- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐI TÌM NÀNG THƠ

03 Tháng Giêng 202412:43 SA(Xem: 34756)
trinh Phương Bình
Tranh Phương Bình

 

 

 

Triệu Vũ

ĐI TÌM NÀNG THƠ

 


Mùa dịch Cô-vít hay còn gọi là Cúm Tàu đã qua đi. Thực sự đã đi xa nhưng còn để lại nhiều hệ lụy, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống thường nhật. Những người gọi là cao niên như chúng tôi, thực khó tìm lại, những buổi sáng Thứ Bẩy hẹn hò gặp gỡ; lòng háo hức nôn nao trên đường đến quán cà phê thân quen, nơi góc phố Bellaire ồn ào náo nhiệt. Tưởng rằng không còn cơ duyên hội ngộ tâm tình, nhưng Trời chiều lòng người. Mới vài tháng nay, mỗi sáng Thứ Bẩy,  chúng tôi lại có cơ hội, hẹn gặp nhau tại một quán cà phê khác, dù không ưng ý, để có dịp họp mặt hàn huyên tâm sự, trao đổi những câu chuyện văn chương, hoặc tâm tình thế sự trải khắp nhân gian. Hình như những buổi hội ngộ bây giờ có phần kém vui, vì đã có nhiều đổi thay. Sinh hoạt giờ khác với khi xưa, không say mê phong phú, hấp dẫn lúc gặp gỡ, hàn huyên; cũng không lưu luyến bịn rịn khi chia tay. Tuy vẫn còn khoe nhau những bản nhạc, những bài thơ mới sáng tác, nhưng hình như bầu không khí thiếu vắng niềm đam mê nhiệt tình như những ngày chưa có nạn dịch. Một số đã đi xa, xa lắm, về bên kia thế giới. Một số tuổi đời trĩu nặng đôi vai, di chuyển khó khăn, phải có xe lăn xe đẩy. Lại có một số khác đang thơ thẩn ngẩn ngơ, ngước nhìn bầu trời trên cao, mỉm cười bâng quơ, dạo quanh sân, khu nhà dưỡng lão. Một số khác nữa đang oằn mình chiến đấu với bệnh tật trong nhà thương…Âu cũng là quy luật!

Thành phố Houston đã vào thu, không còn ánh nắng chói chang, thiêu đốt. Bầu trời xanh lơ, có mây trắng, có gió nhẹ. Tạo vật êm ái nhẹ nhàng trở mình. Những hàng cây bên đường, tàn lá tươi xanh, mùa này làm dáng, trang điểm, nhuộm đỏ nhuộm vàng. Nhiều người bảo rằng trời vào thu, cảnh vật nên thơ. Trong kho tàng văn học nghệ thuật, đã có biết bao tác phẩm, trong nhiều lãnh vực, từ văn, thơ đến nhạc, họa, phim ảnh v.v.  ca tụng nét đẹp quyến rũ của mùa thu. Không biết rằng nếu nói mùa thu là mùa của mộng mơ, của nhớ nhung, của lưu luyến, của chia xa, của “nghệ thuật” liệu có quá đáng không? Khung trời mùa thu, những kỷ niệm, gặp gỡ, hẹn hò, tỏ tình v.v., những gì của mùa thu cũng là cảm xúc tuyệt vời, là “yên sĩ phi lý thuần” –inspiration -. Từ biển trời bao la, núi rừng sâu thẳm, đến mênh mông ruộng đồng, hoa cỏ, sông nước v.v. là nguồn cảm hứng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bất hủ lưu danh kim cổ. Ngoài kia, trời vào thu; chiếc lá mùa thu cũng khác, giọt mưa mùa thu cũng khác; rồi nỗi buồn, niềm nhớ khi thu về v.v. tất cả lưu lại trong lòng người, cảm xúc man mác dịu dàng, thanh thoát. Tôi đã được nghe những bản nhạc viết về mùa thu. Tôi đã đọc những áng văn hay, tả cảnh mùa thu. Tôi đã say mê ngân nga những dòng thơ trữ tình lãng mạn, rung động dạt dào mỗi độ thu về. Và có lẽ cảnh đẹp nên thơ của mùa thu quanh đây đã tác động, gợi hứng, làm tâm hồn lâng lâng bay bổng, thôi thúc tôi nên làm, đúng hơn là phải làm một bài thơ; điều mà từ trước đến nay tôi chưa hề nghĩ tới. Nhớ lại, vài ngày trước đây, trong một lần nói chuyện qua điện thoại với vợ chồng anh bạn trong nhóm, chúng tôi có nhắc đến thơ. Tôi thành thực tâm sự, dù quen rất nhiều nhà thơ nhưng buồn thay, tôi không biết làm thơ và từ thuở bé đến giờ chưa làm được câu thơ nào. Vợ anh bạn, vốn là một nhà thơ gợi ý: “Dễ lắm anh. Làm thơ cũng tự nhiên như viết văn vậy!” Có thực không đây? Tôi phân vân, hoang mang và thầm nghĩ: Nếu quả thật làm thơ dễ, tôi, đường đường là đấng nam nhi, mang thân trai, đánh đông dẹp bắc, tung hoành ngang dọc … mà không làm nổi bài thơ sao? Hơn nữa, cảnh vật ngoài kia, quanh tôi, một bức tranh thu tuyệt đẹp, rất nên thơ. Đúng rồi, hình như tôi nghe loáng thoáng đâu đó, một câu nói: mỗi người Việt Nam là một nhà thơ (?) Lòng tự hào nổi dậy, lại thêm niềm hưng phấn, tôi nghĩ thật đơn giản: nhìn thấy gì, cảm nhận gi`, diễn tả lại, là có thơ rồi. Thế là tuy đang trên đường đến quán cà phê, tôi dừng xe trong môt khu siêu thị, vội ghi lại những cảm xúc, phác thảo rất nhanh một bài thơ ngắn.

Tới điểm hẹn, rất tự tin, tôi hiên ngang, hùng dũng giới thiệu bài thơ đầu tiên trong đời, sáng tác khi mới “84 tuổi”, mang tựa đề “Bài thơ chợt đến”. Quanh tôi có hơn chục người, kể cả 5 nhà thơ cỡ khá lớn, là thành viên của nhiều hội đoàn văn nghệ, được nhiều người biết. Tất cả đều vỗ tay sau khi tôi đọc hết bài thơ. Ôi vui chi lạ! Làm xong bài thơ đã vui biết mấy, lại còn được người nghe thơ vỗ tay tán thưởng, niềm vui ấy tăng lên gấp bội. Lúc đó, tôi cứ ngỡ mình “đã” là một nhà thơ từ thuở nào rồi. Nhưng lạ quá! Vỗ tay xong, các nhà thơ nhìn nhau, nhìn nhau mà không nói; thỉnh thoảng kín đáo đưa ánh mắt ngờ vực, hoang mang về phía tôi. Giả vờ như không quan tâm, nhưng lòng tôi không yên; nghi ngờ, băn khoăn tự hỏi phải chăng thơ tôi có điều gì không ổn, phải chăng thơ tôi không tự nhiên, là một cái gì đó ngớ ngẩn, không phải là …thơ! Biết tính sao đây? Thơ đã đọc cho mọi người nghe rồi, làm sao lấy lại được. Tôi hơi bối rối và tự trách không lượng sức mình; đã say mê cảnh đẹp mùa thu đáng yêu, mùa thu quyến rũ ngoài trời, lại còn mang nặng cái tánh tự cao tự đại; cứ tưởng mình là nam nhi thì…làm gì gì kia còn được, chỉ một bài thơ lẽ nào làm khó tôi sao? Nhưng sự thực hôm nay, kết quả không mấy vui. Trên đường về nhà, tôi suy nghĩ mãi và quyết định không phổ biến “Bài thơ chợt đến” này…

Thời gian cứ trôi, suốt 84 năm qua, đường đời tôi đi, vấp ngã thì nhiều, vinh quang chẳng bao nhiêu, hầu như không có; nhưng một bài học quý giá tôi có được là hãy kiên trì, đừng bao giờ bỏ cuộc. Vang vọng từ xa, khi còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, câu nói để đời “Thất bại là mẹ thành công” thực sự là một phương châm trong đời sống. Thế nên dù bài thơ đầu tiên có đi vào quên lãng, tôi không từ bỏ quyết tâm sáng tác thơ và biết đâu, tôi, mai kia, sẽ trở thành một nhà thơ “lớn”. Chưa thành hiện thực, chỉ nghĩ đến viễn ảnh của tương lai, chỉ là một ước mơ thôi, lòng tôi đã dạt dào niềm vui khôn tả! Tuy chưa biết làm thơ nhưng tôi thích nghe ngâm thơ, thích đọc những vần thơ hay và đôi khi cao hứng cũng “can đảm” diễn ngâm một bài thơ mà tôi thích, nhưng chỉ ngâm thơ cho riêng mình. Tôi rất quý mến những nhà thơ. Không biết những thành phố ở các tiểu bang khác ra sao, riêng Houston, có nhiều nhà thơ lắm và tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ, trao đổi tâm tình. Có một nhà thơ trẻ, thực ra đã bảy chục tuổi (tôi vẫn coi là trẻ), tâm sự: người làm thơ cứ nghĩ mình là Thượng đế!? Chỉ có “thơ của tôi” mới là thơ! Ôi lạ quá! Không hiểu đây là thực hay hư, liệu có “lộng ngôn” không? Có một lần, nơi quán cà phê bánh mì nằm ngay góc khu thương mại của người Việt, vùng tây nam thành phố; có người hỏi nhà thơ T.T.Y, nổi tiếng từ cuối thập niên 1950, rằng khi các nhà thơ gặp nhau, chắc hẳn rất vui và rất “thơ”? Ông châm biếm: “Nhà thơ gặp nhau, không bàn chuyện thơ văn, mà …nhau”. Tôi không biết làm thơ, không phải là nhà thơ nên không dám lạm bàn. Theo sự hiểu biết thông thường, hạn hẹp của tôi, ít nhất phải đạt một vài tiêu chuẩn căn bản nào, mới gọi là thơ được chứ! Tôi nghĩ rất đơn giản và thực tế: Thơ không phải là tờ “Khai sanh” hoặc “Hôn thú”, không là một “khế ước”, một “hợp đồng”… Bên A, ...Bên B…phân minh. Những từ, những câu trong văn bản này chỉ có một nghĩa thôi; trong khi người đọc một câu thơ, có thể phong phú hóa, đưa trí tưởng đi xa hơn. Thơ hình như phải nhẹ nhàng bay bổng một chút, thực thực ảo ảo, khác hẳn với tiếng gót giầy chắc nịch nện xuống mặt đường của đoàn quân đang diễn hành; cũng không là tiếng nổ đinh tai nhức óc tiếp nối nhau của 21 phát đại bác chào mừng quốc khách. Nhưng thơ cũng không nên, một cách cố ý dùng từ tối nghĩa, khó đọc, khó hiểu, không có vần điệu; thơ đọc xong, ngẩn ngơ không biết nói chi; hoặc không cảm nhận, không rung động, bùi ngùi xót xa thương cảm v.v. điều mà người ta thường nói: thơ không có hồn! Nhớ lại, lâu lắm rồi, khi còn là một học sinh trung học, cách đây gần bảy chục năm, giáo sư dạy Việt văn của tôi khi giảng về thơ, nhắc nhở rằng :

“Thơ là tiếng kêu tự nhiên của con tim. Nhưng nó chỉ tự nhiên khi nào ta đem lòng đối diện với lòng và đem lòng đối diện với vũ trụ”.

Dạo ấy, là một cậu học trò mặt trắng, chỉ mong sao học hành đàng hoàng, cuối năm lên lớp hoặc thi đậu, đơn giản và thực tế; làm gì có ước vọng trở thành nhà thơ, nên lời Thầy vô tình cầm bằng theo gió đưa đi! Giờ đây, tuy Thầy đã đi xa, về miền miên viễn, nhưng nhận xét của Thầy về thơ có thể là thước đo, thẩm định giá trị một sáng tác thơ.

Còn nữa, từ lâu lắm rồi, tôi có nghe một từ ngữ “Nàng Thơ”, nhưng chưa đọc hoặc nghe kể về “Nàng Thơ”. Không biết những nhà thơ nam hoặc nữ đã gặp hoặc nghe nói Nàng Thơ là ai, được diễn tả lại như thế nào? Tại sao lại gọi là Nàng, không phải là Ông, Bác, Cụ hoặc Chàng Thơ nhỉ? Tôi có quen biết khá nhiều nhà thơ, nổi tiếng và chưa nổi tiếng, nhưng chưa có vị nào giúp tôi hiểu biết Nàng Thơ là ai; hình ảnh, họa phẩm về Nàng Thơ lưu giữ ở bảo tàng nào? Và không biết trên thế giới, có chăng một viện bảo tàng chuyên về thơ?  Tuy nhiên, cứ theo sự hiểu biết nông cạn của tôi : Nàng Thơ chắc là một mỹ nhân, một nữ nhân đẹp, không phải là một lão bà còng lưng chống gậy xin ăn ngoài đường, không phải chị em phụ nữ từ thiếu niên đến trung niên, đội nắng dầm mưa, dọc đường phố, tay cầm những tấm vé số mời chào cầu may; càng không phải là những bà đứng sau các quầy bán thịt, lóc xương hay đập đầu, mổ bụng những con  con gà, con cá …Nàng Thơ bí hiểm thật! Nàng là ai? Tìm nàng nơi đâu? Tôi biết, đối với người bình thường, hình như đây là câu hỏi lạ và khó. Tuy thế, những người bạn già và những nhà thơ trong nhóm Cà Phê Thứ Bẩy của tôi đã trả lời, nhưng chưa đủ ý, chưa đủ nghĩa và dĩ nhiên tôi chưa thỏa mãn. Hình ảnh mơ hồ về Nàng Thơ cứ bám sát theo tôi, đôi lúc còn âm thầm theo tôi vào giấc ngủ. Tôi chợt nhớ đến lời khuyên trong dân gian rằng: “đi hỏi già, về nhà hỏi…vợ”. Thế là, vào một ngày đẹp trời, tôi bình tĩnh, cố gạt tự ái sang bên, rất nhỏ nhẹ dịu dàng nói với người bạn đời: “Em à, Anh muốn… đi tìm Nàng Thơ…” Thật bất ngờ! Vợ tôi đưa bàn tay lên che miệng nàng, đôi mắt mở lớn trừng trừng nhìn tôi, ngạc nhiên và dò xét. Đôi mắt nàng không còn “dìu dịu buồn Tây Phương” của người con gái xứ Đoài (Sơn Tây), như nhà thơ nổi tiếng Quang Dũng ca ngợi. Tình hình căng quá! Tôi bối rối và tự trách mình thực tối dạ. May thay, tôi nói lại ngay: ý của anh là không phải đi tìm… ai, tìm nàng nào, anh chỉ muốn …làm… thơ; thấy có nhiều người làm nên anh cũng thử xem sao. Vợ tôi, đôi mắt nhìn dịu lại, tay không che miệng nữa, ân cần nhẹ nhàng như thường ngày, chăm lo cho chồng con: “Có thiệt không đây? Anh có uống lầm thuốc không đây?” Rồi nàng tiếp: “Anh muốn …làm.. thơ thiệt hả? Em nghĩ làm thơ khó lắm đấy. Nhưng nếu anh muốn, hãy cố gắng lên! Làm xong thơ, đưa em xem thế nào nhá.” Tôi thở phào nhẹ nhõm. Hú hồn! Nhưng qua lời tâm sự với người bạn đời, lòng tôi lại rộn lên niềm vui mới, niềm vui bao la, vô tận, vô bờ bến. Tôi nghĩ biết đâu chừng mai mốt đây, tôi sẽ thực sự trở thành một nhà thơ “lớn”…Thế là kể từ giờ phút này, tôi như hấp thụ được một luồng sinh khí mới; tưởng như có luồng thơ thổi vào từng mạch máu lớn, nhỏ luân lưu khắp toàn thân. Tôi có cảm tưởng cơ thể, suy tư, nhịp đập trái tim, hơi thở của tôi bây giờ, tất cả là “thơ”! …Tôi vẫn biết dù có năng khiếu bẩm sinh, tàng ẩn trong người mà dân gian thường gọi là thiên phú, nếu không được rèn luyện học tập thì con đường thành công cũng xa vời vợi. Câu thơ của nữ sĩ Hồ-Xuân-Hương “Lại đây cho chị dạy làm thơ” nhắc nhở tôi, hãy thận trọng, và hãy học tập, cho nên tôi quyết định sẽ tập làm thơ. Dĩ nhiên với quyết tâm cao, có ý chí và tinh thần cầu tiến, lại được người bạn đời khuyến khích cổ vũ, tôi không tốn nhiều thời gian và đã sáng tác được một bài thơ. Thực khác xa với những “bài văn” đã viết trước đây, phải mất mấy tháng trời mới hoàn tất; không ngờ làm thơ lại thoải mái, không tốn nhiều thời gian như tôi nghĩ. Lòng dâng lên niềm vui, tôi đọc lại nhiều lần bài thơ mới hoàn tất và tưởng tượng ra nụ cười, ánh mắt ngạc nhiên, thán phục của người bạn đời. Không chậm trễ, tôi lấy lại niềm tự tin, bình tĩnh, mạnh dạn đưa nàng đọc bài thơ; quan sát, và chờ đợi những lời thán phục tài làm thơ của tôi. Nhưng không hiểu sao thơ đọc xong, nàng đăm chiêu, ngẩn ngơ nhìn tôi bằng đôi mắt khác thường, và cứ chầm chậm lắc đầu, không một lời bình…Lòng bối rối nhưng tôi linh cảm hình như thơ của tôi có vấn đề. Con đường lên đỉnh vinh quang của thơ văn không lẽ trở thành đại lộ hoàng hôn buồn hay sao? Cả một trời tâm sự ngổn ngang, biết gửi vào đâu? Tất cả nỗi niềm từ đam mê thơ phú đến tập tành sáng tác, tôi muốn đem trải lên trang giấy, trong những câu văn có vần có điệu như sau:

 

                                         TẬP  LÀM  THƠ

                                            --oOo—

 

          -Em yêu ơi, anh muốn …làm…thơ quá!

          Thấy người làm, nên anh cũng thử xem.

          -Khó lắm đấy . Anh hãy cố gắng lên.

          Khi nào xong, đưa thơ cho em “duyệt”.

                                      Thế là anh ngồi ngay vào bàn …, viết

                                           Thật nhanh, chỉ ít phút, đã có thơ.

                                          Anh đắc ý, vội vàng đưa em “duyệt”.

                                          Thơ đọc xong, sao em cứ ngẩn ngơ?

          Giọng âu yếm, hơi cau mày nhăn nhó:

          Thơ của anh kỳ lạ quá anh ơi!

          Em cố gắng nín hơi, đọc cho hết.

          Hình như thơ anh, nó đã “bốc mùi”!

                                      Ôi ! Giấc mộng trở thành “nhà thơ lớn”,

                                          Đã tan tành theo mây khói sao đây?

                                          Không tuyệt vọng, anh sẽ làm thơ mãi.

                                         Đến khi nào em bảo: “Thơ Anh Hay!”

                   

      Dù không được vui khi người bạn đời không ngợi ca, có thể nói là chê bài thơ vừa sáng tác, nhưng tôi biết đây là những nhận xét chân thực. Cũng may, sẽ còn xấu hổ, ngượng ngùng hơn nhiều, nếu dương dương tự đắc, cứ tưởng thơ mình hay, đọc cho bạn bè nghe. Phải thành thực nhận rằng giai đoạn tập tành làm thơ vất vả làm sao! Lòng buồn, biết tỏ cùng ai? Những bước khởi đầu hay là “tập sự” thường có nhiều thiếu sót, khó khăn, vất vả như dân gian thường nói: “Vạn sự khởi đầu nan”. Thế nên, không nản chí, tôi suy nghĩ một cách tích cực, thua keo này, ta bày keo khác và tự nhủ mình phải cố gắng và “cố gắng sẽ thành công” như một câu ngạn ngữ đã nói.

Tôi vẫn biết, những bài thơ hay, được lưu truyền mãi, vượt thời gian, đã để lại trong óc trong tim người đọc, người nghe, những suy tư, những rung động, cảm xúc dạt dào; đôi khi thơ đọc xong thấy xót thương, não nùng, bùi ngùi, rưng rưng ngấn lệ. Phần lớn những vần thơ để đời ấy, nói về tình yêu. Tình yêu có lẽ là đề tài muôn thưở. Tình yêu quê hương đất nước, tình yêu gia đình, tình yêu đôi lứa v.v. luôn là những nguồn cảm hứng bất tận. Đặc biệt tình yêu đôi lứa thực phong phú, bao la. Từ thuở ban đầu, những nhà thơ nghĩ ra nhiều ngôn từ nào là “tiếng sét” nào là “hò hẹn” nào “thề non hẹn biển” rồi “giận hờn” rồi “lỗi hẹn”, “xa cách”, “nhớ nhung”, “dang dở” v.v. Nhìn chung những sáng tác thơ, nội dung chuyên chở chuyện tình buồn, tình dang dở, tuyệt vọng, dễ đi vào lòng người. Tôi nghĩ, cứ theo lối mòn của các nhà thơ đi trước, xây dựng một câu chuyện tình dang dở; yêu nhau tha thiết nhưng phải xa nhau, rồi thương nhớ nhớ thương đến thắt ruột đau lòng, có khi dùng nhiều phương cách để hủy hoại bản thân, mà người đời thường bảo là chết vì yêu. Càng lâm ly bi đát càng hay, dù chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Hư cấu, không phải chuyện thật mà người đọc, người nghe nghĩ là thật, tưởng là thật, cho là thật; như thế thơ đã đạt đến cái hay của thơ rồi.

Đất nước tôi trải qua nhiều biến động, đổi dời. Chiến tranh gây nên bao cảnh đổ nát tang thương, chia lìa. Thế nên, trong kho tàng văn học nghệ thuật, đã xuất hiện những áng thơ văn bất hủ lấy bối cảnh ly tán, chia xa thời chiến loạn. Có cả trăm lý do, hoàn cảnh, khiến những người yêu nhau, không được cùng nhau chung lối; hai trái tim yêu thương không hòa chung nhịp đập, đường tình đôi ngả…. Biết bao ngôn từ hoa mỹ để diễn tả tâm trạng luyến tiếc nhớ nhung, thấm sâu vào lòng người đọc người nghe. Đặc biệt, sau biến cố tang thương đau buồn 30 tháng 4 năm 1975, tưởng rằng quê hương đất nước không còn  vọng lại những tiếng đạn pháo ì ầm; gia đình mừng vui đoàn tụ, không còn chia ly tang tóc; đó đây nơi nơi vang lên tiếng hát câu hò yêu thương. Nào ngờ, thảm cảnh còn đau lòng đứt ruột hơn thời chiến tranh. Những cuộc tình chia ly, không phải ngăn cách đôi bờ sông Gianh hay sông Bến Hải. Giờ đây người đi, kẻ ở, hai phương trời xa thẳm, hai bờ đại dương, xa cách muôn trùng mỏi mòn trông chờ …Hai người yêu nhau,  phải xa nhau, nhớ nhung, mỏi mòn, dường như tuyệt vọng; chỉ còn chút ánh sáng cuối đường hầm là thành khẩn nguyện cầu để hy vọng có một phép nhiệm màu nào đó, giúp những trái tim yêu thương gần nhau …

            Có lẽ do lòng hăng say và quyết tâm cao, lại thêm một chút “tự ái vặt” nên tôi đã hoàn tất một bài thơ, xây dựng trong bối cảnh vì vận mệnh đất nước, câu chuyện tình hai người yêu nhau, phải xa nhau, không kịp gặp gỡ nói lời chia tay nên ngậm ngùi, xót xa, thương nhớ. Đối với tôi, đây là một ngã rẽ bất ngờ và sau khi đọc lại nhiều lần, thấy cũng tạm ổn. Rồi đề tựa của bài thơ: “Em còn đó không”, theo tôi nó cũng rất “thơ”. Tóm lại, tôi đánh giá một cách chủ quan, từ ý tưởng đến ngôn từ, đây là bài thơ sẽ đi vào lòng người:

                                                E M     C Ò N    ĐÓ    K H Ô N G

                                                       ---oOo---

                             Em còn đó không?

                             Bờ Tây Thái Bình.

                             Muôn trùng xa cách!

                             Vẫn hoài đợi mong?

                                                          Em còn đó không?                   

                                                          Anh nay phương trời.

                                                          Ôm đầy nỗi nhớ!

                                                          Xa vời vợi trông.

                            

                             Em còn đó không?

                             Chiều tàn, nắng nhạt.

                             Tím màu áo em.

                             Tím trái tim hồng!

                                                          Em còn đó không?

                                                          Nửa vòng trái đất,

                                                          Một trời thương nhớ,

                                                          Chôn tận đáy lòng!

                             Em còn đó không?

                             Tháng tháng năm năm.

                             Mắt mờ ngấn lệ.

                             Tóc ngả màu bông.

                                                          Em còn đó không?

                                                          Mỏi mòn! Tượng đá !

                                                          Em ơi! thấu hiểu?

                                                          Thắt ruột, đau lòng!

                             Em còn đó không?

                             Đôi bờ nhớ mong.

                             Lệ sầu nhỏ xuống

                             Đại dương mênh mông.

                                                          Em còn đó không?

                                                         Tâm thành khấn nguyện:

                                                          Không còn ngăn cách.

                                                          Giọt lệ tương phùng!

 

Bài thơ làm xong, lòng vui chi lạ! Người ta bảo đó là niềm vui sáng tác. Thực chính xác. Nhớ lại, niềm vui ấy nó nhen nhúm từ khi chợt có ý định làm một bài thơ, rồi từ từ tưởng tượng ra một câu chuyện tình mà phải là chuyện tình dang dở, không trọn vẹn, mới hấp dẫn, mới đi vào lòng người. Tôi lại tin rằng lần này, người bạn đời của tôi không phải cố nín hơi đọc hết bài thơ, như thế là đã thành công và chắc chắn không bị lưỡi kéo kiểm duyệt của nàng làm khó. Niềm vui đang dâng lên, bỗng dưng tôi thấy như có điều gì không ổn. Chợt nghĩ, chẳng may vợ tôi duyệt thơ xong, không thấy bốc mùi mà lại có suy nghĩ khác thì tính sao đây? Rồi không chừng bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu nghi vấn nhạy cảm, làm sao tôi giải thích để nàng hiểu: đây chỉ là hư cấu thôi, không phải thực. Đây là tâm sự chung của những người yêu nhau, vì hoàn cảnh đất nước nên xa nhau, nhớ nhau. Tuyệt đối đây không phải là nỗi niềm riêng của cá nhân ai. Nhưng nghi ngờ là tâm lý thường trực của phái nữ mà. Có ai cấm được nàng nghi ngờ đâu. Nguy hiểm quá! Thà “bốc mùi” còn hơn “bốc hỏa”.Tôi cứ phân vân đắn đo không biết có nên đưa nàng duyệt bài thơ này không. Càng nhiều tuổi càng mong yên bình, xin đừng dậy sóng. Tôi tự nhủ: không nên vì một chút đam mê thơ phú mà xảy ra nghi kỵ, bất hòa. Tôi nhớ lại lời khuyên quý báu của người xưa: Gia đình có yên vui hòa thuận, mới hưng thịnh được, cho nên tôi dè dặt, cân nhắc xem có nên đưa duyệt bài thơ “Em còn đó không” hay là để từ từ, chờ dịp khác. Không vội vàng, nên cẩn thận đề phòng vẫn tốt hơn. Sau cùng, tôi quyết định vì lý do ngoài ý muốn nên bài thơ cần giữ lại để nghiên cứu thêm và sẽ đưa “duyệt” vào một dịp thuận tiện…

 

 Triệu Vũ (Houston, TX)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Mười 20264:13 CH(Xem: 370)
Trên địa cầu hiện có khoảng 8,3 tỷ người. Mỗi người một số phận, một cuộc đời, một câu chuyện đáng kể. Có những người âm thầm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, những người miệt mài chữa bệnh trong bệnh viện, những người lao động ngoài công trường, những người ngày đêm sáng tạo để làm cho đời sống nhân loại tốt đẹp hơn. Nhưng thử hỏi, trong số hàng tỷ con người ấy, có bao nhiêu người được truyền thông quốc tế nhắc đến mỗi ngày? Và có bao nhiêu người, dù ở cách nửa vòng trái đất, vẫn có thể khiến hàng triệu người cùng lúc quay đầu nhìn về phía mình chỉ bằng một câu nói? Donald Trump là một trường hợp đáng quan sát.
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 761)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 801)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 889)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
09 Tháng Mười 20265:27 CH(Xem: 769)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
09 Tháng Mười 20264:59 CH(Xem: 892)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
02 Tháng Mười 20264:23 CH(Xem: 1313)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 1660)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
25 Tháng Chín 20265:37 SA(Xem: 1431)
Sáng thứ Năm 24 tháng 9 vừa qua, một thẩm phán liên bang đã ra lệnh cho chính quyền Trump khôi phục quyền truy cập tòa Bạch Ốc cho ba tổ chức tin tức: CNN, MS NOW và Politico. Quyết định này đưa ra sau khi các phóng viên bị cấm vào tòa nhà này trong nhiều ngày do Tổng thống Donald Trump không hài lòng với các tường thuật mà ông cho là tiêu cực về các việc làm của chính phủ của ông.
24 Tháng Chín 202612:23 SA(Xem: 1857)
Từ những chuyến đi Ấn Độ năm 2010 và 2016, đặc biệt là chuyến đến Varanasi – thành phố bên dòng Ganga linh thiêng – Nguyễn Chí Trung mang về không chỉ những hình ảnh của một miền đất, mà còn những ám ảnh về sự sống, cái chết, niềm tin, tình yêu và thời gian. “Tam Ca Sông Hằng – Ganga Trilogy” được viết tại Đức từ cuối tháng 3 đến tháng 12 năm 2016.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3096)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 12754)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19211)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18223)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 759)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 800)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
24 Tháng Chín 202612:23 SA(Xem: 1856)
Từ những chuyến đi Ấn Độ năm 2010 và 2016, đặc biệt là chuyến đến Varanasi – thành phố bên dòng Ganga linh thiêng – Nguyễn Chí Trung mang về không chỉ những hình ảnh của một miền đất, mà còn những ám ảnh về sự sống, cái chết, niềm tin, tình yêu và thời gian. “Tam Ca Sông Hằng – Ganga Trilogy” được viết tại Đức từ cuối tháng 3 đến tháng 12 năm 2016.
22 Tháng Chín 202610:40 CH(Xem: 2175)
Gã ngược miền ký ức Tìm về tuổi đôi mươi Tim rộn ràng náo nức Gọi đò ơi... ơi... ời..
(Xem: 768)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 892)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1313)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
(Xem: 1476)
Sau hơn hai giờ đồng hồ chăm chú dõi theo từng chi tiết tâm lý, từng hành động võ thuật, từng góc máy, từng bối cảnh rộng và hẹp… của bộ phim “bom tấn” Việt này (bản cắt dựng lại), T cận tôi phải tự thốt lên: Nếu không có Nhà sản xuất BHD, sẽ không thể có nổi bộ phim HLTS, và điện ảnh Việt đến hôm nay có thể tự hào mà nói rằng: Đây chính là một cột mốc đáng kể nhất của hành trình mơ ước & làm phim Lịch sử - Dã sử của nhiều thế hệ Điện ảnh VN suốt một thế kỷ qua!
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 886)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 1659)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 1657)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
22 Tháng Chín 202610:08 CH(Xem: 1993)
Có một dòng sông đã hơn một lần chôn vùi giấc mộng xâm lăng của một đế chế phương Bắc hung hãn. Vâng, bạn biết không, không chỉ một, không chỉ hai, mà đến ba lần. Những đội quân hùng mạnh nhất châu Á. Các chiến binh dũng mãnh của các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên đã từng vùi xác nơi này bởi dòng nước, bởi bùn lầy, và trí tuệ con người. Dòng sông ấy mang tên Bạch Đằng Giang.
11 Tháng Mười 2026(Xem: 370)
Trên địa cầu hiện có khoảng 8,3 tỷ người. Mỗi người một số phận, một cuộc đời, một câu chuyện đáng kể. Có những người âm thầm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, những người miệt mài chữa bệnh trong bệnh viện, những người lao động ngoài công trường, những người ngày đêm sáng tạo để làm cho đời sống nhân loại tốt đẹp hơn. Nhưng thử hỏi, trong số hàng tỷ con người ấy, có bao nhiêu người được truyền thông quốc tế nhắc đến mỗi ngày? Và có bao nhiêu người, dù ở cách nửa vòng trái đất, vẫn có thể khiến hàng triệu người cùng lúc quay đầu nhìn về phía mình chỉ bằng một câu nói? Donald Trump là một trường hợp đáng quan sát.
25 Tháng Chín 2026(Xem: 1431)
Sáng thứ Năm 24 tháng 9 vừa qua, một thẩm phán liên bang đã ra lệnh cho chính quyền Trump khôi phục quyền truy cập tòa Bạch Ốc cho ba tổ chức tin tức: CNN, MS NOW và Politico. Quyết định này đưa ra sau khi các phóng viên bị cấm vào tòa nhà này trong nhiều ngày do Tổng thống Donald Trump không hài lòng với các tường thuật mà ông cho là tiêu cực về các việc làm của chính phủ của ông.
23 Tháng Chín 2026(Xem: 1644)
Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết.
22 Tháng Chín 2026(Xem: 1484)
Tôi là một phụ huynh có hai con gái trong thế hệ Gen Z, hiện đang làm công tác giáo dục (hướng nghiệp & dạy nghề) và là nhà làm phim độc lập chuyên về đề tài giáo dục thế hệ trẻ, theo định hướng phát triển Công nghiệp văn hóa của Đảng và Chính phủ… Cần có “xưng danh” theo lối giáo đầu của Chèo cổ, Tuồng cổ như thế để phòng xa rào chắn những cuộc “ném đá” phũ phàng chắc chắn sẽ diễn ra…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 5900)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15615)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31721)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38563)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 13521)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14697)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6342)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 9852)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 8949)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9061)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10042)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 2645)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 10702)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9924)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi