- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐI TÌM NÀNG THƠ

03 Tháng Giêng 202412:43 SA(Xem: 27609)
trinh Phương Bình
Tranh Phương Bình

 

 

 

Triệu Vũ

ĐI TÌM NÀNG THƠ

 


Mùa dịch Cô-vít hay còn gọi là Cúm Tàu đã qua đi. Thực sự đã đi xa nhưng còn để lại nhiều hệ lụy, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống thường nhật. Những người gọi là cao niên như chúng tôi, thực khó tìm lại, những buổi sáng Thứ Bẩy hẹn hò gặp gỡ; lòng háo hức nôn nao trên đường đến quán cà phê thân quen, nơi góc phố Bellaire ồn ào náo nhiệt. Tưởng rằng không còn cơ duyên hội ngộ tâm tình, nhưng Trời chiều lòng người. Mới vài tháng nay, mỗi sáng Thứ Bẩy,  chúng tôi lại có cơ hội, hẹn gặp nhau tại một quán cà phê khác, dù không ưng ý, để có dịp họp mặt hàn huyên tâm sự, trao đổi những câu chuyện văn chương, hoặc tâm tình thế sự trải khắp nhân gian. Hình như những buổi hội ngộ bây giờ có phần kém vui, vì đã có nhiều đổi thay. Sinh hoạt giờ khác với khi xưa, không say mê phong phú, hấp dẫn lúc gặp gỡ, hàn huyên; cũng không lưu luyến bịn rịn khi chia tay. Tuy vẫn còn khoe nhau những bản nhạc, những bài thơ mới sáng tác, nhưng hình như bầu không khí thiếu vắng niềm đam mê nhiệt tình như những ngày chưa có nạn dịch. Một số đã đi xa, xa lắm, về bên kia thế giới. Một số tuổi đời trĩu nặng đôi vai, di chuyển khó khăn, phải có xe lăn xe đẩy. Lại có một số khác đang thơ thẩn ngẩn ngơ, ngước nhìn bầu trời trên cao, mỉm cười bâng quơ, dạo quanh sân, khu nhà dưỡng lão. Một số khác nữa đang oằn mình chiến đấu với bệnh tật trong nhà thương…Âu cũng là quy luật!

Thành phố Houston đã vào thu, không còn ánh nắng chói chang, thiêu đốt. Bầu trời xanh lơ, có mây trắng, có gió nhẹ. Tạo vật êm ái nhẹ nhàng trở mình. Những hàng cây bên đường, tàn lá tươi xanh, mùa này làm dáng, trang điểm, nhuộm đỏ nhuộm vàng. Nhiều người bảo rằng trời vào thu, cảnh vật nên thơ. Trong kho tàng văn học nghệ thuật, đã có biết bao tác phẩm, trong nhiều lãnh vực, từ văn, thơ đến nhạc, họa, phim ảnh v.v.  ca tụng nét đẹp quyến rũ của mùa thu. Không biết rằng nếu nói mùa thu là mùa của mộng mơ, của nhớ nhung, của lưu luyến, của chia xa, của “nghệ thuật” liệu có quá đáng không? Khung trời mùa thu, những kỷ niệm, gặp gỡ, hẹn hò, tỏ tình v.v., những gì của mùa thu cũng là cảm xúc tuyệt vời, là “yên sĩ phi lý thuần” –inspiration -. Từ biển trời bao la, núi rừng sâu thẳm, đến mênh mông ruộng đồng, hoa cỏ, sông nước v.v. là nguồn cảm hứng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bất hủ lưu danh kim cổ. Ngoài kia, trời vào thu; chiếc lá mùa thu cũng khác, giọt mưa mùa thu cũng khác; rồi nỗi buồn, niềm nhớ khi thu về v.v. tất cả lưu lại trong lòng người, cảm xúc man mác dịu dàng, thanh thoát. Tôi đã được nghe những bản nhạc viết về mùa thu. Tôi đã đọc những áng văn hay, tả cảnh mùa thu. Tôi đã say mê ngân nga những dòng thơ trữ tình lãng mạn, rung động dạt dào mỗi độ thu về. Và có lẽ cảnh đẹp nên thơ của mùa thu quanh đây đã tác động, gợi hứng, làm tâm hồn lâng lâng bay bổng, thôi thúc tôi nên làm, đúng hơn là phải làm một bài thơ; điều mà từ trước đến nay tôi chưa hề nghĩ tới. Nhớ lại, vài ngày trước đây, trong một lần nói chuyện qua điện thoại với vợ chồng anh bạn trong nhóm, chúng tôi có nhắc đến thơ. Tôi thành thực tâm sự, dù quen rất nhiều nhà thơ nhưng buồn thay, tôi không biết làm thơ và từ thuở bé đến giờ chưa làm được câu thơ nào. Vợ anh bạn, vốn là một nhà thơ gợi ý: “Dễ lắm anh. Làm thơ cũng tự nhiên như viết văn vậy!” Có thực không đây? Tôi phân vân, hoang mang và thầm nghĩ: Nếu quả thật làm thơ dễ, tôi, đường đường là đấng nam nhi, mang thân trai, đánh đông dẹp bắc, tung hoành ngang dọc … mà không làm nổi bài thơ sao? Hơn nữa, cảnh vật ngoài kia, quanh tôi, một bức tranh thu tuyệt đẹp, rất nên thơ. Đúng rồi, hình như tôi nghe loáng thoáng đâu đó, một câu nói: mỗi người Việt Nam là một nhà thơ (?) Lòng tự hào nổi dậy, lại thêm niềm hưng phấn, tôi nghĩ thật đơn giản: nhìn thấy gì, cảm nhận gi`, diễn tả lại, là có thơ rồi. Thế là tuy đang trên đường đến quán cà phê, tôi dừng xe trong môt khu siêu thị, vội ghi lại những cảm xúc, phác thảo rất nhanh một bài thơ ngắn.

Tới điểm hẹn, rất tự tin, tôi hiên ngang, hùng dũng giới thiệu bài thơ đầu tiên trong đời, sáng tác khi mới “84 tuổi”, mang tựa đề “Bài thơ chợt đến”. Quanh tôi có hơn chục người, kể cả 5 nhà thơ cỡ khá lớn, là thành viên của nhiều hội đoàn văn nghệ, được nhiều người biết. Tất cả đều vỗ tay sau khi tôi đọc hết bài thơ. Ôi vui chi lạ! Làm xong bài thơ đã vui biết mấy, lại còn được người nghe thơ vỗ tay tán thưởng, niềm vui ấy tăng lên gấp bội. Lúc đó, tôi cứ ngỡ mình “đã” là một nhà thơ từ thuở nào rồi. Nhưng lạ quá! Vỗ tay xong, các nhà thơ nhìn nhau, nhìn nhau mà không nói; thỉnh thoảng kín đáo đưa ánh mắt ngờ vực, hoang mang về phía tôi. Giả vờ như không quan tâm, nhưng lòng tôi không yên; nghi ngờ, băn khoăn tự hỏi phải chăng thơ tôi có điều gì không ổn, phải chăng thơ tôi không tự nhiên, là một cái gì đó ngớ ngẩn, không phải là …thơ! Biết tính sao đây? Thơ đã đọc cho mọi người nghe rồi, làm sao lấy lại được. Tôi hơi bối rối và tự trách không lượng sức mình; đã say mê cảnh đẹp mùa thu đáng yêu, mùa thu quyến rũ ngoài trời, lại còn mang nặng cái tánh tự cao tự đại; cứ tưởng mình là nam nhi thì…làm gì gì kia còn được, chỉ một bài thơ lẽ nào làm khó tôi sao? Nhưng sự thực hôm nay, kết quả không mấy vui. Trên đường về nhà, tôi suy nghĩ mãi và quyết định không phổ biến “Bài thơ chợt đến” này…

Thời gian cứ trôi, suốt 84 năm qua, đường đời tôi đi, vấp ngã thì nhiều, vinh quang chẳng bao nhiêu, hầu như không có; nhưng một bài học quý giá tôi có được là hãy kiên trì, đừng bao giờ bỏ cuộc. Vang vọng từ xa, khi còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, câu nói để đời “Thất bại là mẹ thành công” thực sự là một phương châm trong đời sống. Thế nên dù bài thơ đầu tiên có đi vào quên lãng, tôi không từ bỏ quyết tâm sáng tác thơ và biết đâu, tôi, mai kia, sẽ trở thành một nhà thơ “lớn”. Chưa thành hiện thực, chỉ nghĩ đến viễn ảnh của tương lai, chỉ là một ước mơ thôi, lòng tôi đã dạt dào niềm vui khôn tả! Tuy chưa biết làm thơ nhưng tôi thích nghe ngâm thơ, thích đọc những vần thơ hay và đôi khi cao hứng cũng “can đảm” diễn ngâm một bài thơ mà tôi thích, nhưng chỉ ngâm thơ cho riêng mình. Tôi rất quý mến những nhà thơ. Không biết những thành phố ở các tiểu bang khác ra sao, riêng Houston, có nhiều nhà thơ lắm và tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ, trao đổi tâm tình. Có một nhà thơ trẻ, thực ra đã bảy chục tuổi (tôi vẫn coi là trẻ), tâm sự: người làm thơ cứ nghĩ mình là Thượng đế!? Chỉ có “thơ của tôi” mới là thơ! Ôi lạ quá! Không hiểu đây là thực hay hư, liệu có “lộng ngôn” không? Có một lần, nơi quán cà phê bánh mì nằm ngay góc khu thương mại của người Việt, vùng tây nam thành phố; có người hỏi nhà thơ T.T.Y, nổi tiếng từ cuối thập niên 1950, rằng khi các nhà thơ gặp nhau, chắc hẳn rất vui và rất “thơ”? Ông châm biếm: “Nhà thơ gặp nhau, không bàn chuyện thơ văn, mà …nhau”. Tôi không biết làm thơ, không phải là nhà thơ nên không dám lạm bàn. Theo sự hiểu biết thông thường, hạn hẹp của tôi, ít nhất phải đạt một vài tiêu chuẩn căn bản nào, mới gọi là thơ được chứ! Tôi nghĩ rất đơn giản và thực tế: Thơ không phải là tờ “Khai sanh” hoặc “Hôn thú”, không là một “khế ước”, một “hợp đồng”… Bên A, ...Bên B…phân minh. Những từ, những câu trong văn bản này chỉ có một nghĩa thôi; trong khi người đọc một câu thơ, có thể phong phú hóa, đưa trí tưởng đi xa hơn. Thơ hình như phải nhẹ nhàng bay bổng một chút, thực thực ảo ảo, khác hẳn với tiếng gót giầy chắc nịch nện xuống mặt đường của đoàn quân đang diễn hành; cũng không là tiếng nổ đinh tai nhức óc tiếp nối nhau của 21 phát đại bác chào mừng quốc khách. Nhưng thơ cũng không nên, một cách cố ý dùng từ tối nghĩa, khó đọc, khó hiểu, không có vần điệu; thơ đọc xong, ngẩn ngơ không biết nói chi; hoặc không cảm nhận, không rung động, bùi ngùi xót xa thương cảm v.v. điều mà người ta thường nói: thơ không có hồn! Nhớ lại, lâu lắm rồi, khi còn là một học sinh trung học, cách đây gần bảy chục năm, giáo sư dạy Việt văn của tôi khi giảng về thơ, nhắc nhở rằng :

“Thơ là tiếng kêu tự nhiên của con tim. Nhưng nó chỉ tự nhiên khi nào ta đem lòng đối diện với lòng và đem lòng đối diện với vũ trụ”.

Dạo ấy, là một cậu học trò mặt trắng, chỉ mong sao học hành đàng hoàng, cuối năm lên lớp hoặc thi đậu, đơn giản và thực tế; làm gì có ước vọng trở thành nhà thơ, nên lời Thầy vô tình cầm bằng theo gió đưa đi! Giờ đây, tuy Thầy đã đi xa, về miền miên viễn, nhưng nhận xét của Thầy về thơ có thể là thước đo, thẩm định giá trị một sáng tác thơ.

Còn nữa, từ lâu lắm rồi, tôi có nghe một từ ngữ “Nàng Thơ”, nhưng chưa đọc hoặc nghe kể về “Nàng Thơ”. Không biết những nhà thơ nam hoặc nữ đã gặp hoặc nghe nói Nàng Thơ là ai, được diễn tả lại như thế nào? Tại sao lại gọi là Nàng, không phải là Ông, Bác, Cụ hoặc Chàng Thơ nhỉ? Tôi có quen biết khá nhiều nhà thơ, nổi tiếng và chưa nổi tiếng, nhưng chưa có vị nào giúp tôi hiểu biết Nàng Thơ là ai; hình ảnh, họa phẩm về Nàng Thơ lưu giữ ở bảo tàng nào? Và không biết trên thế giới, có chăng một viện bảo tàng chuyên về thơ?  Tuy nhiên, cứ theo sự hiểu biết nông cạn của tôi : Nàng Thơ chắc là một mỹ nhân, một nữ nhân đẹp, không phải là một lão bà còng lưng chống gậy xin ăn ngoài đường, không phải chị em phụ nữ từ thiếu niên đến trung niên, đội nắng dầm mưa, dọc đường phố, tay cầm những tấm vé số mời chào cầu may; càng không phải là những bà đứng sau các quầy bán thịt, lóc xương hay đập đầu, mổ bụng những con  con gà, con cá …Nàng Thơ bí hiểm thật! Nàng là ai? Tìm nàng nơi đâu? Tôi biết, đối với người bình thường, hình như đây là câu hỏi lạ và khó. Tuy thế, những người bạn già và những nhà thơ trong nhóm Cà Phê Thứ Bẩy của tôi đã trả lời, nhưng chưa đủ ý, chưa đủ nghĩa và dĩ nhiên tôi chưa thỏa mãn. Hình ảnh mơ hồ về Nàng Thơ cứ bám sát theo tôi, đôi lúc còn âm thầm theo tôi vào giấc ngủ. Tôi chợt nhớ đến lời khuyên trong dân gian rằng: “đi hỏi già, về nhà hỏi…vợ”. Thế là, vào một ngày đẹp trời, tôi bình tĩnh, cố gạt tự ái sang bên, rất nhỏ nhẹ dịu dàng nói với người bạn đời: “Em à, Anh muốn… đi tìm Nàng Thơ…” Thật bất ngờ! Vợ tôi đưa bàn tay lên che miệng nàng, đôi mắt mở lớn trừng trừng nhìn tôi, ngạc nhiên và dò xét. Đôi mắt nàng không còn “dìu dịu buồn Tây Phương” của người con gái xứ Đoài (Sơn Tây), như nhà thơ nổi tiếng Quang Dũng ca ngợi. Tình hình căng quá! Tôi bối rối và tự trách mình thực tối dạ. May thay, tôi nói lại ngay: ý của anh là không phải đi tìm… ai, tìm nàng nào, anh chỉ muốn …làm… thơ; thấy có nhiều người làm nên anh cũng thử xem sao. Vợ tôi, đôi mắt nhìn dịu lại, tay không che miệng nữa, ân cần nhẹ nhàng như thường ngày, chăm lo cho chồng con: “Có thiệt không đây? Anh có uống lầm thuốc không đây?” Rồi nàng tiếp: “Anh muốn …làm.. thơ thiệt hả? Em nghĩ làm thơ khó lắm đấy. Nhưng nếu anh muốn, hãy cố gắng lên! Làm xong thơ, đưa em xem thế nào nhá.” Tôi thở phào nhẹ nhõm. Hú hồn! Nhưng qua lời tâm sự với người bạn đời, lòng tôi lại rộn lên niềm vui mới, niềm vui bao la, vô tận, vô bờ bến. Tôi nghĩ biết đâu chừng mai mốt đây, tôi sẽ thực sự trở thành một nhà thơ “lớn”…Thế là kể từ giờ phút này, tôi như hấp thụ được một luồng sinh khí mới; tưởng như có luồng thơ thổi vào từng mạch máu lớn, nhỏ luân lưu khắp toàn thân. Tôi có cảm tưởng cơ thể, suy tư, nhịp đập trái tim, hơi thở của tôi bây giờ, tất cả là “thơ”! …Tôi vẫn biết dù có năng khiếu bẩm sinh, tàng ẩn trong người mà dân gian thường gọi là thiên phú, nếu không được rèn luyện học tập thì con đường thành công cũng xa vời vợi. Câu thơ của nữ sĩ Hồ-Xuân-Hương “Lại đây cho chị dạy làm thơ” nhắc nhở tôi, hãy thận trọng, và hãy học tập, cho nên tôi quyết định sẽ tập làm thơ. Dĩ nhiên với quyết tâm cao, có ý chí và tinh thần cầu tiến, lại được người bạn đời khuyến khích cổ vũ, tôi không tốn nhiều thời gian và đã sáng tác được một bài thơ. Thực khác xa với những “bài văn” đã viết trước đây, phải mất mấy tháng trời mới hoàn tất; không ngờ làm thơ lại thoải mái, không tốn nhiều thời gian như tôi nghĩ. Lòng dâng lên niềm vui, tôi đọc lại nhiều lần bài thơ mới hoàn tất và tưởng tượng ra nụ cười, ánh mắt ngạc nhiên, thán phục của người bạn đời. Không chậm trễ, tôi lấy lại niềm tự tin, bình tĩnh, mạnh dạn đưa nàng đọc bài thơ; quan sát, và chờ đợi những lời thán phục tài làm thơ của tôi. Nhưng không hiểu sao thơ đọc xong, nàng đăm chiêu, ngẩn ngơ nhìn tôi bằng đôi mắt khác thường, và cứ chầm chậm lắc đầu, không một lời bình…Lòng bối rối nhưng tôi linh cảm hình như thơ của tôi có vấn đề. Con đường lên đỉnh vinh quang của thơ văn không lẽ trở thành đại lộ hoàng hôn buồn hay sao? Cả một trời tâm sự ngổn ngang, biết gửi vào đâu? Tất cả nỗi niềm từ đam mê thơ phú đến tập tành sáng tác, tôi muốn đem trải lên trang giấy, trong những câu văn có vần có điệu như sau:

 

                                         TẬP  LÀM  THƠ

                                            --oOo—

 

          -Em yêu ơi, anh muốn …làm…thơ quá!

          Thấy người làm, nên anh cũng thử xem.

          -Khó lắm đấy . Anh hãy cố gắng lên.

          Khi nào xong, đưa thơ cho em “duyệt”.

                                      Thế là anh ngồi ngay vào bàn …, viết

                                           Thật nhanh, chỉ ít phút, đã có thơ.

                                          Anh đắc ý, vội vàng đưa em “duyệt”.

                                          Thơ đọc xong, sao em cứ ngẩn ngơ?

          Giọng âu yếm, hơi cau mày nhăn nhó:

          Thơ của anh kỳ lạ quá anh ơi!

          Em cố gắng nín hơi, đọc cho hết.

          Hình như thơ anh, nó đã “bốc mùi”!

                                      Ôi ! Giấc mộng trở thành “nhà thơ lớn”,

                                          Đã tan tành theo mây khói sao đây?

                                          Không tuyệt vọng, anh sẽ làm thơ mãi.

                                         Đến khi nào em bảo: “Thơ Anh Hay!”

                   

      Dù không được vui khi người bạn đời không ngợi ca, có thể nói là chê bài thơ vừa sáng tác, nhưng tôi biết đây là những nhận xét chân thực. Cũng may, sẽ còn xấu hổ, ngượng ngùng hơn nhiều, nếu dương dương tự đắc, cứ tưởng thơ mình hay, đọc cho bạn bè nghe. Phải thành thực nhận rằng giai đoạn tập tành làm thơ vất vả làm sao! Lòng buồn, biết tỏ cùng ai? Những bước khởi đầu hay là “tập sự” thường có nhiều thiếu sót, khó khăn, vất vả như dân gian thường nói: “Vạn sự khởi đầu nan”. Thế nên, không nản chí, tôi suy nghĩ một cách tích cực, thua keo này, ta bày keo khác và tự nhủ mình phải cố gắng và “cố gắng sẽ thành công” như một câu ngạn ngữ đã nói.

Tôi vẫn biết, những bài thơ hay, được lưu truyền mãi, vượt thời gian, đã để lại trong óc trong tim người đọc, người nghe, những suy tư, những rung động, cảm xúc dạt dào; đôi khi thơ đọc xong thấy xót thương, não nùng, bùi ngùi, rưng rưng ngấn lệ. Phần lớn những vần thơ để đời ấy, nói về tình yêu. Tình yêu có lẽ là đề tài muôn thưở. Tình yêu quê hương đất nước, tình yêu gia đình, tình yêu đôi lứa v.v. luôn là những nguồn cảm hứng bất tận. Đặc biệt tình yêu đôi lứa thực phong phú, bao la. Từ thuở ban đầu, những nhà thơ nghĩ ra nhiều ngôn từ nào là “tiếng sét” nào là “hò hẹn” nào “thề non hẹn biển” rồi “giận hờn” rồi “lỗi hẹn”, “xa cách”, “nhớ nhung”, “dang dở” v.v. Nhìn chung những sáng tác thơ, nội dung chuyên chở chuyện tình buồn, tình dang dở, tuyệt vọng, dễ đi vào lòng người. Tôi nghĩ, cứ theo lối mòn của các nhà thơ đi trước, xây dựng một câu chuyện tình dang dở; yêu nhau tha thiết nhưng phải xa nhau, rồi thương nhớ nhớ thương đến thắt ruột đau lòng, có khi dùng nhiều phương cách để hủy hoại bản thân, mà người đời thường bảo là chết vì yêu. Càng lâm ly bi đát càng hay, dù chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Hư cấu, không phải chuyện thật mà người đọc, người nghe nghĩ là thật, tưởng là thật, cho là thật; như thế thơ đã đạt đến cái hay của thơ rồi.

Đất nước tôi trải qua nhiều biến động, đổi dời. Chiến tranh gây nên bao cảnh đổ nát tang thương, chia lìa. Thế nên, trong kho tàng văn học nghệ thuật, đã xuất hiện những áng thơ văn bất hủ lấy bối cảnh ly tán, chia xa thời chiến loạn. Có cả trăm lý do, hoàn cảnh, khiến những người yêu nhau, không được cùng nhau chung lối; hai trái tim yêu thương không hòa chung nhịp đập, đường tình đôi ngả…. Biết bao ngôn từ hoa mỹ để diễn tả tâm trạng luyến tiếc nhớ nhung, thấm sâu vào lòng người đọc người nghe. Đặc biệt, sau biến cố tang thương đau buồn 30 tháng 4 năm 1975, tưởng rằng quê hương đất nước không còn  vọng lại những tiếng đạn pháo ì ầm; gia đình mừng vui đoàn tụ, không còn chia ly tang tóc; đó đây nơi nơi vang lên tiếng hát câu hò yêu thương. Nào ngờ, thảm cảnh còn đau lòng đứt ruột hơn thời chiến tranh. Những cuộc tình chia ly, không phải ngăn cách đôi bờ sông Gianh hay sông Bến Hải. Giờ đây người đi, kẻ ở, hai phương trời xa thẳm, hai bờ đại dương, xa cách muôn trùng mỏi mòn trông chờ …Hai người yêu nhau,  phải xa nhau, nhớ nhung, mỏi mòn, dường như tuyệt vọng; chỉ còn chút ánh sáng cuối đường hầm là thành khẩn nguyện cầu để hy vọng có một phép nhiệm màu nào đó, giúp những trái tim yêu thương gần nhau …

            Có lẽ do lòng hăng say và quyết tâm cao, lại thêm một chút “tự ái vặt” nên tôi đã hoàn tất một bài thơ, xây dựng trong bối cảnh vì vận mệnh đất nước, câu chuyện tình hai người yêu nhau, phải xa nhau, không kịp gặp gỡ nói lời chia tay nên ngậm ngùi, xót xa, thương nhớ. Đối với tôi, đây là một ngã rẽ bất ngờ và sau khi đọc lại nhiều lần, thấy cũng tạm ổn. Rồi đề tựa của bài thơ: “Em còn đó không”, theo tôi nó cũng rất “thơ”. Tóm lại, tôi đánh giá một cách chủ quan, từ ý tưởng đến ngôn từ, đây là bài thơ sẽ đi vào lòng người:

                                                E M     C Ò N    ĐÓ    K H Ô N G

                                                       ---oOo---

                             Em còn đó không?

                             Bờ Tây Thái Bình.

                             Muôn trùng xa cách!

                             Vẫn hoài đợi mong?

                                                          Em còn đó không?                   

                                                          Anh nay phương trời.

                                                          Ôm đầy nỗi nhớ!

                                                          Xa vời vợi trông.

                            

                             Em còn đó không?

                             Chiều tàn, nắng nhạt.

                             Tím màu áo em.

                             Tím trái tim hồng!

                                                          Em còn đó không?

                                                          Nửa vòng trái đất,

                                                          Một trời thương nhớ,

                                                          Chôn tận đáy lòng!

                             Em còn đó không?

                             Tháng tháng năm năm.

                             Mắt mờ ngấn lệ.

                             Tóc ngả màu bông.

                                                          Em còn đó không?

                                                          Mỏi mòn! Tượng đá !

                                                          Em ơi! thấu hiểu?

                                                          Thắt ruột, đau lòng!

                             Em còn đó không?

                             Đôi bờ nhớ mong.

                             Lệ sầu nhỏ xuống

                             Đại dương mênh mông.

                                                          Em còn đó không?

                                                         Tâm thành khấn nguyện:

                                                          Không còn ngăn cách.

                                                          Giọt lệ tương phùng!

 

Bài thơ làm xong, lòng vui chi lạ! Người ta bảo đó là niềm vui sáng tác. Thực chính xác. Nhớ lại, niềm vui ấy nó nhen nhúm từ khi chợt có ý định làm một bài thơ, rồi từ từ tưởng tượng ra một câu chuyện tình mà phải là chuyện tình dang dở, không trọn vẹn, mới hấp dẫn, mới đi vào lòng người. Tôi lại tin rằng lần này, người bạn đời của tôi không phải cố nín hơi đọc hết bài thơ, như thế là đã thành công và chắc chắn không bị lưỡi kéo kiểm duyệt của nàng làm khó. Niềm vui đang dâng lên, bỗng dưng tôi thấy như có điều gì không ổn. Chợt nghĩ, chẳng may vợ tôi duyệt thơ xong, không thấy bốc mùi mà lại có suy nghĩ khác thì tính sao đây? Rồi không chừng bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu nghi vấn nhạy cảm, làm sao tôi giải thích để nàng hiểu: đây chỉ là hư cấu thôi, không phải thực. Đây là tâm sự chung của những người yêu nhau, vì hoàn cảnh đất nước nên xa nhau, nhớ nhau. Tuyệt đối đây không phải là nỗi niềm riêng của cá nhân ai. Nhưng nghi ngờ là tâm lý thường trực của phái nữ mà. Có ai cấm được nàng nghi ngờ đâu. Nguy hiểm quá! Thà “bốc mùi” còn hơn “bốc hỏa”.Tôi cứ phân vân đắn đo không biết có nên đưa nàng duyệt bài thơ này không. Càng nhiều tuổi càng mong yên bình, xin đừng dậy sóng. Tôi tự nhủ: không nên vì một chút đam mê thơ phú mà xảy ra nghi kỵ, bất hòa. Tôi nhớ lại lời khuyên quý báu của người xưa: Gia đình có yên vui hòa thuận, mới hưng thịnh được, cho nên tôi dè dặt, cân nhắc xem có nên đưa duyệt bài thơ “Em còn đó không” hay là để từ từ, chờ dịp khác. Không vội vàng, nên cẩn thận đề phòng vẫn tốt hơn. Sau cùng, tôi quyết định vì lý do ngoài ý muốn nên bài thơ cần giữ lại để nghiên cứu thêm và sẽ đưa “duyệt” vào một dịp thuận tiện…

 

 Triệu Vũ (Houston, TX)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 261)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 258)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 298)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 310)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 534)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 538)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 296)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 530)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 596)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 412)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 6990)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13935)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12801)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13360)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 261)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 258)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 296)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 534)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 296)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 596)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2662)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2805)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 519)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 626)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3460)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3862)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 309)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 411)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 559)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2824)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9604)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26059)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32402)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32725)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7358)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9764)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2414)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2442)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2499)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2845)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5033)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4343)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3972)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5083)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.