- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

LỜI NGUYỆN CẦU

10 Tháng Chín 20238:59 CH(Xem: 32474)


tác giả và thap rùa hồ gươm-
Tác giả và hồ Gươm

Triệu Vũ   
LỜI NGUYỆN CẦU 

Sau gần một năm, chính xác là 11 tháng và 15 ngày, chữa trị ung thư mắt tại một bệnh viện nổi tiếng ở Houston, Texas, nay tôi đã về nhà yên bình và niềm vui trong lòng dâng cao mãi. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi nhận ra mình thực sự sống sót, thoát chết, trở về trong “chiến thắng vinh quang”, sau cuộc chiến chống lại căn bệnh quái ác. Căn bệnh ấy quái ác thật, nguy hiểm thật, chỉ nghe tên cũng rùng mình run sợ. Điều trị khỏi bệnh ung thư đối với riêng tôi, là một dấu ấn hằn sâu trong tâm não. Đã có biết bao người bỏ cuộc giữa đường. Tôi thì không! Một chiến sĩ trên đường ra mặt trận, được trang bị tinh thần quyết chiến, quyết thắng, lẽ nào tôi không có chiến công mang về. Trung tâm ung thư nằm ở tầng lầu 14 của bệnh viện, đã gợi ý tôi, tưởng tượng rằng mình đã xuống tới tầng địa ngục thứ 14, và không ngại ngùng, ghi lại những cảm xúc chân thực và niềm vui sướng tuyệt vời trong bài hồi ức “Trở về từ tầng…14”. Có nhiều người bảo rằng đi chữa bệnh mà kể lại như đi hành quân. Đúng thế! Không sai! Chống lại bệnh tật cũng là một cuộc chiến quyết liệt và đầy cam go. Mang căn cước cựu quân nhân trước khi đến định cư tại Liên-Bang Hoa-Kỳ, có lẽ vì thế, lối hành văn phần nào vương mùi “thuốc súng” … Nhắc đến mùi “thuốc súng”, không có văn từ nào diễn tả mùi ấy ra sao. Nhưng theo lời tâm sự rất tự nhiên và chân thật của các chiến binh lúc lâm trận, khi ngửi thấy mùi thuốc súng, như có một mãnh lực nào đó tác động, thúc giục và chỉ có suy nghĩ duy nhất là tiến lên, xung phong! Thực tế, ngoài chiến trường, hay lúc hành quân; chế ngự, truy lùng và diệt gọn địch, còn gì vui sướng bằng! Tuy vui mừng nhưng có lúc thương tích cũng đầy mình. Phía sau những giọt mồ hôi, những giọt máu đào, đôi khi phía sau những xác đồng đội gục ngã là lễ tuyên dương công trạng, tưởng thưởng bằng những vòng hoa choàng lên cổ, bằng những tấm huy chương đỏ ngực. Có chiến công nào mà không có chút đắng cay; tấm huy chương nào mà không có mặt trái!... Nhớ lại những lúc thân mình quằn quại, rên rỉ khi chùm tia bức xạ từ quái vật “tuốc bin”, xuyên qua mặt nạ, phóng vào mặt, vào đầu (với tên gọi êm ái là xạ trị), ròng rã mấy tháng trời để truy tìm và tiêu diệt những tế bào ung thư. Nhớ lại những chén cháo đắng “chemo”, đưa vào cơ thể, không đi qua hệ tiêu hóa bình thường, từ miệng qua thực quản xuống dạ dày, mà đi qua cái port (hiểu theo nghĩa thông thường là cửa khẩu hay bến cảng). Cái port ấy, đã hơn một năm kể từ ngày xuất viện, bác sĩ chưa giải phẫu lấy ra nên hôm nay, nó vẫn còn ngang nhiên nằm dưới lớp da, trên ngực bên phải. Nó đôi lúc làm tôi liên tưởng đến một kỷ niệm đời quân ngũ, đó là ngày được trao tặng một huy chương ngoại quốc vào năm 1971. Trong buổi chào cờ sáng thứ hai đầu tuần, trước sự chứng kiến của Tư Lệnh, các Sĩ quan Tham Mưu và các đơn vị trưởng, ông Cố-Vấn-Trưởng của đại đơn vị đã gắn huy chương dành cho cá nhân, trên ngực áo bên phải của tôi (huy chương trong nước gắn bên trái) … Hơn nửa thế kỷ qua đi, huy chương đã là kỷ niệm, chỉ còn nằm trong hồ sơ lưu trữ; và trên ngực, giờ là cái … port vô cảm. Cháo đắng “chemo” truyền qua port, đã theo dòng máu luân lưu toàn thân, (với tên gọi dễ thương là hóa trị), làm cơ thể gục ngã biết bao lần. Rồi một ngày sắp tới đây, cái port cũng được giải phẫu lấy ra. Tất cả sẽ trôi về quá khứ, chỉ còn là ký ức. Đôi khi tôi nghĩ lẩn thẩn rằng, chữa trị khỏi căn bệnh nan y quái ác, là kết thúc cuộc chiến cam go gian khổ, trở về trong chiến thắng vinh quang, và coi như được tưởng thưởng huy chương đặc biệt. Đó là một “bông hồng”, từ Trời Phật ưu ái ban cho, với hàm ý: đừng than trách hoa hồng có gai mà hãy mừng vì trên gai có hoa hồng. Rồi xum họp gia đình đong đầy nồng ấm, yêu thương; rồi lời Tạ Ơn thành khẩn, phát xuất tự đáy lòng theo gió đưa xa… Đặc biệt, tôi có ý định thực hiện một chuyến về quê hương để thắp nén nhang, dâng lời thành kính tạ ơn tổ tiên, nhờ phước đức cao dầy, đưa tôi trở về dương thế. Câu cách ngôn “uống nước nhớ nguồn”, tôi được dạy dỗ từ nhỏ, vẫn còn ghi nhớ trong óc, trong tim. Thế rồi, trời chiều lòng người, sau vài lần tái khám và tham khảo ý kiến bác sĩ, gia đình đã lo cho tôi một vé máy bay về Việt-Nam. Nhưng vì đang trong mùa dịch cúm cô vit, còn gọi là cúm Tàu, nên ba tháng sau mới có chuyến bay. Thật trùng hợp, hơn ba tháng nữa, là ngày giỗ ông nội, cũng là ngày làm lễ khánh thành việc trùng tu ngôi nhà thờ của riêng chi họ Vũ chúng tôi. Đã lo xong vé máy bay và biết rằng sẽ về đến quê hương trước ngày giỗ, lòng tôi rộn rã mừng vui, nôn nao mong chờ ngày khởi hành.

Trong thời gian chờ ngày lên đường, tôi thường lái xe rong ruổi đó đây, thăm gia đình các em, các con cháu và nghĩ về những gương mặt thân quen, bạn bè thường gặp gỡ, còn đâu đó chăng? Dòng suy tư đưa tôi tìm lại những tháng ngày yên bình, những khoảnh khắc thân tình hội ngộ, cùng bằng hữu văn nhân. Dường như vẫn còn thoang thoảng đâu đây, hương vị cà phê Pháp, nơi góc phố nhộn nhịp, xen lẫn tiếng ồn ào của dòng xe xuôi ngược trên đại lộ Bellaire, thành phố Houston bang Texas, vào sáng Thứ Bẩy hàng tuần…

Cái quán cà phê ấy không biết có mặt tại thành phố Houston này tự bao giờ. Định cư nơi đây ngoài ba mươi năm, nhưng tôi mới đặt chân đến, hơn chục năm nay. Có hàng trăm quán cà phê, người Việt làm chủ với nhiều bảng hiệu; từ tên gọi gợi nhớ quê hương đến tên gọi lạ tai, hấp dẫn, nhạy cảm! Nhưng khác hẳn, quán cà phê chúng tôi hẹn gặp nhau vào mỗi sáng thứ bẩy, có tên gọi dễ thương hơn, lịch lãm hơn. Ngoài bảng hiệu mang âm hưởng và gợi nhớ thủ đô nước Pháp; cái logo với hình tháp Eiffel, biểu tượng đặc trưng của kinh thành ánh sáng Paris, đã lay động tiềm thức, “gõ nhẹ” cánh cửa ký ức của những người cao tuổi như chúng tôi, hiện ra cả một khung trời niên thiếu mộng mơ xa xưa, thưở còn cắp sách đến trường. Và như duyên Trời đã định, danh xưng “Nhóm Cà Phê Thứ Bẩy” ra đời từ đấy, tính ra đã gần mười năm.

 tv 1

      

 

Nhớ lại thưở xưa, đã xa lắm rồi, cách nay trên sáu, bảy chục năm, giáo dục ở miền Nam Việt-Nam còn chịu ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Pháp. Được đi du học bên Pháp là một ước mơ của sinh viên, học sinh. Đối với lứa tuổi chúng tôi, lúc đó, hệ thống giáo dục Mỹ còn xa lạ lắm. Thật xấu hổ, hồi đó tôi nghĩ rằng cứ được đặt chân lên kinh thành ánh sáng Paris, thủ đô của nước Pháp cũng hãnh diện lắm rồi! Thời gian cứ trôi, ước mơ vẫn chỉ là mơ ước…Nhiều khi chúng tôi tự an ủi một cách miễn cưỡng, gượng ép, khôi hài và ngây ngô: không du học bên Pháp, không đặt chân đến Paris, nhưng ngồi tại quán mang bảng hiệu Pháp lại ăn bánh mì pháp và uống cà phê pháp, thế cũng…vui rồi!  Nói vậy thôi, riêng cá nhân tôi, thực bất ngờ, do Trời chiều lòng người, vào năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi (1999), niềm ước mơ của tôi trở thành hiện thực. Năm ấy, nhân dịp chú em ruột tôi, một sử gia, sang Pháp hai tháng để nghiên cứu và truy cập tài liệu văn khố mới giải mật. Dịp may hiếm có. Tôi xin nghỉ phép ba tuần, đáp cùng chuyến bay, du ngoạn trời Âu. Trong khi chú em tập trung lo công việc, hết trung tâm văn khố này đến thư viện khác; tôi may mắn được anh luật sư Trần-Thanh-Hiệp, đưa đi thăm nhiều thắng cảnh ở kinh thành ánh sáng Paris. Anh Hiệp còn đưa tôi sang thăm Geneve, thủ đô nước Thụy-Sĩ, ghé thị trấn có khu trượt tuyết nổi tiếng và dự tính sẽ thăm nước Anh rồi thăm Ý. May mắn có cơ hội ngắm nhìn cảnh đẹp xứ người, nổi tiếng thế giới, nhưng tôi chạnh lòng, xót xa nghĩ đến những văn kiện “quái gở” được ký kết trước đây: Hiệp-định Geneve 20-7-1954 và Hiệp-định Paris 27-1-1973. Đó là những vết đen tủi nhục trong trang sử Việt …   

Một sáng cuối Thu, trời lành lạnh, từ Paris, chúng tôi đáp tàu điện, chạy về hướng tây một quãng đường khá xa trên mặt đất, tới Calais, tàu bắt đầu chui vào đường hầm dưới đáy biển Manche để sang thăm xứ sương mù. Nhưng thực kém vui khi xuống ga London, Anh quốc, chúng tôi thiếu cảnh giác và lơ đễnh để kẻ xấu lấy cắp chiếc máy chụp hình của anh Hiệp. Sau đó chúng tôi hủy chuyến đi Ý và chỉ dạo quanh đường phố, ngắm cảnh Paris. Về đến Mỹ, việc đầu tiên, tôi mua một máy chụp hình mới, gửi sang tặng anh nhưng lòng vẫn áy náy và tự trách mình thực là “nhà quê ra tỉnh”. Vả lại máy chụp hình tôi mua gửi sang, tuy mới nhưng chưa chắc anh Hiệp đã yêu thích bằng chiếc máy bị kẻ xấu lấy đi. Nó đã cũ, dù tuổi đời đã mấy chục năm nhưng là một kỷ vật đã gắn bó, theo anh bao năm qua. Nó đã cùng anh ghi nhận những chứng tích, cùng anh rong ruổi trên đường đời. Với tôi, đây cũng là kỷ niệm khó quên trong chuyến “đi tây” hai mưoi bốn năm trước. Nay đã xa rồi! Chỉ còn là những dấu ấn rời rạc lúc ẩn, lúc hiện!

Người ta thường bảo người già hay nhớ về kỷ niệm, tìm về dĩ vãng xa xôi. Thực vậy, dù tuổi đời chồng chất, hiện tượng lão hóa soi mòn bộ nhớ, nhưng trong tôi, dĩ vãng cứ hiện về, xuyên suốt hành trình 84 năm vào đời! Từ mái tranh trong ngôi làng quê, thuộc tỉnh Hải-Dương, miền Bắc Việt-Nam, nơi đó, năm 1939 tôi ra đời; rồi do vận nước, duyên trời, 51 năm sau, trôi giạt tới Houston, thành phố lớn hàng thứ tư Liên-Bang Mỹ. Hơn nửa thế kỷ sống ở quê nhà, một hành trình theo dòng đời, quá dài và có nhiều ngã rẽ. Từ một cậu bé lớp mẫu giáo trường làng, đến một sinh viên Đại học ở Saigon; từ một quân nhân vào giữa thập niên 1960 đến ngày đau buồn 30-4-1975, trở thành một tù nhân khổ sai, biệt xứ, rồi thành một di dân tỵ nạn vào lúc tuổi đời đã ngoài năm mươi. Bao nhiêu sức lực thời trai tráng đã để lại hết trong trại tù, từ Nam ra Bắc; chỉ còn chút sức tàn lực kiệt để lao động mưu sinh nơi xứ người. Nay cuối đời, về già, còn may mắn và nhờ phước đức, đủ sức đó đây hẹn hò, trao đổi tâm tình văn nghệ qua tháng, qua ngày. Và “Cà-Phê-Thứ-Bẩy” là niềm vui thanh tao, quý giá trong hoàng hôn cuộc đời.

Quên sao được những ly cà phê nóng toả hương thơm, làm khoảng không gian nho nhỏ thân tình, ấm cúng hẳn lên. Nghĩ cũng lạ. Khách thưởng thức cà phê hẹn nhau tại đây vào mỗi sáng Thứ Bẩy, hình như không phải vì cà phê, mà chính vì họ cần một điểm hẹn, cần một nơi để gặp gỡ, hàn huyên tâm sự. “Nhóm Cà Phê Thứ Bẩy” là những người trọng tuổi, lứa tuổi mà người ta gọi là “tuổi hạc”. Từ ba miền đất nước Việt-Nam nhiều biến động, dâu bể đổi dời, nổi trôi theo vận nước, nhưng do ý trời, đưa họ gặp nhau tại thành phố này, nơi cách xa quê hương mấy chục ngàn dặm. Người nhiều tuổi nhất năm nay ngoài chín mươi, người trẻ nhất, không nhiều, chỉ vài ba, cũng ngoài bẩy chục. Qua phong cách, tâm tình trao đổi, tâm sự trùng trùng, người ta được biết họ là những chứng nhân trong dòng lịch sử Việt-Nam cận đại. Họ đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự cuộc chiến 30 năm (1945-1975). Họ đã có mặt trong tất cả quân binh chủng và từng phục vụ trong cơ quan hành chánh ở quê nhà trước đây. Cuộc chiến chấm dứt, một lần nữa họ lại phải chiến đấu cam go hơn để giành mạng sống và tự do. Nào tủi nhục trong tù đầy, nào tuyệt vọng trước bão táp giữa biển rộng mênh mông, hoặc âm thầm lầm lũi tìm đường chạy trốn giữa rừng già trùng điệp gian nan… Cái căn cước khởi đầu ghi đậm nét “người tỵ nạn” là ngõ vào, là tín hiệu nhận nhau. Nhưng điều gì, chất xúc tác nào làm keo sơn, làm mắt xích đưa họ lại gần nhau hơn và gắn kết bên nhau? Phải chăng là “duyên văn nghệ”. Đúng vậy! Họ là những người yêu thích, có thể nói là “đam mê” văn hóa nghệ thuật; đến với nhau, gặp gỡ nhau mỗi sáng Thứ Bẩy; sinh hoạt trong môi trường văn hóa, thân tình, lành mạnh, ngập tràn Chân, Thiện, Mỹ. Ở đây không có danh xưng đao to búa lớn. Ở đây không có Chủ-Tịch, không có Hội-Trưởng, chỉ có những người làm thơ, viết văn, soạn nhạc, vẽ tranh v.v. Lại có những người ngâm thơ, ca hát, thổi harmonica, kéo violon v.v Rất tự do, thoải mái, vô tư, không có gì ràng buộc, khuôn mẫu, gò bó và rất đơn giản như tên gọi “Nhóm Cà Phê Thứ Bẩy”. Có thể gọi họ là những “nghệ sĩ sáng tác” và “nghệ sĩ trình diễn” tài tử. Rất khiêm nhường, thân tình, không ồn ào khoa trương, nên phần nào xa lạ với cư dân thành phố. Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; những cánh hoa khoe sắc thắm, những tia nắng hè chói chang, những làn gió thu man mác, nhẹ đưa trong ánh nắng hoe vàng; rồi những cơn gió từ phương bắc lạnh cóng, ngả nghiêng hàng cây bên đường, co ro khách bộ hành v.v là nguồn cảm hứng thiên nhiên bất tận và cũng là dịp hội ngộ thường kỳ, hòa đồng, nồng ấm, thắm tình bằng hữu.

 tv 2

 

Điểm đặc biệt, dù thành viên thường trực hơn hai mươi người và trong những buổi hội ngộ có khách mời, số người tham dự lên tới sáu bẩy chục, nhưng họ muốn giữ danh xưng giản dị và thân ái: “Nhóm Cà Phê Thứ Bẩy”.

 

tv 3

 

Ngoài sự tham gia của các văn nghệ sĩ địa phương, Cà Phê Thứ Bẩy còn là trạm dừng, là điểm hẹn của những tâm hồn văn nghệ phương xa, mỗi khi có dịp ghé thăm thành phố. Có nhạc sĩ lão thành L.Dinh đến từ Canada phương bắc, có  nhà thơ trung niên T.T.Đạo từ miền đông, vùng Thủ đô; lại có người thầy thuốc già N.Y. Đức và nhà truyền thông P.Đ.Minh trên “Cánh đồng mây” đến từ Dallas, rồi nhà văn nhà thơ đến từ miền viễn tây như P.T.Anh, Đ.P.Phong, P.Đ.Vượng v.v. Nhiều lắm! Những buổi hội ngộ thắm tình “văn nghệ” ấy đã được ghi lại đầy đủ, kèm theo hình ảnh trải dài trên các tạp chí Trẻ, Thời Báo do hai nhà báo H.N. Sơn và B.Cúc tường trình.

    

 tv 4

Tưởng rằng quỹ thời gian còn lại, chắc không nhiều, của những “tuổi hạc” như chúng tôi, sẽ êm đềm, vui hưởng tới cuối đường. Nào ngờ, kể từ ngày con cúm Tàu, không hiểu mang họ gì, chỉ biết với tên gọi không êm tai “Cô Vit” xuất hiện, biết bao tang thương, biến đổi và thật thấm thía với ý nghĩa của câu tan đàn xẻ nghé, vật đổi sao dời. Sau hơn ba năm cách ly, không có cơ hội họp mặt; người làm thơ có chiều dầy sáng tác trên nửa thế kỷ L.T.Do đã ra đi; người thầy thuốc đam mê ca hát, có giọng tê-no, P.N.Tùng, bước vào tuổi 90, sức khỏe không sung mãn như ngày nào; ông giáo già kiêm nhà thơ L.Cao nay di chuyển phải có cây gậy trợ lực. Nhà nghiên cứu dịch thuật Đ.N.Ninh cũng giã từ trần thế, cưỡi hạc về tiên cảnh. Nhạc sĩ tài hoa S.Ngọc cũng bỏ lại tất cả để về cõi vĩnh hằng. Họa sĩ đa tài Đ.Cường, đàn ca đủ hết, bị con cúm Tàu cầm chân, gây rối; trong khi họa sĩ D.P.Tấn đi lại khó khăn vì tuổi đời chồng chất; danh thủ Tây ban cầm V.Vũ bị rối loạn tiền đình không được phép lái xe. Còn nhiều nữa, hình như đang xếp thành một hàng dài, chuẩn bị lên đường “viễn du tiên cảnh” … và chính tác giả bài viết này cũng phải nhập viện để điều trị, ngoài căn bệnh hiểm nghèo, cộng thêm con cúm Tàu cô-vit đuổi theo quấy phá, ròng rã gần một năm dài, nhưng thực may mắn nhờ phước đức, thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

 Thời gian cứ trôi, vẫn chưa tới ngày đáp máy bay về quê hương; con đường quen thuộc lại đưa tôi đến quán cà phê hẹn hò hội ngộ thân tình. Tuy số người không đông đủ như trước ngày cúm Tàu xuất hiện, nhưng vẫn còn hiện diện một số gương mặt thân quen, đồng cảm trong ánh mắt nhìn nhau. Lại một điều bất ngờ, vào sáng thứ bẩy, đầu tháng 8-2022, như thường lệ, tới quán cà phê, chúng tôi rất ngạc nhiên thấy một tờ giấy trắng nhỏ,  giản dị, lạnh lùng, dán trước cửa kính. Tiến lại gần đọc được dòng chữ “Xin cáo lỗi. Quán cà phê đóng cửa”. Đóng cửa??? Không một lời báo trước! Bấy giờ mới thấm ý nghĩa của từ ngữ bâng khuâng, ngẩn ngơ, ngỡ ngàng. Dòng suy tư lại vô tình, tự động lần về quá khứ. Không biết tin được chăng, như có điềm gì khó hiểu báo trước. Vào một sáng thứ bẩy vài tuần trước đó, khi đến điểm hẹn, chỉ có năm bảy người, ít hơn một nửa bình thường. Tôi hỏi nhà bình luận và phân tích thời sự N.T.Quý: “Sao hôm nay vắng quá?” Qua nụ cười gượng gạo, một chút bí hiểm, giọng man mác, lơ đễnh: “Đó là quy luật!” Câu trả lời của anh Quý làm tôi suy nghĩ suốt mấy tháng qua, tới hôm nay còn thấm thía, bùi ngùi. Cái quy luật mà đã là con người dù muốn dù không, phải chấp nhận, tuân thủ. Quy luật ấy chất đầy, nằm gọn trong hai chữ “Hợp Tan”. Chí lý thay! Có hợp sẽ có tan, có gặp gỡ rồi sẽ có chia xa. Không có sự kiện gì, vật thể nào giữ được nguyên trạng, nguyên hình mãi mãi; trái lại nó biến đổi theo thời gian đúng như “quy luật”. Nhưng ác thay, tan nát, chia xa, đổi dời ở đây, nhìn chung là do tình hình “kinh tế” có phần không khả quan. Người ta được khuyến cáo hạn chế di chuyển hoặc không nên tụ tập đông người. Thậm chí nghiêm trọng hơn, như hạn chế xuất nhập cảnh, hoặc đóng cửa các phi cảng, hải cảng, vùng biên giới v.v Lý do duy nhất dịch Cô-vit, bùng phát từ bên Tàu đang lan tràn, đe dọa mạng sống con người toàn thế giới. Các cơ quan truyền thông loan tải những tin tức, hình ảnh ghê rợn, thương tâm do cúm Tàu gây ra trên khắp địa cầu. Các phóng viên, qua ống kính và bài viết, ghi lại từ một số quốc gia, thực kinh hoàng: lò hỏa thiêu quá tải, những xác người chờ huyệt để vùi thây; tử thi la liệt chờ thiêu, chờ chôn cất, bị phân hủy làm ô nhiễm môi trường. Đường phố vắng tanh; thỉnh thoảng xe cứu thương hú còi hối hả chạy. Các bác sĩ cùng nhân viên y tế làm việc quá sức, không có thời gian nghỉ ngủ để phục hồi v .v. Theo những tư liệu trong y khoa điều trị, vào năm… một ngàn chín trăm hồi đó, cách đây hơn một trăm năm, đầu thế kỷ 20, cũng xảy ra đại dịch cúm, phát xuất từ nước Tây-Ban-Nha nên người ta gọi là dịch cúm Tây. Không thấy tài liệu nào ghi lại ai “đuổi” được con cúm Tây. Đó là chuyện cuả trăm năm trước. Hiện tại, cả thế giới loay hoay tìm cách chế ngự con cúm Tàu đang gây họa lớn cho nhân loại. Các nhà khoa học ra sức tìm phương thuốc chích ngừa bổ sung lần 1, lần 2 rồi lần 3…

Ngày tháng vẫn trôi. Dịch cô-vit, hiểu nghĩa đơn giản dịch cúm Tàu, thâm độc nguy hiểm hơn cúm Tây, tuy có dấu hiệu bị chặn đứng và thuyên giảm ở một số quốc gia có nền y học tiên tiến, nhưng còn gây nhiều chết chóc tang thương, đặc biệt ở vùng châu Á, châu Phi. Tóm lại cúm Tàu vẫn còn là mối đe dọa cho loài người. Anh chị em trong nhóm “Cà Phê Thứ Bẩy” quả thực giống như đàn chim mất tổ. Nhớ lại, ngoài những sáng Thứ Bẩy hàng tuần gặp gỡ, ít nhất mỗi năm có sáu buổi hội ngộ với khá đông khách mời - Xuân, Hạ, Thu, Đông và những dịp lễ đặc biệt - Nay đã xa rồi! Những cánh chim bay về, tổ ấm nay còn đâu, chỉ còn lại những nhánh cây khẳng khiu, trơ trọi, cô đơn dưới bầu trời u ám...Có những cánh chim đã gẫy giữa đường! Có những cánh chim rã rời, mệt mỏi… Buồn, không nói nên lời! Nhưng nếu cứ im lặng làm ngơ, không lên tiếng, con cúm Tàu được thể, càng hoành hành, cứ tiếp tục “lấn đất giành dân”, như “vết dầu loang”, không coi thiên hạ ra gì. Tác hại nó gây ra ảnh hưởng sâu rộng đến sinh hoạt cộng đồng nhân loại. Chẳng lẽ cứ thản nhiên đứng nhìn và chờ đợi, chờ đợi…“Tin Buồn” hoặc “Cáo Phó” hay sao? Hay là cứ rên rỉ, than vãn, khóc lóc mà quên lời khuyên của cổ nhân: “Hãy thắp lên một ngọn nến còn hơn là ngồi đó nguyền rủa bóng tối!”.

 

Còn nhớ, trong dòng lịch sử và văn học Việt-Nam, đời nhà Trần, danh sĩ Hàn-Thuyên, người tỉnh Hải-Dương, đã làm bài “văn tế” đuổi cá sấu, trừ hại cho dân.
tv 5

 

Quê tôi cũng ở Hải-Dương. Điều kỳ lạ và may mắn, di cư vào Nam, tôi được theo học trường Hàn-Thuyên trên đường Cao-Thắng, Saigon, từ 1956 đến 1958. Biết đâu chừng tiền nhân linh thiêng chỉ lối, cho nên tôi không  ngần ngại, theo gương người xưa, cần gửi ngay một thông điệp, không phải văn tế, để cảnh cáo và đuổi con “cúm Tàu”. Nhưng chưa kịp thảo bản văn, ngày lên máy bay về quê hương đã tới. May quá! Tôi nghĩ đây có lẽ là dịp tốt, một công hai, ba việc; sau khi về quê tạ ơn xong, đích thân tôi sẽ đến, phải đến, đền thờ quan “Hình Bộ Thượng-Thư” Hàn-Thuyên để viếng và thỉnh ý ngài.

Ba ngày trước khi lên đường về quê, thực không may, bất ngờ tôi bị ngất xỉu trong một quán cơm nổi tiếng ở Houston. Chính tôi, nhiều lần tự hỏi sao đời tôi lại xảy ra nhiều bất ngờ quá vậy? Qua 84 năm đường đời, hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chuyện ngất xỉu hay còn gọi là đột qụy, tưởng như đùa. Buổi trưa hôm đó, vợ chồng tôi và con gái vào một quán cơm quen thuộc. Xong bữa, tôi đến quầy trả tiền.  Chủ tiệm hoàn lại tôi một ít tiền lẻ. Vừa cất tiền xong, tôi thấy chóng mặt và nhận ra mình sắp bị té ngã, người không thể đứng vững. Tôi cần ngồi xuống ngay. Phản ứng tự nhiên duy nhất là hai tay nắm lấy thành của quầy tính tiền để không bị ngã xuống sàn nhà…và tôi hoàn toàn không nghe, không biết gì nữa! Như trong mơ, tôi thấy mình ngồi trên ghế, giữa tiếng ồn ào và nồng nặc mùi dầu bạc hà, mùi dầu nóng. Bỗng nhiên tôi há miệng ngáp dài, như người vừa thức giấc, ngáp cho tỉnh ngủ! Có tiếng reo mừng rỡ: “Ngáp là tỉnh rồi”! Thực vậy, tôi thấy tỉnh táo lạ thường và cảm thấy mình như chưa hề bị ngất xỉu. Xung quanh, ngoài vợ tôi, con gái, người chủ quán và một vài thực khách đang vừa thoa dầu vừa nắn bóp từ hai vai lên cổ, lên tai, lên đầu tóc tôi và ngược lại. Tôi từ chối việc gọi xe cứu thương và cảm thấy có thể tự lái xe, nhưng lúc đó, các con tôi đã đến kịp và đưa tôi về. Không biết quán cơm từ ngày khai trương, tôi có phải là người duy nhất, ăn cơm xong, bị ngất xỉu? Và cũng chưa có ai giải đáp thỏa đáng lý do xảy ra sự việc kỳ lạ và hiếm thấy này.

Sau sự việc ngất xỉu, để bảo đảm an toàn cho tôi, gia đình đề nghị hoãn chuyến bay về quê hương. Tôi phản đối và xác quyết rằng tôi đủ sức đáp chuyến bay. Hơn nữa, tôi tin là tổ tiên phù hộ, thôi thúc tôi hãy vững tin, về quê để thắp nén nhang thành kính tạ ơn như đã dự tính. Trước sự cương quyết của tôi, gia đình đành miễn cưỡng chiều ý nhưng đã mua bảo hiểm y tế để bớt lo lắng nếu có điều không may xảy ra. Khi ngồi viết những dòng này, chính tôi cũng không ngờ mình đã uống “thuốc liều” và đem sanh mạng ra thách thức! Tôi quên rằng mình đã 84 tuổi, không phải 48, càng không phải 18. Tôi còn cười thầm tự chế nhạo, nay là một cụ già 84, không còn là một em bé ngày xưa, mỗi lần mới khỏi cơn bệnh hoặc qua cơn đau ốm là được mọi người, thấy tội nghiệp nên …. nuông chiều một chút!

Thế rồi mọi việc diễn tiến tốt đẹp như mong muốn. Là một hành khách cao tuổi, bay chặng đường dài nửa vòng trái đất, không có người thân đi cùng; tới Saigon, tiếp tục đáp chuyến bay nội địa ra miền Bắc. Thế mới biết, có quyết tâm cao, lại được sức mạnh vô hình linh thiêng phò trợ, dù trở ngại khó khăn thế nào, sẽ yên bình vượt qua. Suốt 33 năm định cư ở Mỹ, tôi đã về thăm quê nhiều lần. Tâm trạng xúc động, bồi hồi luôn dạt dào xuyên suốt hành trình. Đã lâu rồi, khi còn là cậu học trò nhỏ, ở đâu đó, hình như tôi đã được đọc, bài viết về một nhà văn người Anh. Ông đi du lịch rất nhiều nơi, khắp thế giới; khi trở về làng xưa, có người hỏi ông thấy nơi nào đẹp nhất. Câu trả lời thật thấm thía và nhiều ý nghĩa: Chỉ có quê hương là đẹp hơn cả!!

 Kia rồi, cổng làng Phụng-Viện đã hiện ra phía trước. Đường làng bây giờ, sau gần nửa thế kỷ đất nước thống nhất, đã đổ bê-tông; ô tô đi lại thoải mái. Tôi muốn thắp nén nhang trước bàn thờ Tổ tiên, như một hình thức “trình diện”. Xe dừng ngay cạnh nhà thờ. Vào trong, tôi thắp nhang  khấn vái, thành kính tạ ơn Tổ tiên đã phù hộ độ trì cho toàn thể mọi người trong gia tộc, ở khắp mọi nơi, luôn an bình hạnh phúc. Với riêng tôi, các Cụ đã đưa trở về dương thế từ tầng địa ngục thứ 14, lại còn phù hộ cho đầy đủ sức khỏe, đáp chuyến bay đường dài, về quê, đứng đây thắp nén nhang vái tạ. Ơn đức ấy, xin nguyện ghi khắc trong lòng.

 

tv 6


Thắp nhang “trình diện” xong, tôi dạo một vòng quanh khu nhà thờ. Gần một trăm năm trước, ông nội tôi xây dựng ngôi nhà thờ này. Ông Bà quy tiên vào giữa thập niên 1940. Từ đó, qua nhiều biến động đất nước, đổ nát hư hỏng, đã trùng tu nhiều lần. Các con Cụ, thế hệ cha chú tôi, nay đã qua đời hết. Các cháu Cụ, thế hệ chúng tôi, vì vận nước, trôi nổi mọi miền từ Bắc vào Nam; có nhiều người định cư ở nước ngoài, nhưng vẫn hướng về cội nguồn và lần này, cùng nhau góp công sức trùng tu toàn diện. Từ mái ngói, tường bao quanh, cổng vào, trần nhà, sàn nhà, bệ thờ v.v đều được thay thế hoặc sửa chữa nghiêm chỉnh có thể chịu đựng, thách thức lâu dài với thời gian. Chỉ ít ngày nữa, lễ khánh thành sẽ tổ chức đúng vào ngày giỗ Ông nội.

Những thủ tục cần thiết như dọn sạch sẽ quanh phần mộ, mời thân nhân họ hàng, mời người cùng làng, cùng xóm đã xong. Hôm nay là ngày giỗ và lễ khánh thành. Tưởng rằng việc chuẩn bị nấu nướng, cỗ bàn, thức ăn thức uống sẽ khó khăn, vất vả, bận rộn, nhưng may thay có dịch vụ chuyên về tiệc hiếu hỷ, lo liệu hết mọi việc, từ A tới Z. Từ kê bàn ghế đến việc dọn dẹp vệ sinh khi xong, rất tiện. Trước những mâm lễ vật và nhang khói nghi ngút, tôi lại một lần nữa khấn nguyện, thành kính tạ ơn Tổ tiên để lại phước đức cho con cháu. Cũng nhờ phước đức cao dầy ấy, các tầng lớp cháu chắt và thế hệ nối tiếp tương lai sau này ở mọi miền, mọi nơi được an vui hạnh phúc.

Lễ giỗ xong, tôi đến viếng đền thờ Thủy Tổ họ Vũ, ở làng Mộ-Trạch, cũng thuộc huyện Bình-Giang, tỉnh Hải-Dương, cách làng tôi vài dặm. Đây là di tích nơi an nghỉ Thủy Tổ họ Vũ.

tv 7

Trước khi rời làng quê, tôi muốn nhìn lại căn nhà, nơi tôi chào đời. Đây rồi, tại nơi này, vào năm 1939, tôi đã được sanh ra và trải qua sáu, bảy năm thời thơ ấu. Mái tranh nghèo 84 năm trước không thấy đâu. Sau năm 1954, chính quyền mới đã lấy căn nhà này chia cho nhiều gia đình khác đến ở…Xa quá rồi! Quê hương đất nước tôi, dân tộc tôi, trải qua bao khổ nạn tang thương. Thế hệ ông cha long đong vất vả, gian khổ và hy sinh, tất cả vì hạnh phúc của hậu duệ, của các tầng lớp con cháu mai sau.

Sau lễ Tạ ơn Tổ tiên, một tâm nguyện tôi muốn thực hiện, kể từ khi “Trở về từ tầng 14” là lên Hà-Nội, đến Hồ Hoàn Kiếm. Dĩ nhiên bao nhiêu kỷ niệm vui buồn với Hà-Nội vẫn còn đầy ắp trong tim. Từ tờ mờ sáng, tôi đã đứng bên bờ hồ. Trời u ám, trần mây thấp, ánh dương chưa ló dạng nên quang cảnh còn mờ hơi sương. Hà-Nội như còn ngái ngủ, chưa tỉnh giấc, dù xe cộ đã xuôi ngược trên đường phố. Tháp rùa đó, trải qua bao năm tháng, vẫn rêu phong bao phủ. Hướng về tháp, tôi lâm râm khấn nguyện: Suốt 84 năm qua, nghĩ rằng trong tay có “kiếm bạc” thần rùa trao cho, tôi tung hoành ngang dọc, chinh chiến gian lao, thương tích và chiến công có đủ; tôi hoàn thành sứ mạng, trở về trong chiến thắng vinh quang. Dài theo cuộc trường chinh, kiếm bạc bên mình trên tám mươi năm, có phần “mỏi mệt”. Nay trước hồn thiêng sông núi, xin trả lại “kiếm bạc” cho thần rùa và mong được an vui tuổi già.

Trả “kiếm bạc” xong, tôi còn ngẩn ngơ, phân vân, thấy lòng vẫn chưa yên; cảm tưởng rằng hình như còn một nhiệm vụ, một trọng trách nào đó tôi chưa hoàn thành, nên không muốn rời đi, vẫn đứng bên bờ hồ, ngóng trông về phía trời xa. Tâm trí như tỉnh như mê, tôi định quay gót ra về. Lạ quá! Tôi nghe được tiếng vọng, âm lượng khá lớn, từ tháp rùa, đúng là từ tháp rùa, lệnh cho tôi đứng lại và chờ đó! Rất ngạc nhiên và lo lắng hồi hộp, hướng về tháp rùa; chừng vài giây sau, một tia sáng màu xanh lóe lên, từ từ chuyển dịch về phía tôi. Định thần, tôi nhận ra đó là một thanh kiếm giống trong truyện và phim ảnh thần thoại; lưỡi kiếm tỏa ánh sáng xanh màu ngọc bích, chuôi kiếm màu đỏ của hồng ngọc. Tôi nhớ rất rõ, trong những truyện hoặc phim ảnh thần thoại ấy, mỗi lần kiếm ngọc vung lên thì trời long đất lở; công trình kiến trúc, lâu đài, dinh thự, núi đồi ngả nghiêng; kẻ xấu, kẻ  gian ác tìm đường chạy trốn và biến mất. Có những loài ma quỷ mắt xanh, mắt vàng, mắt đỏ, nhe răng há miệng, hùng hổ, giơ cao móng vuốt, phùng mang trợn mắt…Nhưng thấy kiếm ngọc xuất hiện, liền co giò, cúp đuôi, tháo chạy! Đây có phải là sự thật hay ảo tưởng, tôi không biết, chỉ tự nhủ mình chưa thể “gác kiếm”, nên được trao một kiếm báu mới để tiếp tục sứ mạng bình nam phạt bắc, ngang dọc tung hoành trong những trận chiến sắp tới, trừ hại cứu dân….Tôi hơi khom người về phía trước, đưa hai tay ngang mày, như đang đón nhận kiếm ngọc từ Thần rùa. Thực không ngờ, tôi có trong tay một vũ khí uy lực vô song, một sức mạnh vô địch. Chỉ vung nhẹ kiếm ngọc lên là quân địch, kẻ thù khiếp sợ, hỗn loạn, dẫm đạp lên nhau thoát thân. Dù quỷ xanh, quỷ vàng, quỷ đỏ, quỷ gì đi nữa, cũng không toàn thây trước uy lực của kiếm ngọc.

tv 8

                                                  

Trong niềm vui ấy, tôi cảm thấy có một chút hãnh diện, mình được giao một sứ mệnh thiêng liêng cao cả và dự tính ngày hôm sau sẽ lên đền Hàn-Thuyên, để thỉnh ý ngài. Dù sao cũng nên dùng lời lẽ khuyên dụ, cảnh báo, trước khi dùng biện pháp mạnh như đao kiếm, dụng lễ trước rồi sẽ dụng binh.

Rời bờ hồ, lòng vui khôn tả. Tôi muốn chia xẻ niềm vui với một người bạn, Phạm-Đức-Vượng, cũng từng là học trò trường Hàn-Thuyên, và đã từng cùng tôi hứng chịu tủi nhục trong các trại tù sau 30-4-1975. Vượng, hiện định cư ở San Jose, bang Ca-Li, không hề biêt tôi có ý định trả kiếm cho Thần Rùa, chỉ biết tôi muốn về viếng đền và thỉnh ý ngài Hình-Bộ-Thượng-Thư Hàn-Thuyên. Tôi vào Bưu-Điện Hà-Nội, đối diện bờ hồ; lựa mãi, được tấm bưu ảnh có hình hồ gươm lung linh, lộng lẫy và muốn tạo bất ngờ, mua tem, nhờ bưu điện gửi về địa chỉ nhà riêng của Vượng, với tên người gửi đã ngụy hóa…

Sáng nay, tiết trời ấm áp, ánh nắng cuối xuân dịu dàng làm lòng người phấn khởi, hăng say. Đúng như dự tính và theo bảng chỉ dẫn, tôi đã tới đền thờ Tiến sĩ Hàn-Thuyên ở xã Lai-Hạ, huyện Lương-Tài, trước kia thuộc tỉnh Hải-Dương, nay phân chia thuộc tỉnh Bắc-Ninh. Người quản lý cho biết trong đền đang tu sửa, thiếu an toàn, khách chiêm bái vui lòng không vào bên trong. Tôi đứng trước sân rộng, hướng vào trong đền khấn nguyện: từng là một học sinh của ngôi trường mang tên ngài, tôi sẽ không làm hổ danh, nguyện noi gương ngài, gửi một thông điệp để cảnh báo và “đuổi “ con cúm Tàu, hiện đang là mối họa lớn của loài người.         


tv 9 

Không biết có phải do trí tưởng tượng hay đây là một hiện tượng tâm linh huyền bí; khi kính cẩn vái vọng từ biệt, ngước nhìn trên cao, một vị đại thần mặc triều phục hiện ra, đang mỉm cười nhìn tôi. Có lẽ ngài đã thấy được thiện ý và lòng thành của tôi. Trên đường về, ánh mắt ấy, nụ cười ấy làm tôi thêm ấm lòng và vững tin nhiều. Đường lên đền Hàn-Thuyên xa xôi vất vả, nhưng tôi đã thực hiện thành công ý nguyện của mình. Thực không ngờ, tôi có trong tay một kiếm báu từ Thần rùa, lại được sự cổ vũ, khuyến khích của danh sư tiền bối, người đã có công làm văn tế đuổi cá sấu cách đây hơn bảy trăm năm; như thế đủ để tôi vững tin rằng sẽ hoàn thành sứ mạng đuổi cúm Tàu, trừ hại cứu dân.

 

Thế rồi, đã đến ngày phải rời quê hương trở về Mỹ. Tôi lại đáp chuyến bay đường dài vượt đại dương, lòng tràn đầy niềm vui nên quên đường xa mệt nhọc. Về lại Houston, không chậm trễ, tôi gửi ngay một thông điệp, với đại ý nội dung như sau:

……………. Này con cúm Tàu ngông cuồng ác độc! Ngươi đừng tưởng, sinh ra      từ nước lớn, là được phép bành trướng bá quyền, tự coi mình là trung tâm nhân loại; tự nhận mình là “cái rốn vũ trụ”. Ngươi có trong tay lưỡi hái tử thần, đi khắp thiên hạ, tàn sát sinh linh. Hơn ba năm qua, người chết triệu triệu, người bệnh tỷ tỷ, nhân loại hoảng sợ. Chưa thỏa mãn sao?  Chủ nhân ngươi rao giảng nhân nhân nghĩa nghĩa, nhưng thủ sẵn mã tấu dao găm. Chúng luôn miệng anh em, đồng chí, lại rập rình đầu độc, thủ tiêu. Mặt nạ ngươi mang, đã rớt dần dần, lộ hình ác quỷ.  Từ Vũ Hán tới Bắc Kinh; lò thiêu quá tải … Từ Ấn Độ tới Châu Phi, huyệt không kịp đào… Ngươi lại giả vờ thương xót, nước mắt đầm đìa. Không lừa gạt được ai đâu! Đúng là “nước mắt cá sấu!”… Đã quá đủ rồi! Ngừng tay lại ngay! Ta đây noi gương tiền nhân “vốn đức hiếu sinh”, chừa cho đường sống, chỉ cần thành tâm hối cải. Hãy chấm dứt gây họa và không tái phạm! Ta không phải tên Thuyên, tên Dũ; cũng không phải họ Nguyễn, họ Hàn. Mà thôi, ngắn và gọn, ngươi chỉ biết đây là thông điệp truyền lệnh, hỏa tốc và thượng khẩn. Ngừng tay lại ngay! Bất tuân sẽ nghiêm trị!

Ngày …tháng…   năm …

S.5 (ấn ký)    


Gửi thông điệp xong, theo dõi và chờ đợi. Đó đây, tuy không nhiều nhưng vẫn còn phúc trình tổn thất. Nhóm Cà Phê Thứ Bẩy vẫn như đàn chim mất tổ. Trời Houston bao la là thế mà không có nơi nào để chúng tôi hội ngộ sao? Giờ xa rồi! Thời gian có bao giờ ngừng trôi không nhỉ? Những “đóa hoa” Anh-Thư Thiện-Nguyện dễ thương, nhiệt tình, đang tung tăng nơi nào? Những thành viên của Hồn-Việt nặng tình non nước, giờ nơi đâu? Mấy năm trời không gặp! Nhớ da diết giọng ngâm quý hiếm của cánh Hạc-Trắng ngày nào cùng giọng hát trầm ấm tình tứ của N.Quỳnh, K.Phượng. Rồi tiếng hát bay bổng của du ca chi bảo D.Chi, tiếng hát rực lửa của ca nhạc sĩ đấu tranh H.Tường; giọng hát T.Hà ngọt ngào, quyến rũ, bên cạnh phu quân tài hoa, nhà văn L.Đ.Lực có “81 cách biết nhảy dù”; giờ chỉ là nỗi nhớ! Những vần thơ mới sáng tác của M.Ngàn, của C.H.Phong, của L.Cao v.v, còn thơm mùi mực; những nhạc khúc mới soạn của T.Chương, H.Tường giờ âm thầm, im lặng chờ ngày …giới thiệu với ai đây! Buồn nhưng không tuyệt vọng. Những cánh chim quyết tìm một nơi thích hợp để xây tổ mới. Thế là Vương-Vũ, Quỳnh-Hà, Quách-Trường, Hữu- Liệu v.v không mệt mỏi, nặng tình văn nghệ, hoạt động con thoi. Các bạn ấy ghé qua nhiều quán cà phê để “điều nghiên”. Có quán thân tình, trang trí nghệ thuật nhưng thứ bẩy đông khách, không đủ chỗ ngồi. Có quán địa điểm tốt, bãi đậu xe rộng rãi, nơi sinh hoạt của những vị cao niên, nhưng không mở cửa những ngày cuối tuần. Lại có quán mang bảng hiệu hấp dẫn hoặc gợi nhớ quê hương xa xôi, nhưng một số khách hàng không biết vô tình hay cố ý, mơ màng theo làn khói thuốc, thưởng thức hương vị cà phê trong thế ngồi “nước lụt”, khiến anh chị em chúng tôi ngại ngùng.

Chưa tìm được nơi thích hợp để gặp gỡ hàn huyên, tâm sự, chúng tôi lại nghĩ về quán cà phê thân quen, trước khi xảy ra đại dịch. Có dịp lái xe ngang qua; cái logo tháp Eiffel vẫn còn đó, cái bảng hiệu có âm hưởng tên gọi thủ đô nước Pháp vẫn còn đó, nhưng ngoài hành lang không bàn, không ghế, không một bóng người và bên trong quán, tối om, không một ngọn đèn. Khung cảnh ấm áp thân tình của những lần gặp gỡ vào sáng Thứ Bẩy nay còn đâu, xa rồi! Liệu có thể xảy ra chăng, một ngày đẹp trời nào đó, những tâm hồn văn hóa, văn nghệ lại có cơ duyên hội ngộ hàng tuần? Chúng tôi hy vọng vì người ta thường bảo hy vọng là lẽ sống! Nhớ làm sao những chiếc bàn, chiếc ghế bằng hợp chất nhựa vững chắc, toàn một màu xám đậm, kê dọc hành lang phía ngoài, hướng ra đại lộ; Không quên được những tách cà phê và những dĩa bánh ngọt hương vị âu châu; những bình trà thơm ngát, những nụ cười, những nét mặt sảng khoái mơ màng, say mê trao đổi những vần thơ, dòng nhạc mới sáng tác.

Tuổi đời càng cao, người ta càng tin rằng mọi việc xảy ra đều do bàn tay của đấng thiêng liêng vô hình an bài. Những trận động đất kinh hoàng, những phún xuất thạch đỏ lửa phun trào từ hỏa diệm sơn, rồi chiến tranh, rồi thiên tai, đại dịch, cúm Tây cúm Tàu v.v nào sạt lở, lũ lụt, su na mi v.v đã lấy đi biết bao sinh mạng, gây nên bao đổ nát tang thương. Con người quả thực nhỏ bé và mong manh yếu đuối trước cơn giận giữ của tạo hóa và chịu nhiều thiệt thòi, mất mát, khổ đau trước quyền lực của kẻ xấu, kẻ ác. Để tự vệ, và để được bình an trong cuộc sống, có lẽ ngoài việc tận dụng tất cả những gì sở hữu để đối phó, chống trả; người ta cần dựa vào một sức mạnh thiêng liêng, vô hình hỗ trợ. Phải chăng là “cầu nguyện”? Dâng lời cầu nguyện, ai cũng làm được, không phân biệt sang giàu hay nghèo khó; đại chúng hay cao tăng; con chiên hoặc chủ chăn; cũng không phân biệt thời gian không gian; bất cứ lúc nào hoặc nơi nào nhưng quan trọng là “thành tâm, thành ý”. Riêng cá nhân tôi, người viết những dòng này, trong nhiều trường hợp hiểm nguy, đối diện tử thần, đã thành tâm cầu nguyện và những “lời nguyện cầu” thành khẩn ấy, đã rất linh ứng, chứng nghiệm! Hình ảnh quan Hình Bộ Thượng-Thư Hàn-Thuyên trên cao mỉm cười, nhìn tôi ra về sau khi viếng và thỉnh ý ngài, vẫn còn đậm nét trong trí tưởng…Thực không ngờ! Hiệu nghiệm thay! Cúm Tàu nhận được văn thư gửi hỏa tôc, chấp hành ngay, không tiếp tục gieo họa. Những lệnh phong tỏa, cách ly đã dần dần tháo gỡ. Các vị bác sĩ, nhân viên và cơ sở y tế đã có chút thì giờ nghỉ ngơi để hồi phục. Ai nấy hân hoan, cùng dâng lời tạ ơn. Khi ngồi viết những dòng sau cùng của hồi ức này, cúm Tàu đã co cụm, đang âm thầm biến mất. Nhân loại từ từ trở lại đời sống yên bình. Đó đây lại ngân vang tiếng hát câu hò; tiếng đàn, tiếng sáo lại thánh thót vi vu và hy vọng khắp nơi sẽ có nhiều, rất nhiều nhóm “Cà Phê Thứ Bẩy” nữa ra đời, hội ngộ sinh hoạt thân tình trong vườn hoa nghệ thuật muôn sắc, muôn màu. Và quả thật chuyến “du hành tìm về quê hương cội nguồn” lần này, với sự khuyến khích, hỗ trợ của gia đình, đã có nhiều ý nghĩa. Tôi có cơ hội thực hiện ý nguyện; nào tạ ơn Tổ tiên để lại nhiều Phước Đức; thăm quê hương nơi chôn nhau cắt rốn; viếng đền thờ và thỉnh ý danh sư Hàn-Thuyên; đặc biệt đến hồ gươm hoàn lại thần rùa thanh kiếm cũ, đã cùng tôi tung hoành 84 năm; nhưng bất ngờ, lại nhận được kiếm báu mới bích ngọc, tỏa sáng linh khí đất trời; lòng tràn đầy niềm vui và hãnh diện được thần rùa tin tưởng, trao cho để trừ bạo cứu dân. Nhưng kiếm ngọc chưa dùng đến, cúm Tàu đã dần biến mất. Chuyện cúm Tàu sẽ từ từ trôi về dĩ vãng như cúm Tây hơn trăm năm trước. Thế hệ chiến sĩ cao tuổi chúng tôi, sẽ lui về phía sau và mờ nhạt dần; kiếm ngọc giao lại cho hậu thế và việc gánh vác sơn hà nay nhờ vào đôi vai những thế hệ tiếp nối. Là một chiến binh già, tôi mượn những lời văn đơn sơ, mộc mạc trong bài viết này, như những “lời nguyện cầu”. Là con cháu dòng giống Lạc Hồng, luôn ghi nhớ: Bích Ngọc kiếm thần rùa trao cho, không đơn giản là một kiếm báu. Đây là biểu tượng hồn thiêng sông núi, là sức mạnh vô địch, là vũ khí uy lực nhiệm màu gìn giữ giang sơn gấm vóc, bảo quốc an dân. Hãy cất giữ kiếm báu ở nơi thật an toàn, canh phòng cẩn mật. Tuyệt đối không để xảy ra việc đánh tráo, giống như “nỏ thần” thời An-Dương-Vương xa xưa.

 

Triệu Vũ.

Houston, TX.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 904)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 905)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1238)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1100)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1332)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1409)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1366)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1242)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1818)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 1956)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9326)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16158)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15175)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15515)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 900)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1237)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1330)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1818)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3585)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5403)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4974)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5580)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1099)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1408)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1718)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1692)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1366)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1242)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1491)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1539)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12209)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28583)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35080)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34972)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9732)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11938)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 904)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1237)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1818)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 1956)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2260)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6956)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6388)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8313)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.