384)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 6972)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13924)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12794)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13334)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 227)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 472)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 256)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 552)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2618)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2765)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 479)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 543)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3433)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3844)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 287)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 384)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 499)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2788)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9565)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26032)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32375)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32712)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7337)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9709)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2383)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2395)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2477)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2816)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5019)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4323)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3954)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5073)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.