- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

VÀI SUY NGHĨ NHÂN ĐỌC: “MÂY TRÊN ĐỈNH NÚI” CỦA NGUYÊN VŨ

07 Tháng Hai 20243:34 SA(Xem: 31567)
may tren dinh nui -nguyen vu

Đỗ Trường

 

VÀI SUY NGHĨ NHÂN ĐỌC:

“MÂY TRÊN ĐỈNH NÚI” CỦA NGUYÊN VŨ

 

 

 

Khi tìm đọc văn học chiến tranh (giai đoạn 1954-1975) tôi bắt gặp rất nhiều lần lời giới thiệu ngắn tên tuổi, và các tác phẩm của nhà văn Nguyên Vũ. Kể từ đó, tôi luôn tìm Nguyên Vũ để đọc, song dường như không có tác phẩm nào của ông được đưa lên các trạng mạng, hay các thư viện điện tử. Hôm rồi, thật may mắn, đang nghiền ngẫm về cố nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, tình cờ tôi bắt gặp: Mây Trên Đỉnh Núi, truyện dài gồm 20 chương của Nguyên Vũ. Đây có lẽ là truyện dài đầu tay, và ít được nhắc đến của ông. Cũng định thử một vài trang, rồi lúc nào đó sẽ đọc tiếp, nhưng bập vào tôi không thể dứt ra được, và đọc một mạch ngay nơi làm việc. Sự hấp dẫn, sinh động ấy, không hẳn bởi chỉ nội dung, mà còn do bố cục, nghệ thuật đan xen những tình tiết câu chuyện, hay lời tự sự, tính cách nhân vật. Bởi vậy, những trang viết mang đậm nét ký sự hừng hực khói lửa nơi chiến trường, được lồng vào tình yêu nơi hậu phương, khi trần trụi, lúc tiểu thuyết lãng mạn, như thể giảm đi cái ngột ngạt của chiến tranh, dung hòa cảm xúc người đọc vậy. Cho nên, đọc Mây Trên Đỉnh Núi, thật khó xác định tác phẩm này thuộc tiểu thuyết, hay thể ký sự, tùy bút. Và đây cũng là thủ pháp nghệ thuật điển hình của tác phẩm này.

Cùng với nhà văn: Phan Nhật Nam, Thảo Trường, Lữ Quỳnh, Nguyễn Xuân Vinh…sự pha trộn các thể loại văn học dẫn đến cái mới lạ ở Mây Trên Đỉnh Núi của Nguyên Vũ góp một luồng sinh khí cho Văn học miền Nam. Nhất là vào những năm 1965-1966 chiến tranh lan rộng, và tàn khốc, đưa đến sự bế tắc chung của mọi loại hình nghệ thuật. Có thể nói, Mây Trên Đỉnh Núi là một trong những tác phẩm toàn bích của Văn học Việt về hình ảnh người lính nơi chiến trường, và thân phận con người nơi hậu phương trong bối cảnh chiến tranh, xã hội đại loạn.

Nguyên Vũ tên thật Vũ Ngự Chiêu, sinh năm 1942 tại Hải Dương. Ông nguyên là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhiều năm lăn lộn trên chiến trường. Ở đó đã cho Nguyên Vũ nguồn cảm hứng, vốn sống để viết, và xuất bản liền tù tì 36 tác phẩm (tính đến1975).
Sau 1975 ra hải ngoại, Nguyên Vũ vẫn tiếp tục viết và nghiên cứu. Với bút danh Chính Đạo, ông còn đi sâu vào lãnh vực lịch sử. Hiện nay, Nguyên Vũ đang sống và viết tại Hoa Kỳ.

 *Tình yêu - khát vọng thời chiến loạn.

 Ngay từ khi cầm súng, cầm bút Nguyên Vũ đã bộc lộ, gửi gắm tư tưởng vào nhân vật của mình. Và nỗi đau của người lính gắn liền với nỗi nhục của dân tộc. Do vậy, kẻ mua bán chiến tranh dù ở góc độ, hay chủ thuyết ngoại lai nào đi chăng nữa, thực sự đó mới là những tên đồ tể giấu mặt trên chiến trường, và đưa khổ đau, cốt nhục tương tàn đến cho cả dân tộc này: “chiến tranh vốn tàn bạo và dơ bẩn, nhưng người khởi xướng chiến tranh còn dơ bẩn và tàn bạo gấp trăm lần chính cái thực thể chiến tranh nữa“. (Chương 14). Vì vậy, hệ quả những đứa con lai bị chối bỏ, đã vạch trần bản chất chiến tranh, và những kẻ nhân danh chủ thuyết này, mỹ từ nọ (khai hóa văn minh như: Pháp, Mỹ, Nga, Tàu) cùng hè nhau hiếp dâm cả dân tộc này. Cái tư tưởng ấy xuyên suốt tác phẩm: Mưa trên đỉnh núi của Nguyên Vũ. Thật vậy, đọc nó (Mưa trên đỉnh núi), chợt làm tôi liên tưởng đến: Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp của Thảo Trường. Tuy khung cảnh và thời gian khác nhau, song cả hai thiên truyện cùng khắc sâu những phận đời trớ trêu ở một đất nước (dân tộc) nhược tiểu. Nỗi tủi nhục và đớn đau về cả thể xác lẫn tâm hồn ấy, đến nay càng khắc sâu thêm: 

“Vị mệnh phụ phu nhân này đã bị chồng ép buộc leo lên giường viên công sứ, không một mảnh vải che thân. Đến lần thứ ba thì Hélène bắt đầu được quyết định mở mắt chào đời để làm một thứ nhân chứng hiện thực nhất cho sự khai hóa của dân tộc Pháp và nền văn minh Tây phương trên mảnh đất khô gầy được mệnh danh là man dã này. Vừa cất tiếng khóc oe oe, Hélène được gửi ngay cho một vú nuôi. Rồi lớn lên, lớn lên nữa. Chưa bao giờ Hélène dám gọi người đàn bà đài các, đẹp não nùng là mẹ.“ (Chương 1)

Có lẽ, không phải là tất cả, nhưng hình ảnh người lính bị đẩy xuống phi cơ, nói lên một phần nào đấy nỗi buồn đau của người lính trận. Với giọng văn châm biếm, Nguyên Vũ như xoa dịu nỗi đau của con người như phép so sánh tinh thần AQ, hòng che đậy nỗi nhục, tinh thần hèn kém chăng? Đọc nó, bất chợt bật ra tiếng cười, song cứ nghẹn đắng ở trong lòng vậy. Và với tôi, những hình ảnh, lời văn tự sự chân thực này, không chỉ có giá trị văn học, mà còn đem lại giá trị lịch sử chiến tranh lâu dài

“Bạn bè chàng nhiều người cũng được hân hạnh tống cổ xuống phi cơ, uổng công năn nỉ bằng mớ Mỹ ngữ “nhảy dù“. Nhưng biết sao hơn. Air Viet Nam mua được cái vé khứ hồi mất hàng tháng. Và lính tráng thì nghèo kiết xác. Air …xe đò thì ớn mấy chú du kích chặn đường hỏi thăm. Đành chịu nhục một tí nhưng khỏe người, tiết kiệm được những giờ phút nghỉ phép vàng ngọc. Cũng như dân tộc này đã từng nuốt nước mắt tủi nhục hơn một thế kỷ“. (Chương 1)

Trong bối cảnh chiến tranh, đại loạn như vậy, đọc Mưa Trên Đỉnh Núi, ta vẫn thấy tình yêu, và khát vọng của tầng lớp bị vùi dập xuống tận cùng của xã hội. Thật vậy, với ngòi bút nhân bản, Nguyên Vũ đã xây dựng thành công nhân vật Hélène, một cô gái giang hồ, cùng sự phân tích, miêu tả sâu sắc diễn biến tâm lý. Ngay từ những thập niên sáu mươi, Nguyên Vũ đề cao trinh tiết của tâm hồn thay cho nhục dục thể xác là những tình tiết rất mới, rất lạ trong Văn chương Việt lúc đó. Tôi nghĩ, với tình tiết này, Nguyên Vũ sẽ nhận được sự đồng cảm của người đọc, nhất là tầng lớp bình dân. Và đoạn văn với những hình ảnh ẩn dụ, so sánh dưới đây chứng minh cho ta thấy tài năng, cùng những tư tưởng, tình tiết thật thi vị ấy của Nguyên Vũ:

“Thân thể người đàn ộng này là Tuấn – Tuấn – Tuấn: Người đàn ông rọi xuống hang động sâu thẳm, tối tăm của đời nàng những vạt nắng thơm tho. Người đàn ông cho nàng những buồn vui tinh khiết nhất giữa thể khối nhầy nhụa, đặc quánh tủi hổ. Người đã dạy nàng biết thế nào là nhớ nhung, là trống vắng của ngày tháng xa cách, đã tạo dựng nên một hình hài thứ hai bên lớp xác mang tên Hélène, con điếm thượng lưu này. Mỗi lúc tưởng nhớ đến Tuấn, nằm bên Tuấn, Hélène có cảm tưởng nàng vừa lột xác. Sự lột xác đầy hãnh diện – cao lớn niềm vui – mơn mởn hạnh phúc.“ (Chương 6)

Chiến tranh tàn khốc, sự hỗn loạn xã hội tác động trực tiếp tâm lý của người lính. Sự ám ảnh ấy, làm cho thần kinh luôn trong trạng thái bị kích động, dẫn đến suy nghĩ, hành động bất nhất của người lính: khi cao thượng, lúc phũ phàng, tàn nhẫn. Với họ, tình yêu có lúc lãng mạn chân thực, và đôi khi chỉ là thứ tình trần trụi nhục dục, giải tỏa bế tắc nơi chiến trường: “Với Tuấn, tình yêu và đàn bà chỉ còn là một thứ đồ trang sức rẻ tiền, bày bán khắp hang cùng ngõ hẻm“. (Mây trên đỉnh núi). Do đó, dù yêu Hélène, song Tuấn (người lính trận) làm cho cô thất vọng, và tủi hổ. Việc Tuấn hẹn Hélène để cho người bạn tên Minh qua đêm, thực sự là hành động bỉ ổi, đê tiện. Có thể nói, ngòi bút của Nguyên Vũ đi vào khai thác khía cạnh nhạy cảm, dễ va chạm, trong bối cảnh thực của người lính. Do vậy, ta có thể thấy người lính trong: Mây Trên Đỉnh Núi, hiện lên một cách trần trụi, trái ngược hẳn với những người lính hào hoa, đa tình trong các tác phẩm của những nhà văn khác cùng thời. Thật vậy, lời tự sự đớn đau, và chua xót dưới đây của Hélène chứng minh cho ta thấy rõ điều đó:

“Mắt Hélène rực lên, nhìn theo bờ lưng rộng và phẳng của Minh. Nhưng nàng không đủ năng lực, can đảm để giận dữ nữa. Hélène chỉ thầm chua xót, tủi hổ. Tuấn đã hẹn nàng để giới thiệu cho Minh. Có phải anh vẫn chỉ coi em như một con điếm, một con điếm lai Tây, một của lạ cho khách làng chơi. Vâng, em chỉ là một con điếm. Nhưng sao anh quá vô tình như thế, anh Tuấn. Trận địa nọ đã biến đổi anh rồi ư? Anh không là Tuấn của ngày nào. Anh đã thay đổi. Anh đã có những cái bần tiện của một kẻ tưởng mình lọc lõi phải không?“ (Mây trên đỉnh núi)

Khi đưa ra tình tiết, miêu tả hình ảnh Diễm, một nữ sinh danh giá, và Hélène một cô gái giang hồ, thất học - Phải chăng Nguyên Vũ muốn so sánh, hoặc đưa tình yêu của họ lên bàn cân? Hành động Diễm rời bỏ Tuấn người lính trận để lấy chồng dạy học (yên vị) ở thành phố, khác hẳn Hélène dám đi đến tận cùng yêu, tận cùng sống với Tuấn (kể cả tự sát). Có thể nói, viết Mây trên đỉnh núi, Nguyên Vũ như muốn đánh giá lại giá trị tình yêu, giá trị đạo đức, giá trị con người mà từ bấy lâu rao giảng vậy.

 *Chiến trường khốc liệt, với sự can đảm, nỗi uất hận của người lính.

 Cũng như Thảo Trường, hay Phan Nhật Nam, nhà văn Nguyên Vũ có cái nhìn, quan sát rất tỉ mỉ, và ông bê nguyên si cái hiện thực ấy vào trang viết của mình. Do đó, những dòng miêu tả, trần thuật của Nguyên Vũ không chỉ sinh động, mà còn nóng bỏng tính thời sự. Tôi đã đọc khá nhiều về sự tàn khốc, bi thương ở nơi chiến trường của các nhà văn ở cả hai chiến tuyến. Nhưng dường như cái kiểu chém giết rùng rợn thời trung cổ chỉ có ở trang viết của Nguyên Vũ. Đọc nó, cũng như tôi chắc nhiều người sẽ bị ám ảnh:

“Rồi, những bộ đồ bông ướt sũng trườn lên khỏi bờ lạch, khởi diễn một trận đánh man dã, tàn bạo. Từng thây người gục ngã ruột gan đổ lòng thòng, thân thể bị nát bấy vì đạn, vì mã tấu. Những con mắt khờ dại trợn trừng nhìn lên bầu trời thật trong và xanh lơ…“ (Chương 14)

Và những người lính đi vào cái chết vẫn còn ngơ ngác. Niềm tin, sự trong trẻo dường như còn có sự u uất trong mắt họ. Bởi, người lính trẻ ấy, thực sự chưa hiểu hết về chiến tranh với thủ đoạn của những kẻ đầu cơ chính trị và bán mua nó. Do vậy, họ hoàn toàn không chuẩn bị tâm lý cho mình để bước vào nơi mộ địa. Đọc Nguyên Vũ, ta không chỉ thấy tính chân thực, mà còn thấy được tài năng phân tích, miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật:

“Tuấn ngước lên nhìn mặt Sanh. Mắt Sanh đã mất hết sinh khí, trợn trừng nhìn nóc nhà đầy mạng nhện và lấm tấm những điểm nắng. Có lẽ Sanh chết mà vẫn chưa tin mình đã chết. Cũng như nhiều người trẻ tuổi đang tham dự chiến cuộc này thường ngơ ngác trước cái chết đột ngột của mình, thường chưa kịp chuẩn bị cho mình một thái độ thích nghi để bước vào nằm trong mộ địa. Tuấn lau nhanh những giọt nước mắt vừa âm thầm nhỏ xuống, vuốt mắt cho Sanh…“ (Chương 14)

Trước sự sống, và cái chết trong cuộc chiến tàn khốc thần kinh người lính bị kích động, dẫn đến suy nghĩ, hành động không thể kiểm soát. Do vậy, hình ảnh người sĩ quan trung đội trưởng dưới ngòi bút của Nguyên Vũ hiện lên đầy hận thù. Dường như, đây là lần đầu tôi được đọc về hành động có thể nói dã man dù bột phát của một sĩ quan, dưới ngòi bút của chính đồng đội mình? Ngoài tính chân thực, tôi nghĩ đến bút lực và lòng can đảm, trách nhiệm của nhà văn Nguyên Vũ. Thật vậy, ngòi bút của Nguyên Vũ đã đi sâu vào từng ngõ ngách nhọc nhằn, buồn vui, thù hận (hỉ nộ ái ố) của người lính:

“Hùng đứng dừng lại, quạt nguyên một băng đạn. Tên địch ngã sấp xuống. Tấm lưng trần của hắn chi chít những lỗ máu đỏ sâu hoắm. Hùng nghiến răng lắp một băng đạn khác, lên cơ bấm thật mạnh. Rồi, chậm rãi bước tới bên kẻ hấp hối, mũi bốt-đờ-sô nhê nhếch sình lầy lật ngửa hắn lên. Khẩu M.2 trên tay Hùng dí sát xuống khuôn mặt đẹp trai, sáng sủa của tên thương binh. Hùng chợt cười nức nở nghiến răng siết cò. Cái đầu tên thương binh nát bấy. Máu và óc bắn tung toé dính cả vào đầu tóc quần áo Hùng.

Viên Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng chợt cau hàng lông mày hơi rậm, hỏi Tuấn: Bộ thằng đó khùng sao? Tuấn lột chiếc nón sắt trao cho Vĩnh cố giấu một tiếng thở dài: Thằng Sanh, bạn nối khố của nó mới chết, Thiếu tá“ (Chương 14)

Thế Hệ Chiến Tranh của Trần Hoài Thư, Những Ngày Gãy Vụn của Phan Nhật Nam, và Mây Trên Đỉnh Núi của Nguyên Vũ là ba tác phẩm được viết cùng một thời điểm, ở ba chiến trường khác nhau. Song ngoài bi hài, nó còn tiêu biểu cho sự quân kỷ của người lính giữa sống và chết, dù lòng tràn đầy mâu thuẫn, và uất hận. Về ngôn ngữ, lời thoại đều mang đậm chất điện ảnh. Do vậy, nó tạo nên những trang văn thật sinh động. Ta có thể thấy, không chỉ ở mặt trận Đồng Xoài, với Những Ngày Gãy Vụn (Phan Nhật Nam) người trung đội trưởng gọi pháo binh chi viện, bị bác bỏ:

“ - Báo cáo không thể tiến thêm được nữa, địch quá đông, xin pháo binh. Tôi gọi về đại đội nói như hét.

- Không bắn pháo binh được, khu đồn điền có dân và có nhà thờ.

 - Dân con mẹ gì! Tôi la muốn vỡ phổi để phản đối: Không phải dân đâu, toàn là Việt cộng thôi...

 - Bộ chỉ huy hành quân quyết định không cho bắn, anh về đó mà kiện“

Mà ở mặt trận Tây Nam: Mây Trên Đỉnh Núi của Nguyên Vũ cũng y chang vậy. Pilot từ chối, khi người đại đội trưởng cầu cứu. Có thể nói, đây là nỗi đau bất lực của người lính. Và chính sự trói buột trớ trêu này góp phần không nhỏ cho những thất bại trên chiến trường:

“– Đ.m… tại sao UTT không chịu yểm trợ cho tụi tôi tiến quân.

– Tôi bảo tụi cố vấn của mình xin rồi. Nhưng bọn Pilot bảo đó là một ngôi chùa.

– Trung úy bảo nó cứ bắn nát chỗ đó đi, tội vạ đâu tôi chịu. Nhà máy chứ chùa chiền, con C… gì. Mà chùa chiền đi nữa, nếu cần dùng cũng làm cỏ luôn. Sống chết trong đường tơ kẽ tóc mà còn nhân đạo gì nữa. (Chương 14)

Hình ảnh cháu bé bảy tuổi chết bởi bom mìn giữa nơi chiến trường, Nguyên Vũ đã đẩy chiến tranh đến mức tận cùng khốc liệt. Sự bất lực của người lính trước bi thương, mất mát đó, lại là mảnh đất màu mỡ để nhà văn đi sâu khai thác. Và hình ảnh, tâm trạng của của họ hiện lên trang viết Nguyên Vũ rất sâu sắc, nhân bản và chân thật. Và dường như, dưới ngòi bút của Nguyên Vũ, người lính hay cấp chỉ huy nào đi chăng nữa đều mang tính cách dân dã, nặng tinh thần trách nhiệm đối với đất nước và con người. Do vậy, ngoài hành động trên chiến trường, tâm hồn đa cảm của người lính in đậm trên trang viết của Nguyên Vũ. Chúng ta hãy đọc lại đoạn văn tự sự dưới đây, để thấy rõ sự dằn vặt, tâm trạng bi quan và chán chường của người lính, cũng như một lần nữa chứng minh thêm tài năng miêu tả, phân tích nội tâm nhân vật của Nguyên Vũ:   

“Đứa bé đã chết rồi. Một cái chết mà chỉ chiến tranh mới tạo nên được. Chết không toàn thây. Tội cho cháu…Một ngày, một giờ trên đất nước tôi bao nhiêu đứa trẻ chết oan uổng…Ai bảo, ai xui cháu sinh ra trên đất nước này. Đất nước hơi thở nồng mùi diêm sinh, mặt trời mọc đủ hai mươi bốn giờ, người già chưa cạn nước mắt. Con gái biến thành góa phụ từ tuổi vị thành niên. Anh em, bố con…phải bắn giết nhau. Chú làm được gì cho cháu vì chú chỉ là một người lính, kẻ cầm súng…Xóm làng nào cũng là quê hương chú và cũng có thể là tử địa của chú. Chú nằm trong vòng tay quê hương mà thực ra vẫn chẳng có quê hương. Thế hệ này là thế hệ yêu quỷ cháu ạ.“ (Chương 17)

Cái bi thương ấy được nhân lên gấp bội, bởi Nguyên Vũ đã lồng giây phút hấp hối, lời trăng trối, hay tự sự cuối cùng của người lính với mẹ vào khung cảnh tàn khốc nơi chiến trường. Ở đó, ta không chỉ thấy tình yêu, mà còn thấy sự can trường của người lính. Nó đã làm cho nước mắt tôi rơi ngay trên bàn phím, khi ngồi viết những dòng chữ này, và có lẽ nhiều người đọc cũng vậy. Và tiếng khóc ấy, không hẳn vì cái chết của người lính, mà bởi sợi dây liên tưởng đến mẹ, đến kỷ niệm, với những hình ảnh đã xa vời vợi. Vâng, ngòi bút Nguyên Vũ đã chạm đến tận cùng cảm xúc của người đọc:

“Tuấn lờ đờ mở mắt nhìn, chỉ thấy một lớp sương mù. Y tá đâu. Chết rồi. Em cõng Đại úy chạy nghe. Tuấn lắc đầu nặng nhọc... Không nằm im đây. Tao chưa biết chạy là gì. Tôi chưa biết lùi bước là gì… Còn mấy người. Sáu người, Đại úy là bảy. Bị thương nhiều lắm. Tôi sắp hôn mê rồi. Mẹ… Con sắp cướp công mẹ rồi. Nhớ ngày nào mẹ còn gánh con đi tản cư. Nhớ ngày nào con còn nằm dài trên phản để mẹ vừa khóc vừa đánh con bằng ngọn roi thâm tím bờ mông. Con chết được không mẹ…Hình như có một tiếng nổ nào thật gần, Thật lớn. Hình như nhiều mảnh kim khí đục trên xương sọ, trên thân thể tôi. Tất cả tối sầm lại. Tôi không biết gì nữa“. (Chương 18)

 *Việt Nam một bức tranh tối màu - thay cho lời kết.

 Có thể nói, giai đoạn thập niên sáu mươi, Văn học về chiến tranh ở miền Nam phát triển rất mạnh mẽ và đa dạng. Phần đông tác giả văn xuôi như: Trần Hoài Thư, Thảo Trường, Phan Nhật Nam, Lữ Quỳnh, hay Nguyên Vũ… vừa cầm súng, vừa cầm bút. Do vậy, những trang viết của họ còn sặc mùi khói súng. Sự sinh động và chân thực ấy đưa đến nhiều cảm xúc cho người đọc. Mỗi tác giả đều có bút pháp, đặc trưng riêng. Do vậy, khi đọc Mây Trên Đỉnh Núi của Nguyên Vũ làm cho ta chợt liên tưởng đến một bức tranh. Vâng, đó là một bức tranh tối màu cho toàn đất Việt dưới cái nhìn chân thực của nhà văn. Cái chết của những đứa trẻ, hay những nhân vật như Tuấn, Hélène… càng tô đậm cho bức tranh sặc mùi tử khí đó. Và tôi xin mượn trích đoạn trong: Mây Trên Đỉnh Núi, tuy buồn, nhưng có lời văn, hình ảnh ẩn dụ rất đẹp và sâu sắc về nỗi bất hạnh của cả một dân tộc để kết thúc bài viết này:

“Một tràng trung liên vang lên chát chúa cùng với tiếng hét thất thanh của Hélène. Chết tôi rồi. Tiếp theo là tiếng đổ nặng nề của một vật cứng nào đó trên mặt đất. Để rồi là im lặng. Chỉ còn tiếng gió núi từ xa vọng lại, những âm thanh se sắt buồn phiền, hờn tủi. Và chỉ có những vạt sương muối mỗi lúc một đặc quánh lại, quấn quít lấy thân thể người con gái bất hạnh như một tấm khăn liệm khổng lồ.“ (Chương 20)

Leipzig ngày 17-1-2024

Đỗ Trường

 

 

Nguồn:
vuong chieu -luan hoan











VUÔNG CHIẾU- Luân Hoán

THÁNG 2 NĂM 2024

( trang web LUAN HOAN chấm NET)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 258)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 247)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 441)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 384)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 516)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 641)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1041)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1114)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2052)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 641)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11077)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17722)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16775)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 441)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 516)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2052)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2567)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 384)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2440)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2199)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2793)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1041)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1113)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1652)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2430)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 258)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 247)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2275)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3101)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14426)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30498)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36777)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12201)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13535)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3968)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 6003)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5484)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6045)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6691)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9004)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8299)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11237)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.