- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

GẶP TƯỚNG L Ê-NGUYÊN-V Ỹ… LẦN CUỐI

08 Tháng Tư 20248:51 CH(Xem: 25691)
tuongLeNguyenVy
Lê Nguyên Vỹ (1933 – 1975)

      

GẶP TƯỚNG LÊ-NGUYÊN-VỸ…LẦN CUỐI

Triệu Vũ


T
ừ phòng ngủ của Tư-Lệnh bước ra, Y-Sĩ Thiếu-Tá Đàm-Quang-Hiển xúc động, nghẹn ngào : “Thiếu-Tướng… đi rồi!” … Các Sĩ-Quan hiện diện, không cầm được nước mắt, kính cẩn nghiêng mình tiễn biệt chủ tướng. Bác-sĩ Đàm-Quang-Hiển, hiện định cư tại Mỹ, bang Minesota, nguyên là y sĩ trưởng Sư-Đoàn 5 Bộ Binh, kiêm Tiểu-Đoàn-Trưởng Tiểu-Đoàn 5 Quân-Y. Vào trưa ngày 30 tháng 4 năm ấy, ông được gọi lên, với hy vọng cấp cứu Chuẩn-Tướng Tư-Lệnh vừa dùng súng tự sát... Bác sĩ Hiển khám nghiệm, bắt mạch….Nhưng không kịp ! Người đã “đi” rồi! Ôi ! Thực buồn làm sao!

Lại sắp tới ngày 30 tháng 4 ! Đã 49 năm trôi qua, nơi tâm tư riêng, từ vùng sâu thẳm ký ức của mỗi người, của nhiều người; tưởng rằng đã quên hoặc đã phai mờ phần nào. Có khi cái ngày “quái ác” ấy, không biến mất, mà còn âm ỷ gậm nhấm, nhói buốt trong tim; nhắc nhở, nghĩ về xa xưa. Như những rỉ sét bám vào thanh kim loại, cứ ôm chặt, bào mòn, khiến bao người bàng hoàng, ngơ ngác, tưởng như mới xảy ra hôm nào, gần đây thôi. Có nhiều người cho rằng đó là một nhát chém, một vết thương .Vết thương ấy có thể đã thành sẹo, hoặc đã theo ai đó, chôn sâu dưới ba thước đất, hoặc có khi vẫn chưa lành, còn nhức nhối, còn rỉ máu. Là một quân nhân và cũng là chứng nhân, nên bao nhiêu kỷ niệm về ngày 30 tháng 4 đau buồn này, trong tâm trí tôi, theo chu kỳ một năm, lại hiện về. Trên toàn thế giới, nơi nào có Cộng đồng người Việt cư ngụ, nơi ấy chắc chắn sẽ tổ chức một lễ tưởng niệm; có thể đơn giản, thu hẹp, hoặc trọng thể, với nhiều tên gọi Ngày Quốc Hận, Ngày Mất Nước, nhớ về Tháng Tư Đen v.v . Tham dự lễ tưởng niệm, mọi người dâng hương tri ân, tưởng nhớ các quân, dân, cán chính đã hy sinh vì tổ quốc, hoặc thiệt mạng trên đường tìm tự do; đồng thời đặc biệt vinh danh 5 vị tướng đã anh dũng tuẫn tiết vào thời khắc không thể quên. “Sinh Vi Tướng, Tử Vi Thần”! Thực hãnh diện biết bao, trong trang sử Việt, có thêm 5 vị “ Thần”: Nguyễn-Khoa-Nam, Phạm-Văn-Phú, Trần-Văn-Hai, Lê-Văn-Hưng và Lê-Nguyên-Vỹ .

            Tôi chưa có hân hạnh được làm việc, hay phục vụ trong đơn vị của các Tướng Nam, Phú, Hai.  Riêng với Tướng Hưng, nhất là với Tướng Vỹ là hai vị  Cựu Tư-lệnh Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh  (  SĐ5BB ), một đại đơn vị, tôi đã phục vụ 8 năm rưỡi; trong đó, với trên 4 năm giữ chức vụ chỉ huy đơn vị yểm trợ tiếp liệu và hành chánh cho Bộ Tư-Lệnh Sư-Đoàn, nên tôi đã nhiều lần làm việc trực tiếp với hai vị Tướng này.

            Nhớ lại, gần 60 năm trước, tháng11-1964, tôi nhận lệnh động viên để theo học khóa19 Sĩ-Quan Trừ-Bị Thủ-Đức (khóa19/TĐ). Đầu tháng 9 năm 1965, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn-Úy, được điều về phục vụ tại Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh ( SĐ5BB ).Thế rồi, thời gian trôi mau, trải qua 5 đời Tư lệnh :

            -Đại-Tá Phạm-Quốc-Thuần,Tư-Lệnh(TL);Đại-Tá Dương-Phún-Sáng:Tư-Lệnh-Phó(TLP)

            -Thiếu-Tướng Nguyễn-Văn-Hiếu, TL ; Đại-Tá  Ngô-Lê-Tuệ , TLP.

            -Đại-Tá  Lê-Văn-Hưng , TL ; Đại-Tá  Lê-Nguyên-Vỹ ,TLP .

            -Đại-Tá  Trần-Quốc-Lịch , TL ; Đại-Tá  Nguyễn-Bá-Long , TLP .

`           -Đại-Tá  Lê-Nguyên-Vỹ , TL ; Đại-Tá  Trần-Văn-Thoàn , TLP .

            Đời quân ngũ của tôi, không có gì là oai hùng; tôi được chỉ định phục vụ tại đơn vị kỹ thuật của Sư-Đoàn, yểm trợ các đơn vị chiến đấu ngoài trận tuyến.Tuy vậy, dù ở cương vị nào, chức vụ gì, tôi chỉ biết chu toàn trách nhiệm. Nhớ ngày ấy, trong doanh trại các đơn vị thuộc Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh (SĐ5BB), đó đây có những tấm bảng, sơn đậm màu hàng chữ:“Không nhiệm vụ nào khó; không hy sinh nào lớn; bổn phận trên hết”. Chiến binh SĐ5BB, không ai quên được lời tâm nguyện này. Chỉ 14 chữ đơn giản, nhưng đã nhắc nhở, thấm sâu vào tim óc tôi lúc đó, một thanh niên, một sĩ-quan trẻ tràn đầy nhiệt huyết…

            Thời gian cứ trôi, về đơn vị đã vài tháng; tuy được chỉ định đúng theo bảng cấp số: Sĩ quan Tiếp-liệu kiêm Thanh-tra; nhưng có thể nói, tôi thi hành bất cứ nhiệm vụ gì thượng cấp giao. Tôi còn nhớ, vào cuối tháng 11-1965, ông đơn vị trưởng giao tôi nhiệm vụ Trưởng toán (trên 30 người) đi thu lượm thi hài quân nhân tử trận, tại khu vực làng 13 bis, đồn điền cao su Michelin, thuộc quận Dầu-Tiếng, tỉnh Bình-Dương. Chuyến công tác này, tôi ghi lại trong một bài viết, vào dịp Lễ Tạ Ơn 2017, với tựa đề “Phía Sau Mặt Trận”, đăng trong Tạp Chí Hợp-Lưu, do nhà thơ Đặnh-Hiền chủ biên, ở miền Nam California. Cũng cuối năm 1965 ấy, Bộ-Tư-Lệnh sư đoàn hướng dẫn các tân sĩ-quan mới tốt nghiệp khóa 20 Võ-Bị Đà-Lạt, được điều về SĐ5BB, đến thăm đơn vị tôi, trước khi phân phối đi các Trung-Đoàn. Ông Đơn-Vị-Trưởng, ông phụ tá “ e ngại” điều gì đó, lánh mặt và yêu cầu tôi, một Chuẩn-Úy mới ra trường, đại diện đơn vị, thuyết trình cho phái đoàn. Sau cùng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có thể nói, vài ba năm đầu, hầu như tôi công tác ngoài đơn vị. Khi thì huấn luyện, khi thì hội thảo, hoặc tham dự các khóa học ngắn hạn; thường xuyên đến các đơn vị thuộc Sư-Đoàn để thanh tra, nhiều  khi xuống tận trung đội bộ binh để nhận xét tại chỗ, nhu cầu tiếp liệu của quân nhân. Thời gian này, tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ Tướng Vỹ và được biết thêm nhiều về Ông. Lúc ấy Ông còn mang cấp Thiếu-Tá, giữ chức Trung-Đoàn-Trưởng Trung-Đoàn 9 Bộ-Binh, rồi được thăng cấpTrung-Tá. Sau đó Ông giữ chức Trung-Đoàn-Trưởng Trung-Đoàn 8, thăng cấp Đại-Tá; và năm 1970, Ông đi thụ huấn  khóa Chỉ-Huy-Tham-Mưu Cao-Cấp tại Hoa-Kỳ …

            Nhớ lại, khoảng giữa năm 1968, theo tổ chức mới, mỗi Sư-Đoàn thành lập một Tiểu-Đoàn Tiếp-Vận; SĐ5BB được chỉ định thành lập Tiểu-Đoàn Tiếp-Vận đầu tiên để trắc nghiệm.Và Đại-Đội 5 Quân-Nhu được cải danh thành Đại-Đội Tiếp-Liệu (ĐĐTL) trực thuộc Tiểu-Đoàn 5 Tiếp-Vận (TĐ5TV). Đại-Đội Tiếp-Liệu, ngoài Đại-Đội-Trưởng, có 12 Sĩ-Quan và trên hai trăm quân nhân thuộc quyền. Thời gian trôi mau, phục vụ tại SĐ5BB đã 5 năm, và tháng 10-1970, tôi được chỉ định giữ chức Đại-Đội-Trưởng Đại-Đội Tiếp-Liệu, thay Đại-Úy Lý-Văn-Trọng (khóa7-Thủ Đức) đi thụ huấn tại Hoa-Kỳ. Ít tháng sau, Đại-Tá Lê-Văn-Hưng thay Tướng Hiếu làm Tư-Lệnh SĐ5BB, Đại-Tá Hưng được thăng cấp Chuẩn-Tướng đầu năm 1972.

            Vào giữa năm 1971, mãn khóa học Chỉ-Huy-Tham-Mưu Cao-Cấp, Đại-Tá Lê-Nguyên-Vỹ được chỉ định về làm Tư-Lệnh-Phó/SĐ5BB. Thời gian ngắn sau, Ông được thông báo chuẩn bị nhận chức Tư Lệnh Sư-Đoàn 22 Bộ-Binh  thuộc Vùng II Chiến Thuật. Nhưng, tin tình báo ghi nhận : Có nhiều khả năng, Việt-Công sắp sửa mở cuộc tấn công lớn vào dịp Xuân Hè 1972; không giống tổng tấn công và nổi dậy trên toàn miền Nam, như dịp Tết Mậu Thân (1968), mà nhắm ba mục tiêu chính là Quảng-Trị, Kon-Tum và Bình-Long. Với trên mười năm hành quân trong vùng trách nhiệm của SĐ5BB và Khu 32 Chiến Thuật (gồm 3 tỉnh Bình-Dương, Bình-Long, Phước-Long). Đại-Tá Vỹ thuộc lòng địa hình, địa danh…những chi tiết, từ gốc đa cổ thụ kế bên ngôi miếu cổ; từ con  suối nhỏ dưới chân ngọn đồi dốc;  từ con đường mòn, giao lộ đến cây cầu kiên cố hoặc đơn sơ… Đặc biệt, biết bao lần, đơn vị do ông chỉ huy đã phục kích, chạm trán, đương đầu, truy lùng và diệt gọn địch quân ...cho nên cấp trên giữ ông tạm thời ở lại phụ lực với Tướng Hưng. Và đầu tháng 4-1972, trận chiến Bình-Long An-Lộc khởi diễn; Tư-lệnh chiến trường là Chuẩn-Tướng Hưng, Tư-Lệnh Phó là Đại-Tá Vỹ ( Đại-Tá Lê-Đức-Đạt được chỉ định làm TL/SĐ22BB). Viết đến đây, tôi chợt nhận ra không biết có chăng, một sự kết hợp nhiệm mầu, kỳ diệu, hay là một sắp xếp định mệnh huyền bí giữa hai vị Thần có tộc nguồn họ Lê. Năm 1933 , vùng đất phương Nam, nơi Gia-Định thành, ngôi sao Lê-Văn-Hưng chào đời. Cũng năm 1933 ấy, tại miền Bắc nước ta, nơi có thành Sơn-Tây, một vì sao khác Lê-Nguyên-Vỹ cũng xuất hiện, lấp lánh trên không trung. Rồi do vận nước, duyên trời, gần bốn mươi năm sau, 1972,  hai vì sao ấy kết hợp, lung linh, chói rạng trên vùng trời An-Lộc (tỉnh Bình-Long). Người sau còn nhắc mãi, không quên, và mặt trận tử thủ An-Lộc ghi lại đậm nét trong quân sử .

            Rời chiến trường Bình-Long An-Lộc, vùng rừng núi miền Đông Nam Phần, thuộc Quân-Đoàn III,Vùng 3 Chiến Thuật; Đại-Tá Vỹ về làm Tư-Lệnh-Phó Sư-đoàn 21 Bộ-Binh, vùng sình lầy miền Tây, thuộc Quân-Đoàn IV, vùng 4 Chiến-Thuật. Không ngờ ít tháng sau, tướng Hưng lại về làm Tư-Lệnh Sư-Đoàn 21 Bộ-Binh. Đã từng cùng chung sức, dẫn dắt một đại đơn vị oai danh, từng chung lòng tử thủ An-Lộc, gần một trăm ngày “nghẹt thở”trong hỏa ngục; nay lại sát cánh bên nhau, chỉ huy sư đoàn trấn giữ vùng cực nam đất nước. Đầu tháng 11-1973, Đại-Tá Vỹ được chỉ định trở lại chiến trường xưa, vùng rừng núi miền đông, giữ chức Tư-Lệnh Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh rồi được thăng Chuẩn Tướng. Và thật trùng hợp, đúng vào ngày tang thương của đất nước, (30-4-1975), hai cựu Tư-Lệnh của Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh oai hùng, được hấp thu linh khí kết tụ, cùng vượt tầng không gian, chắp cánh bay lên cao, tỏa sáng để hậu thế vọng tưởng, kính cẩn bái phục. Phải chăng đây là một kết hợp định mệnh giữa hai vị “Thần”!...

Riêng tôi, sau khi giữ chức vụ Đại-Đội-Trưởng Đại-Đội Tiếp-Liệu trên hai năm; ngày 31 tháng 12-1972, tôi bàn giao Đại-Đội cho Đại-úy Đặng-Đình-Quế (khóa16/TĐ), rồi được chỉ định thay thế Đại-úy Trần-Văn-Nhàn (khóa17/TĐ), trong chức vụ Chỉ-Huy-Trưởng Trung-Tâm 3 Sản-Xuất Đồ-Gỗ (TT3SXĐG), trực thuộc Bộ-Chỉ-Huy 3 Tiếp-Vận. Trung-Tâm đồ gỗ nằm giữa Căn-cứ 30 Nhiên-liệu và “Xưởng Cưa Quân Đội”, trên đường Phan-Văn-Trị, quận Gò-Vấp, tỉnh Gia-Định. Lúc đó Bộ-Chỉ-Huy 3 Tiếp-Vận, do Đại-Tá Trần-Quốc-Khang làm Chỉ-Huy-Trưởng, đã dời lên Căn-Cứ Long-Bình, gần Biên-Hòa…

Về phục vụ tại đơn vị mới chưa đầy một tháng, Hiệp-Định Paris 27-1-73 được ký kết; các chuyên gia nhận định, bất lợi cho Việt-Nam Cộng-Hòa. Lực lượng đồng minh lần lượt rút hết, khỏi Nam Việt-Nam nhưng quân Cộng-Sản Bắc-Việt lại không rút về Bắc (?)Tình hình chính  trị và quân sự đổi thay. Viện trợ Mỹ bị cắt giảm. Quân đội đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo. Thả một trái bom, bắn một phát đại bác đều phải quy ra tiền …Khi Đại-Tá Vỹ nhận chức vụ Tư-Lệnh SĐ5BB ngày 7 tháng 11 năm 1973, thay chuẩn Tướng Trần-Quốc-Lịch, với trọng trách chấn chỉnh, lấy lại uy danh của Sư-Đoàn; Ông đã nỗ lực tổ chức, sắp xếp, bổ sung nhân sự; hầu như đổi mới toàn diện đội ngũ cấp chỉ huy, từ Bộ Tư-Lệnh, đến 3 Trung-Đoàn. Và ông gửi văn thư chính thức, xin đích danh tôi về giữ chức vụ Đại-Đội-Trưởng Đại-Đội Tổng-Hành-Dinh kiêm Chỉ-Huy-Trưởng Tổng-Hành-Dinh/SĐ5BB (ThayThiếu-Tá Sơn). Thế là, rời SĐ5 chưa bao lâu, nay “vì nhu cầu công vụ” như trong Lệnh Thuyên Chuyển ghi rõ, tôi trở lại, nhưng ở cương vị khác và nhiệm vụ khác. Mười bốn chữ “ Không nhiệm vụ nào khó . Không hy sinh nào lớn . Bổn phận trên hết” vẫn chưa hề phai mờ trong trí. Với chức vụ mới này, tôi, ngoài việc chỉ huy, điều hành công việc của Đại-Đội Tổnh-Hành-Dinh, phụ trách yểm trợ tài chánh, tiếp liệu cho những đơn vị thống thuộc Bộ-Tư-Lệnh/SĐ như Trung-Tâm Huấn-Luyện, Đại-Đội Trinh-Sát, Biệt-Đội Quân-Báo, Biệt-Đội Tác-Chiến Điện-Tử..v.v, đồng thời trách nhiệm an ninh phòng thủ căn cứ và bản doanh Bộ-Tư-Lệnh. Do vậy, tôi hầu như nhận lệnh và trách nhiệm trực tiếp với vị Tư-Lệnh Sư-Đoàn…Những ai từng phục vụ trong quân ngũ trước năm 1975, hẳn đã biết, tổ chức Quân lực VNCH cấp Sư-Đoàn trở lên mới có đơn vị Tổng-Hành-Dinh, chắc sẽ hiểu và thông cảm cho nhiệm vụ của tôi. Mười bốn chữ “Không……hết”,tâm niệm của quân nhân SĐ5BB vần còn đó!

Một năm sau ngày Đại-Tá Vỹ về làm Tư-Lệnh,  SĐ5BB đã lấy lại uy danh xưa; tổ chức  những cuộc hành quân để giáng trả giành dân lấn đất của địch; những trận đánh bẻ gẫy vi phạm hiệp định đình chiến, trong vùng trách nhiệm. Nổi tiếng nhất là chiếm lại đồn Rạch Bắp, một trọng điểm, trên hành lang di chuyển của địch và ngày 1-11-1974, Đại-Tá Vỹ được thăng cấp Chuẩn-Tướng .

             Từ khi viện trợ Mỹ bị cắt giảm, ngân sách quốc phòng không đủ bảo vệ toàn lãnh thổ, cấp trên lập kế hoạch tái phối trí …Nhưng sau ngày Ban-Mê-Thuột thất thủ, 10-3-1975, rồi cuộc triệt thoái, di tản chiến thuật khỏi vùng II ngày 16-3-1975, gây bao thảm cảnh; tiếp theo là những cuộc lui binh từ vùng hỏa tuyến, dọc theo duyên hải miền Trung trở vào; tình hình chính trị, quân sự tại miền Nam thực bất ổn. Bộ-Tư-Lệnh SĐ5 được lệnh dời về Bình-Dương và để một Bộ-Chỉ-Huy trung đoàn ở Lai-Khê. Sư-Đoàn đã lên kế hoạch di chuyển. Đại-Tá Thoàn, Tư-Lệnh-Phó đã có mặt tại Bình-Dương, các bộ phận khác sẽ dần dần di chuyển về địa điểm mới. Thủ đô Saigon, không khí ngộp thở, người ta bàn tán về những thay đổi trong chính phủ và có thể thành lập chính phủ liên hiệp v.v.  Rồi lại có những nguồn tin Nam Việt-Nam đã bị bán đứng cho Bắc-Việt. Lại thêm tin không vui từ mặt trận đưa về : Ngày 28 tháng 3-1975, Đà-Nẵng và Quân-Đoàn I bỏ ngỏ. Các đài phát thanh ngoại quốc, không biết vô tình hay cố ý loan những tin bất lợi cho Miền Nam. Dân Sai gon xôn xao tìm đường chạy ra nước ngoài. Tháng Tư: đón nhận các quân nhân và gia đình di tản từ miền Trung, từ Cao Nguyên. Tháng Tư: tái phối trí, tái định cư; tháng Tư: Bộ Tư-Lệnh Tiền-Phương Quân-Đoàn III ở Phan-Rang thất thủ; lập phòng tuyến mới bảo vệ Saigon. Tháng Tư : tìm nhau, thất lạc, thương vong khi di tản v.v..Tháng Tư hoảng loạn, tinh thần quân sĩ giao động, sa sút. Người dân thực hoang mang, ngơ ngác…Những gia đình có liên hệ đến Mỹ, gia đình viên chức cấp cao, Tướng lãnh, v.v tìm đường ra đi lánh nạn. Rồi bàn giao chức vụ Tổng-Thống để…ra đi khi trời tối; Rồi lại bàn giao chức vụ Tổng-Thống để …tìm giải pháp…đầu hàng v.v.

             Ngày 28-4-1975, lúc 7 giờ sáng, tôi đưa gia đình Tướng Vỹ (gồm Bà Vỹ và 4 con: 3 trai, 1 gái) đến điểm hẹn gần phi trường Tân-Sơn-Nhứt để làm thủ tục di tản ra nước ngoài. Hôm đó, tôi đã thấy có gia đình của Tướng Toàn, Tướng Thi, Đại-Tá Thoàn và một vài Sĩ-quan ở Bộ Tổng-Tham-Mưu. Mỗi gia đình riêng một danh sách. Một sơ suất nhỏ không ngờ : danh sách lên tàu họ trao cho tôi, thiếu tên một con trai của Tướng Vỹ. Dĩ nhiên nhân viên phụ trách đã điều chỉnh và mọi việc cũng êm xuôi. Một chiếc xe buýt lớn màu ô liu đậm, của quân đội Mỹ, có nhân viên bảo vệ, chở những người di tản vào trong khu vực hạn chế, để lên máy bay. Có ai ngờ, chuyến bay đã mang đi nụ cười héo hắt, ánh mắt ngây thơ vô tội….từ đây, không thấy chồng, không thấy cha… Xong việc, tôi lập tức trở về đơn vị.

            10 giờ sáng 28 tháng 4-1975, lên tới Lai-Khê, tôi gặp Tướng Vỹ tại văn phòng Tư-Lệnh. Tôi đưa Ông bức thư dán kín, do phu nhân của Ông nhờ trao. Bức thư khá dầy, cầm hơi nặng tay. Ông mở thư, đọc ngay rồi hỏi tôi: “Bà xã “moi” khóc nhiều lắm hả”(1) ? Không đợi tôi trả lời, Ông tiếp : “Bà ấy đủ sức lo cho mấy đứa nhỏ”! Nét mặt Ông lúc ấy rất bình thản; đôi mắt Ông  ánh lên một niềm tin, đồng thời bàn tay phải đưa lên chiếc kệ gỗ kế bên, nơi để ít vật kỷ niệm, và đặc biệt, Ông đặt tay lên một khẩu súng lục nòng ngắn p.38, để trên kệ. Ông chầm chậm gật đầu, như  cảm thấy yên tâm về gia đình; nay dành toàn tâm toàn ý cùng quân sĩ chống giặc. Bàn tay Ông vỗ nhẹ lên khẩu súng ngắn. Rồi Ông chỉ thị tôi về Bình Dương, ghé kiểm soát doanh trại mới, để chuẩn bị di chuyển Bộ-Tư-Lệnh vào những ngày sắp tới. Ông còn dặn dò tôi về lo cho gia đình, xong trở lên đơn vị, cùng Ông “Sống chết có nhau”! 

            Trưa ngày 28-4-1975, rời Lai Khê đi Bình-Dương, ghé  kiểm tra doanh trại mới; bốn giờ chiều, tôi về Saigon. Gia đình cho biết chú em tôi, Nguyên-Vũ, đã lo được phương tiện di tản, có ý chờ tôi về. Nhưng tôi về không kịp. Nguyên-Vũ cho gia đình biết là vào Dinh Độc-Lập thực hiện cuộc phỏng vấn. Chiều hôm ấy, 28 tháng 4 năm 1975, diễn ra một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt, thời khắc mà Tổng Thống Trần-văn-Hương bàn giao chức Tổng-Thống cho Đại-Tướng Dương-văn-Minh. Tôi liền đi đến dinh Độc-Lập, không phải để chứng kiến lễ bàn giao , mà muốn tìm em tôi. Đến góc đường  Hồng-Thập-Tự và Hai-Bà-Trưng, súng nổ rất nhiều, nguy hiểm quá, đành quay về. Càng lo lắng hơn, khi có phi cơ lạ ném bom phi trường Tân-Sơn-Nhứt… Đêm hôm ấy sao dài quá ! Nghĩ về đơn vị; trông tin tức của chú em. Thức chờ sáng mới thấm: đêm sao qua chậm thế !

Sáng sớm hôm sau, 29/4/75, quay lại  những con đường quanh Dinh Độc-Lập, xác một số quân nhân  nằm dọc lề đường. Nhưng không “xác nào là em tôi”.Lòng chất nặng ưu tư, tôi trở lên đơn vị. Dọc đường, gặp đoàn xe di chuyển Quân Đoàn III, từ Biên-Hòa về Gò-Vấp. Xe tôi vừa qua quận Lái-Thiêu, đường bị đóng vì địch quân đặt chốt chặn hướng lên Bình-Dương, Lai-Khê. Quân cảnh, cảnh sát dã chiến, lực lượng quân sự địa phương đặt những chướng ngại vật, chăng kẽm gai không cho lưu thông. Tôi quay lại Saigon. Tâm trí rối bời, không yên lòng, buồn và lo. Tình hình thay đổi từng giờ .Chính phủ mới yêu cầu Mỹ đóng cửa Văn Phòng Tùy-Viên Quân-Sự.Tối 29-4 trực thăng Mỹ quần thảo trên bầu trời. Máy vô tuyến liên lạc tầm xa, gắn trên xe tôi, bị nhiễu sóng, không sử dụng được…Cả thành phố náo loạn…

 Sáng 30-4-1975, Tổng-Thống Dương-Văn-Minh tuyên bố đầu hàng; trời Saigon mưa nhẹ; không biết đây có phải là những giọt lệ xót thương số phận của một đất nước nhược tiểu. Thế là Miền Nam sụp đổ. Rồi trả thù, nợ máu, tù đầy. Nước mất nhà tan. Không còn tiếng bom đạn, nhưng lại vang lên tiếng oán than, nguyền rủa, kêu cứu. Tình người và nghĩa đồng bào ở đâu ? Nói đến bao giờ và nói sao cho hết những nỗi đau. Nếu ghi lại thì nước biển, trúc rừng liệu có đủ chăng ?... Tôi vẫn thầm nghĩ : Đúng là ý Trời! Thực không ngờ trưa 28 tháng 4-1975, tôi gặp Tướng Vỹ lần cuối. Lời nói sau cùng của Ông và đặc biệt, hình ảnh bàn tay Ông vỗ nhẹ vào khẩu súng ngắn hôm ấy, là dấu ấn, khó phai mờ trong trí tôi …

Những ngày còn trong nước, cũng như khi định cư tại Hoa-Kỳ, cựu Chánh văn phòng của Tướng Vỹ, Đại-Úy Tiêu-Nguyên, đã gặp tôi và xác nhận : Ngay sau khi biết Tướng Vỹ dùng súng tự sát, Đại-Úy Nguyên trình ngay với Đại-Tá Tham-Mưu-Trưởng. Thiếu-Tá Đàm-Quang-Hiển, Y-Sĩ-Trưởng kiêm Tiểu-Đoàn-Trưởng Tiểu-Đoàn 5 Quân-Y được gọi lên gấp, với một chút hy vọng mong manh cấp cứu chủ tướng …Nhưng từ phòng ngủ của Tư-Lệnh bước ra, y sĩ Thiếu-Tá Đàm-Quang-Hiển mắt rưng lệ, nghẹn ngào : “ Thiếu-Tướng…. đi rồi !”…

Định cư tại Liên bang Mỹ vào mùa Xuân 1990; tuy phải bận rộn lao động mưu sinh, tôi đã tìm đọc một số ít tài liệu lịch sử, viết về giai đoạn chiến tranh Việt-Nam và đọc những bài viết nhắc đến các vị Tướng tuẫn tiết ngày 30 tháng 4–1975. Riêng với Tướng Vỹ, có những tác giả ghi lại qua lời kể của ai đó; có những tác giả chỉ ghi lại nội dung một vài lần gặp gỡ, hoặc có tác giả, nhớ lại một thời gian, đã từng phục vụ dưới quyền Tướng Vỹ v. v. Mỗi người kể lại theo một góc nhìn của riêng mình. Theo tôi, đây là những tư liệu rất quý. Tuy nhiên có những bài viết, đôi chỗ hơi “cường điệu”, khiến người đọc nhận ra ngay, là tác giả dựa vào những thông tin chưa được kiểm chứng …Gần đây nhất, một tuần trước, người bạn tù Phạm-Đức-Vượng, từ San Jose, bang Cali chuyển cho tôi vài bài viết, của… ai đó, được thu âm và phổ biến rộng rãi tại Hoa-Kỳ; tiếc thay, nội dung đề cập đến Tướng Lê-Nguyên-Vỹ và Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh, chưa được chính xác lắm…

 Nhớ lại, mười bẩy năm trước, 2007, vào một ngày đẹp trời, tại thành phố Houston nắng ấm tình nồng thuộc Bang Texas; nhân đến dự buổi họp mặt toàn quốc của một hội đoàn quân đội; mọi người đề nghị tôi nói đôi điều về Tướng Lê-Nguyên-Vỹ và Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh. Khi tôi phát biểu xong; một người bạn mới quen,Vũ-Văn-Vượng (lại tên Vượng), là cựu Sĩ-quan Sư-đoàn 25 Bộ-Binh, đã đề nghị tôi phải viết lại những gì tôi biết về Tướng Vỹ. Anh đặc biệt nhấn mạnh sẽ “có tội” nếu không nói lên sự thực. Tôi tự hỏi :Tôi có tội sao? Hai chữ “có tội”khiến tôi như bừng tỉnh sau cơn mê dài và tự thấy cần phải nói lên, phải ghi lại những sự thực mà tôi biết. Như thêm giọt nước làm tràn ly; và cảm thấy có mũi nhọn của một lưỡi lê, đâm vào lưng, nhói buốt, thôi thúc tôi. Và bài viết “Vài cảm nghĩ về Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh & Tướng Lê-Nguyên-Vỹ” ra đời, đăng trong  tạp chí Hợp-Lưu. Bài viết này đã được trân trọng đón nhận và là một tư liệu lịch sử. Bởi thế, có nhiều cơ quan truyền thông khác, cùng những mạng truyền thông xã hội đã tiếp tay phổ biến. Lần này, anh bạn tù Phạm-Đức-Vượng, người biết nhiều về gia đình tôi, lại dùng “chiêu khích tướng”, gửi cho tôi những tài liệu cần được “bổ sung” để, một lần nữa tôi phải nói thêm những sự thực mà tôi biết về Tướng Vỹ. Tuy nhiên, tôi nghĩ đây cũng là trách vụ, nên đã mạnh dạn ghi lại những gì tôi biết, dù có một chút riêng tư, nhưng là sự thật. Nói đến sự thật, chắc mọi người đều đồng ý, có những sự thật nói ra, thực đau lòng. Thân làm Tướng, đánh đông dẹp bắc, vào sinh ra tử, oai hùng nơi trận địa; trấn giữ thành, thành mất, phải tính sao đây? Gương sáng tiền nhân Hoàng-Diệu, Nguyễn-Tri-Phương…còn đó. Chẳng lẽ để quân địch vào trói tay đưa đi tù sao? Chắc không ai quên câu nói của người xưa : thà chết chứ không chịu nhục; hay nói khác đi là chết vinh hơn sống nhục …

Chết vinh hơn sống nhục. Có những cái chết lưu danh thiên cổ. Có những cái chết để lại tiếng xấu muôn đời. Người ta không thể chọn nơi mình sinh ra nhưng có thể chọn cho mình một cái chết oai hùng, để lại tiếng thơm, sử sách lưu truyền mãi mãi, như 5 vị Tướng đã làm…

Di cốt Tướng Lê-Nguyên-Vỹ đã đưa về an táng tại quê nhà ở Sơn-Tây, miền Bắc nước ta. Suốt chiều dài cuộc chiến “Quốc Cộng” vừa qua, riêng dòng họ Lê, tỉnh Sơn-Tây, theo tôi biết, đã cống hiến nhiều thành viên phục vụ trong quân lực VNCH. Một số đã hy sinh vì tổ quốc; trong quân chủng Lục quân có: Lê-Nguyên-Vỹ, Lê-Quốc-Anh; Hải quân có: Lê–Anh-Tuấn; Không quân có: Lê-Nguyên-Hải. Cùng với bao anh hùng khác, đã góp công sức, máu xương, mạng sống; những chiến binh họ Lê hiên ngang, đáp đền ơn nước, trả nợ núi sông, rạng ngời trong quân sử …

            Những lần về thăm quê hương, có dịp đi lại trên quốc lộ 13 , ngang khu vực có tên gọi Lai-Khê thuộc quận Bến-Cát, tỉnh Bình-Dương; nơi đã từng đặt bản doanh Bộ Tư-Lệnh Sư-Đoàn 5 Bộ-Binh; hình như có điều gì huyền bí, không diễn tả được. Phải chăng anh hồn của vị “thần”  Lê-Nguyên-Vỹ như ẩn như hiện quanh đây. Vẫn những lô cao su trồng làm mẫu, vẫn còn vài ba tòa nhà gạch khuất sau những tàn lá xanh tươi. Tôi cảm thấy có điều gì bí ẩn, linh thiêng, rợn người, khiến tôi không dám ghé vào, chỉ ngước lên trời cao và thầm khấn nguyện …

 

   TRIỆU – VŨ  
( Houston, TX ) 

 “ moi” : tiếng Pháp, có nghĩa là: tôi

   

    

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 941)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 726)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1486)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1587)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1228)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3170)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9943)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16781)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16207)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3123)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5304)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7318)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6665)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 941)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 726)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2422)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2265)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2508)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2493)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1227)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13620)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29724)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35749)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10863)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12701)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3339)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3624)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4171)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7859)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7170)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10009)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.