- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

LỜI KÊU CỨU CỦA THIÊN NHIÊN VIỆT NAM

26 Tháng Hai 20238:39 CH(Xem: 32196)
Hoa Ban Tay Bac

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn  

Ủng hộ lời kêu cứu cho Đồng Bằng Sông Cửu Long  của nhà khoa học Ngô Thế Vinh  

 trên vanviet.info bauxitevn.net  

LỜI KÊU CỨU CỦA THIÊN NHIÊN VIỆT NAM

Quá muộn rồi. Sau đây, chúng ta sẽ đi về đâu,
sự hỗn loạn hay một cuộc sống cộng đồng?

(Martin Luther King)

Sự hòa hợp giữa Con người và Thiên nhiên
là yếu tố cơ bản cho sự sinh tồn của chúng ta
(1)
(Aurelio Peccei và Daisaku Ikeda)

 

1. Văn hào Nga Lev Tolstoy trong luận văn Về cuộc sống đã trích làm đề từ một luận điểm của triết gia Kant nói rằng: Một trong hai điều luôn tràn ngập tâm hồn chúng ta bằng niềm ngạc nhiên và ngưỡng mộ luôn mới mẻ và ngày càng gia tăng, “bắt đầu từ điểm mà tôi đang chiếm giữ trong thế giới cảm tính bên ngoài(2).

Cái điều đó là gì, nếu như trước hết không phải là Thiên nhiên? Tolstoy đã xác quyết rõ rệt: “Cuộc sống chân chính là đạt tới cái chân phúc không phụ thuộc vào mọi chuyển động hữu hình trong không gian và thời gian bằng sự quy phục trí tuệ(3). Chân phúc, tức hạnh phúc đích thực và chân chính như vậy, theo văn hào, chỉ có thể đạt tới bằng sự vận dụng trí tuệ vào việc “quy phục, tuân thủ “ những quy luật của thiên nhiên.

Bởi nếu không làm như thế, theo Tolstoy, “tất cả những hoạt động sôi động phức tạp của con người với thương mại, chiến tranh, với phương tiện truyền thông, khoa học, nghệ thuật của họ phần lớn chỉ là cảnh chen lấn của một đám đông điên rồ bên cánh cửa của cuộc sống(4).

Tôi đã nhớ lại những điều mà L.Tolstoy nói đến từ những năm 70 của thế kỷ XIX, mỗi khi cảm thấy nhục nhã và đau đớn trước cảnh tượng hùng hổ tranh cướp ấn, hay cảnh hỗn loạn chen lấn của đám đông ở một số đình, chùa, giữa rác rưởi ô uế, giữa những con thú rừng bị thui đang há mõm như than khóc cho sự tận diệt thiên nhiên ở mức báo động đỏ. Còn đâu một mẩu nào của ánh sáng trí tuệ như L. Tolstoy đòi hỏi ở một “đám đông điên rồ” đang góp phần làm thiên nhiên tan hoang tơi tả kia, để có thể rung động nổi với cảnh Bụt cần có và đã từng có: “Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái/ Ngẩn ngơ khe suối cá nghe kinh” (Chu Mạnh Trinh)?

Cách đây gần 10 năm, sau một lễ hội Hoa Anh đào được tổ chức hoành tráng tại Hà Nội, một số trí thức, văn nghệ sĩ đã phải xót xa trăn trở: “Chỉ với hai cây Anh đào thật mà người ta làm nên cả một lễ hội, trong khi đó biết bao rừng hoa Ban tuyệt đẹp được coi là “Bà chúa Hoa rừng” trên Tây Bắc, và chỉ Tây Bắc mới có, thì đang bị đốt, bị chặt phá, và chẳng mấy ai thấy có trách nhiệm phải bảo tồn chúng!” Một nhà báo mới đi Mỹ về kể: anh tận mắt nhìn thấy hàng ngàn cây Anh đào được đem từ Nhật tới trồng tại Thủ đô Oa-sinh-tơn, và anh cùng tôi chợt buồn khi nghĩ về hoa Ban Tây Bắc… Sau bao đợt phá rừng đốt nương dữ dội, giờ đây lên Tây Bắc không còn thấy Ban ngợp trời dọc Quốc lộ 6 như cách đây vài chục năm! Tuy trên núi cao, trong rừng sâu, và nhiều đoạn đường cheo leo hiểm trở vẫn còn có hoa ban, nhưng chúng tồn tại giống như sự lẩn lút! Một trí thức người Thái ở Thái Lan khi sang Tây Bắc Việt Nam đã phải ngẩn người xúc động trước sự hoang sơ gần như nguyên vẹn của cảnh vật thiên nhiên, và đặc biệt là sự tồn tại của hoa Ban. Trong khi đó, ở nước ông, tất cả đã biến thành đường cao tốc, nhà cao tầng, khu công nghiệp, không còn đâu những mái nhà sàn cổ, những dòng suối nhỏ chảy róc rách, những thung lũng yên bình đẹp như mơ, và lấy đâu ra những vạt hoa ban trắng ngần long lanh trong nắng sớm...!

Những năm qua, cứ mỗi lần biết được một sự tàn phá thiên nhiên tại Việt Nam, tôi tin rằng rất nhiều người cũng như tôi, đều tựa bị dao đâm, lửa đốt. Vì đâu nên nỗi? Thiên nhiên là một trong những Ngôi Đền thiêng liêng nhất của nhân loại từ xửa xưa, và của mỗi người dân Việt từ thuở ấu thơ, sao giờ lại là đối tượng bị tàn sát, bị truy đuổi một cách man rợ đến vậy ngay trên mảnh đất chữ S?

Thù ghét thiên nhiên thì làm sao yêu được con người? Còn khi dửng dưng trước thân phận, nỗi đau của người khác thì thiên nhiên cũng sẽ chỉ là thứ xa lạ, bị ruồng bỏ, hoặc chỉ để lợi dụng nó. Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ bị xẻ thịt không thương tiếc bởi không ít quan chức và văn nghệ sĩ có tên tuổi để phục vụ cho hưởng thụ cá nhân! Trong hệ thống giáo dục của ta, từ bậc tiểu học tới đại học, thiên nhiên đã được dạy dỗ ra sao, để tới nay, số người hiểu biết thực sự về nó và bênh vực bảo vệ nó một cách hiệu quả còn quá ít ỏi, để lấn át đến nhức óc là những khẩu hiệu trơ trẽn hoặc những hoạt động với mục đích giải ngân về “Bảo vệ Thiên nhiên”!

Tài nguyên Thiên nhiên với Môi trường có mối quan hệ thế nào, tầm quan trọng của Thiên nhiên đối với sức khỏe, y tế, đời sống dân sinh, văn hóa, kinh tế, giáo dục ra sao, nhiều thầy cô giáo chưa có điều kiện hiểu rõ, và thậm chí nhiều quan chức các bộ có liên quan mật thiết tới những vấn đề này chắc cũng ngắc ngứ… Tài nguyên Thiên nhiên VN đã và đang bị tàn sát, bị đầu độc, dẫn tới biết bao bi kịch đau lòng chưa từng thấy. Mỗi người Việt cần làm gì để cứu lấy tài nguyên Thiên nhiên Việt Nam?

2. Cố GS. Trần Văn Giàu đã dẫn ra 7 giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam: Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa (5). Xin được mạn phép bổ sung một bản sắc: Lòng yêu thiên nhiên. Theo tôi, nó là cái gốc của các giá trị, và thậm chí, là kết quả sau cùng, tinh hoa của các giá trị nói trên. Bởi, Thiên nhiên được phản ánh trong tâm lý và tập quán người VN từ ngàn xưa, xét cho cùng, cũng là một thành tố hữu cơ của bản sắc dân tộc.

Nói bản sắc dân tộc Việt Nam tức là nói tới những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, sẽ tạo ra những giá trị văn hóa hoặc là bản sắc văn hóa. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã từng đưa ra luận điểm độc đáo: “Văn hóa bốn F” để khái quát về văn hóa Việt Nam từ hàng ngàn năm qua (Fatherland, Family, Fate, Face – Tổ quốc, Gia đình, Thân phận, Diện mạo), và ông đã kể lại sự ngạc nhiên của nhiều học giả Pháp về mô hình làng xã kiểu Đông Nam Á mang đặc thù “văn hóa bốn F” gợi nhắc đến thành bang cổ đại của Hy Lạp(6). Trong đó, sự bảo vệ thiên nhiên như một yếu tố hàng đầu, bởi lẽ chính con người VN vốn “thương người như thể thương thân” và đùm bọc lẫn nhau trong hoạn nạn cũng được công xã làng mạc với các lũy tre làng che chở.

Đó là thứ văn hóa của những người yêu thiên nhiên tha thiết, đã dùng nhân nghĩa để đối xử tử tế với những kẻ thù đã đầu hàng: “Ai yêu như Người, cái lẽ hiếu sinh/ Một giọt nắng thanh bình/ Trên đầu ngọn lúa?” (Gửi Ức Trai – Lưu Trọng Lư). Và khi ông cha ta trông mong vào các lực lượng tự nhiên để bảo vệ cho mình trong cuộc sống nông nghiệp tự cung tự cấp, trong khi làm bạn với thiên nhiên và coi “người ta là hoa đất”, thiên nhiên cũng được tôn thờ, được thần thánh hóa (như: Con cóc là cậu ông Trời…).

Cái gốc của văn hóa Việt Nam là đạo Mẫu – thờ Mẹ xuất phát từ xa xưa, từ thời huyền thoại Âu Cơ và chảy mãi cho đến tận ngày hôm nay. Nó có sức sống lâu bền ở chính nền tảng nông nghiệp lúa nước. Gắn với nền kinh tế lúa nước ấy, người phụ nữ đã trở thành biểu tượng của sự cần cù, hy sinh, chịu thương chịu khó, của sự cầu may hạnh phúc no đủ, và thiên nhiên trở thành người Mẹ bao trùm, lúc ẩn sâu lúc hiển hiện trong Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải…

Danh nhân Nguyễn Văn Siêu trước cảnh vật Hồ Tây thời chưa bị ô nhiễm đã thốt lên: “Ôi, muôn vật trong trời đất, cái lớn nhất là con người, là sông núi, con người đã mất thì sông núi lại còn sao được! Chỉ có cái khí của trời đất, tích tụ chuyển vận bên trong, hun đúc nên con người. Con người được cái khí của sông núi mà thành; sông núi lại được cái khí của con người mà thể hiện ra, hợp thành cái khí bất diệt(7).

Hầu như người Việt Nam nào cũng có một quê hương thi vị của tuổi ấu thơ in hằn trong tâm tưởng, xin đọc những dòng đẹp như thơ viết về thiên nhiên làng quê Bắc Bộ của cố GS. địa lý học Lê Bá Thảo: “Từ thuở nhỏ, ai mà chẳng được sống trong lời ru của bà, của mẹ, mà âm điệu du dương của chúng mang bóng dáng của đất đai làng mạc đã tạo nền cho tình yêu quê hương đất nước thắm thiết lắng sâu vào tâm hồn…

Những cảnh vật quen thuộc của đồng bằng đã đến với tuổi thơ bao thế hệ thông qua những câu ca dao ca ngợi lao động và tình yêu quê hương, những bài tập đọc trong sách giáo khoa, những bức tranh miêu tả những cánh đồng thẳng cánh cò bay, những thôn làng nằm yên ả sau luỹ tre, có giếng nước ao làng, có mái đình chùa rêu phong cổ kính, có những cây đa cổ thụ chơ vơ ngoài gò, ngoài bãi…(8).

Tình cảm gắn bó với quê hương, với lũy tre, với cây đa bến nước sân đình… từ thuở ấu thơ đã mau chóng trở thành tình yêu Đất Nước. Cha ông ta đã gọi giang sơn của mình là Non Nước. Nước Non quấn quýt tình nghĩa trong cảm quan yêu nước của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu xét cho cùng xuất phát từ lòng yêu thiên nhiên trĩu nặng: “Nước Non nặng một lời thề/ Nước đi đi mãi không về cùng non”…

Các danh nhân văn hóa – lịch sử nước ta đều có nhiều vần thơ, bài thơ thực rung động về thiên nhiên và chúng đều đạt tới vẻ đẹp cổ điển của văn chương, như thơ của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Phạm Sư Mạnh, Cao Bá Quát, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, v.v. Trong số những câu thơ thuộc loại tuyệt đỉnh ở kiệt tác Truyện Kiều, không ít câu là viết về thiên nhiên: “Long lanh đáy nước in trời/Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng…”.

Có lần, từ trên máy bay tôi ngắm nhìn mê mải đồng bằng châu thổ vào mùa lúa chín. Câu ca xưa từ thuở mới cắp sách đến trường trở lại ngân nga: “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, thấy mênh mông bát ngát/ Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, thấy bát ngát mênh mông/ Thân em như chẽn lúa đòng đòng/ Phất phơ giữa ngọn nắng hồng buổi mai”…

Tâm hồn dân gian mộc mạc và thi vị của người lao động đã vẽ nên bao cảnh đẹp say lòng của đồng bằng châu thổ, mảnh đất chôn nhau: “Làng ta phong cảnh hữu tình/ Dân cư đông đúc như hình con long”… Là người Việt Nam, ai mà chẳng đồng cảm với học giả Pháp Pierre Gourou khi nghe ông miêu tả cảnh làng quê Bắc Bộ:

Thoạt nhìn phong cảnh châu thổ có vẻ đơn điệu xám xịt, không có duyên, nhưng dần dần, nét nên thơ và vẻ đẹp của nó lộ ra trước mắt những ai chịu khó đi tìm cảm xúc, lần theo các con đê và những con đường đất nhỏ trong các mùa khác nhau, và đi vào các xóm làng… Mặt nước mênh mông, bằng phẳng và gợn sóng, trôi chầm chậm về phía chân trời, tuỳ từng lúc mà điểm tô màu đỏ sậm, hồng nhạt hoặc xám lam; một khóm tre, đám cỏ trên thân đê, bộ lông vàng của con bò làm nổi thêm giá trị của nước phù sa đỏ cạch; đôi khi những tương quan cực kỳ tinh vi được tạo ra giữa màu hồng của sông nước và những mái rạ màu xám cũ kỹ của một làng ven sông. Những phong cảnh mà ở đó màu sắc trùm lên hình thể, việc thay đổi các sắc thái lấn át đường nét: tóm lại những cảnh quan ấn tượng chủ nghĩa…”

Đó quả là những bức tranh hội hoạ đặc sắc, là những khuôn hình điện ảnh kiểu mẫu, kèm theo lời chỉ dẫn pha màu cho hoạ sĩ hoặc cách phối màu sắc và ánh sáng cho nhà quay phim! Nhưng có lẽ, điều đặc sắc hơn cả trong công trình địa lý nhân văn của vị Uỷ viên thông tấn Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp nặng lòng yêu Việt Nam này là: Ông đã đúc kết được một cách tài tình nền văn minh châu thổ, mà ông gọi là “Nền văn minh nông dân”.

Nhà khoa học Pháp, vượt lên trên những sự kỳ thị của tầng lớp thực dân thống trị đương thời, đã hào hứng viết như sau: “Thật vậy, một trong những dáng vẻ đáng yêu nhất của châu thổ Bắc kỳ là sự hoà hợp hoàn toàn giữa con người với thiên nhiên. Từ bao thế kỷ, người nông dân đã biết tổ chức những mối quan hệ hài hoà với những cảnh quan quanh mình…”. Sau khi so sánh với sự tiến bộ hiện đại ở phương Tây mà thực chất là một sự tách rời giữa con người với ngoại cảnh tự nhiên, là sự huỷ hoại thiên nhiên, P. Gourou đã có một ý tưởng đột xuất mà cho đến hôm nay càng chứng tỏ tính chất dự báo, tính chất thời sự nóng hổi không những đối với VN mà còn mang ý nghĩa toàn cầu, buộc tất cả chúng ta phải suy nghĩ và có thể vận dụng vào thực tế hôm nay:

Sự hài hoà cổ xưa giữa con người với thiên nhiên vẫn có thể gìn giữ được nếu như người VN, đặc biệt là những người thuộc tầng lớp thượng lưu ưu tú, nghĩ rằng đó là di sản quý báu nhất của nền văn minh của họ… Nếu có một tinh thần yêu nước Việt Nam, thì họ phải dành tất cả sự quan tâm vào việc giữ gìn sự hài hoà quý báu đó giữa thiên nhiên và con người, vì đó là vấn đề tiên quyết, là vấn đề chi phối mọi vấn đề khác dù là kinh tế hoặc chính trị…”(9).

Khi đi lang thang trong một vùng thiên nhiên còn hoang sơ của huyện mới Vân Hồ, tỉnh Sơn La, tôi đã bất giác nhớ đến những dòng viết về thiên nhiên làng quê Việt Nam của hai học giả Lê Bá Thảo và P. Gourou, rồi chợt thảng thốt: Cái thiên nhiên kỳ diệu kia của vùng núi Tây Bắc nếu cũng bị phá tan nát như ở nhiều vùng quê Việt bây giờ, thì thực đau xót! Tôi đã bắt đầu có kế hoạch vận động một số nhà đầu tư có tâm huyết tới vùng huyện mới Vân Hồ làm Du lịch sinh thái hoang dã để góp phần bảo vệ kho báu tài nguyên thiên nhiên nơi này…

3. Triết gia danh tiếng người Ấn Độ Krishnamurti từng nói nhiều đến thiên nhiên trong cái “cảm giác ngưỡng mộ”, “sự tôn kính những gì phát sinh từ cái đẹp vĩ đại” của thiên nhiên, nơi sẽ diễn ra quá trình tự chữa trị vết thương lòng kỳ diệu, và “việc chữa trị ấy sẽ dần xảy tới nếu bạn sống với thiên nhiên(10). Những đề nghị trở về với đời sống thiên nhiên, để mong đạt tới sự thảnh thơi tự tại, sự “thuận thiên” của Trang Tử hiện đang làm thế giới tiêu dùng phương Tây và khắp thế giới phải sững sờ tìm hiểu (11).

Các nhà giáo dục lớn xưa nay trên thế giới là những người hơn ai hết hiểu rõ vai trò của thiên nhiên trong việc hình thành nhân cách trẻ thơ. Trong tác phẩm Emile hay là về giáo dục, nhà văn, triết gia người Pháp J.J. Rousseau thế kỷ 18 đã cho thấy hình ảnh của nhân vật Emile – sản phẩm giáo dục theo hình dung của ông là: Vững chãi, độc lập trong tư duy, phán đoán và hành động.

Vấn đề là chỉ ra cho nó cần làm thế nào để luôn khám phá ra sự thật hơn là bảo cho nó biết một sự thật”. Và để khám phá ra sự thật, không gì bằng môi trường thiên nhiên. Mục tiêu giáo dục của Rousseau là, trước khi và trong khi dạy cho Emile sự hiểu biết, cần làm cho Emile hạnh phúc tối đa trong lứa tuổi của cậu ta, với những gì được thiên nhiên trao tặng. Hình ảnh một người trẻ, độ tuổi 15 mà Rousseau muốn tạo ra là: “trí óc đúng đắn và không thành kiến, tâm hồn tự do… Không phá rối sự an tĩnh của ai hết, nó đã sống hài lòng, hạnh phúc và tự do, hết mức mà thiên nhiên cho phép(12).

Bác sĩ, nhà giáo dục người Ý Maria Montessori trong công trình Bí ẩn tuổi thơ đã có một khái niệm rất đáng quan tâm: “Đứa trẻ bị lệ thuộc” (cũng là một đề mục trong chương sách mang tên: “Những lệch lạc tâm thần”). Bà lo lắng rằng: Nếu như không tạo ra một môi trường tốt cho đời sống tinh thần trẻ em, không gắn trẻ em với thiên nhiên, không có một phương pháp sư phạm đúng đắn, sẽ tạo ra những đứa trẻ thờ ơ, lãnh đạm, lười biếng. Và những ai có ý định “máy móc hóa” học đường, “robot hóa” trẻ thơ, tách trẻ thơ ra khỏi thiên nhiên cần tỉnh ngộ trước những lời cảnh báo của Montessori cách đây hơn một thế kỷ: “Tiến bộ về mặt vật lý, hóa học và sinh học, và sự cải thiện các phương tiện giao thông chỉ làm tăng nguy cơ của sự tàn phá, khốn khổ và sự xuất hiện của cái man rợ độc ác…”(13).

Có một thực trạng nguy hiểm đang bắt đầu chiếm lĩnh tâm lý đám đông xã hội ở nước ta: Tâm lý thích hành hạ thể xác và tâm hồn người khác, nó đang nảy nở như nấm sau mưa và không chừa lứa tuổi nào! Điều này cho thấy tình trạng “tê cóng”, “bại liệt lòng nhân đức” của con người, mà có lẽ nguyên nhân sâu xa là thiên nhiên đã trở thành vật để mua bán, trục lợi, và tình yêu thiên nhiên chỉ còn chết đọng trong các câu chuyện cổ tích! (Các khái niệm nhân đức, tê cóng, bại liệt này, tôi dùng lại theo Mạnh Tử)(14).

Đây là một phương pháp giáo dục gắn với thiên nhiên mà nước ta cần học hỏi: Ý tưởng nuôi dưỡng trẻ em nhỏ tuổi sống giữa thiên nhiên còn hoang sơ xuất phát từ Đức vào cuối thế kỷ 18. Sau đó nó nhanh chóng được người Bắc Âu đón nhận và phát triển. Hoa Kỳ, đất nước của những đứa trẻ mất kết nối với thiên nhiên cũng nhanh chóng nhập cuộc. May mắn nhất, những đất nước kể trên đều là các quốc gia bảo tồn tốt hệ sinh thái và những khoảng xanh của mình.

Hiện nay, tại Đức có đến 700 trường mầm non trong rừng (chiếm khoảng 10% các trường mầm non trên toàn quốc). Số lượng các trường học theo mô hình này cũng chiếm tỉ lệ tương tự tại Hoa Kỳ. Các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành nhiều nghiên cứu để tìm ra sự khác biệt mà trường học trong rừng mang đến cho những đứa trẻ. Đặc điểm lớn nhất của thiên nhiên chính là sự đổi thay từng ngày, từng giờ… Sự bất ngờ, những điều mới mẻ luôn là động lực tốt nhất tạo nên sự hứng thú và ham thích tìm hiểu ở những đứa trẻ.

Vì thế, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những đứa trẻ học “trong rừng” có trí tưởng tượng tốt và phong phú hơn những đứa trẻ học “trong nhà”. Thêm vào đó, thiên nhiên rộng lớn và biến đổi liên tục chính là môi trường thuận lợi nhất để trẻ thực sự học được những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống”.

Con người cần kết nối lại với thiên nhiên, đó lời kêu gọi khẩn cấp từ những nước phát triển! Một bài báo của nước Anh viết: ”Một khảo sát gần đây đã nhận thấy một thực trạng đáng quan ngại là người dân đô thị đang dần mất đi sự kết nối với thiên nhiên, và cái giá phải trả ngày càng đắt. Chúng ta quên mất vẻ đẹp kỳ diệu của cây cối, không khí trong lành như thế nào, những loài động vật hoang dã cuốn hút ra sao, và khả năng làm giảm căng thẳng mà vùng nông thôn yên bình có thể mang lại cho con người… Có thể khẳng định rằng chúng ta đang sống trong thời kỳ mà thiên nhiên bị “tước đoạt” nhiều nhất trong lịch sử.

Một khảo sát mới đây của nước Anh chỉ ra rằng cứ 7 trong số 10 người nói rằng họ hoàn toàn đã “mất liên lạc” với tự nhiên. Mối liên hệ giữa con người và hệ động thực vật chính là động lực thôi thúc con người muốn bảo vệ tự nhiên… Con người lìa xa thiên nhiên sẽ khiến thiên nhiên dễ bị hủy diệt hơn”.

Báo Pháp Khoa học và Đời sống từng viết về Tám hiểm họa môi sinh của thế kỷ XXI: 1/ Nhiệt độ tăng, 2/ Đất thoái hóa, 3/ Nước hết, 4/ Hóa chất làm ô nhiễm, 5/ Vùng biển bị khai thác quá mức, 6/ Phá rừng gây nên dịch bệnh mới, 7/ Mất cân đối dân số, nam nhiều hơn nữ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt, 8/Đô thị hỗn loạn. Người ta giải thích thêm điểm cuối: nay là thời của những THỊ DÂN HUNG DỮ; cuộc sống vô cùng hỗn độn bởi một số dân quá đông cùng sống trong một diện tích quá chật chội.

Trong chương CON NGƯỜI VÀ THIÊN NHIÊN của cuốn sách Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI, hai tác giả Ý và Nhật Bản viết những năm cuối thế kỷ trước mà như trực tiếp nói về những thảm họa môi trường sinh thái của nước ta gần đây, với sự phẫn nộ đanh thép: “Chúng ta vật lộn nhau, tranh giành phần thắng. Chúng ta vung dao lên để cướp lấy những lợi ích trước mắt, mặc ai bị thiệt hại, hoặc bất chấp việc vi phạm những chuẩn mực đạo đức. Hành động như thế, chúng ta đã phá hoại môi trường của mình… Sự hiểu biết và những quyền lực đó đã làm cho chúng ta trở thành tự phụ, ích kỷ, đến mức quên cả cảm thông với thiên nhiên… quên vai trò chủ yếu của thiên nhiên trong sự sinh tồn của mình”.

”Kho tàng phát sinh sự sống của thế giới được chế biến, phân hóa, hoàn chỉnh qua hàng chục hàng trăm triệu năm trong những phòng thí nghiệm của thiên nhiên, đang bị phá hủy, đảo lộn một cách tàn bạo. Những nơi cư trú cần thiết cho sự sống và sự tiến hóa của vô số giống loài đang bị hủy diệt vĩnh viễn. Vô số cơ cấu và hệ thống khác của sự sống tương đối đơn giản nhưng không thể thay thế, cần thiết cho sự cân bằng năng động và sự điều tiết của hệ sinh thái đang bị loại trừ không thương tiếc. Chỉ có sự ngu dốt hiện nay của chúng ta ngăn trở không cho chúng ta hiểu sự phân hóa kỳ lạ và đa dạng của thiên nhiên cần thiết cho sức khỏe của con người đến mức nào”(15).

”Chúng ta và con cháu chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt trong tương lai về sự giết hại sinh thái liên tục và tràn lan ấy. Chúng ta xem thường ý nghĩa của từ ngữ khi nói rằng đại dương và môi trường thiên nhiên là tài sản chung của nhân loại. Thực tế, tất cả chúng ta là tội phạm của sự cướp phá tài sản ấy, là tội phạm đồng lõa để cho người ta tàn phá, giết hại tất cả những hình thái của sự sống khác con người một cách vô độ…(16).

Còn F. Engels trước đó hơn một thế kỷ cũng đã từng cảnh báo: Không thể thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài thế giới tự nhiên (17).

Trước cuộc sống hiện đại đang khiến cho xã hội lâm vào tình trạng hỗn loạn và đầy bất ổn, đã có không ít bài báo nước ngoài ca ngợi lối sống gắn với Mẹ Thiên Nhiên của người dân da đỏ, những người coi thiên nhiên là một món quà của Thượng Đế, và luôn tâm niệm rằng: Cần phải tôn kính, quý trọng thiên nhiên… Họ truyền dạy con cháu ”bước khoan thai trên mặt đất, sống cân bằng và hài hòa”

Chỉ khi cái cây cuối cùng chết đi và khi dòng sông cuối cùng bị đầu độc và con cá cuối cùng bị đánh bắt thì chúng ta mới nhận ra mình không thể ăn được tiền”. Đặc biệt, có một bức thư của hai tù trưởng trả lời tổng thống Hoa Kỳ là Franklin Pierce muốn người da đỏ nhượng bớt đất cho người da trắng, được coi là văn kiện hay nhất xưa nay nói về mối quan hệ thiêng liêng của các tộc người thiểu số đối với đất đai tiên tổ và quan niệm thâm thúy của họ về môi trường sống:

“… Đối với đồng bào tôi, mỗi tấc đất là thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi bờ cát, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, mỗi bãi đất hoang và tiếng thì thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong ký ức và kinh nghiệm của đồng bào tôi. Những dòng nhựa chảy trong cây cối cũng mang trong đó ký ức của người da đỏ…

Nếu có bán cho Ngài mảnh đất này, Ngài phải giữ gìn và làm cho nó thành một nơi thiêng liêng cho ngay cả người da trắng cũng có thể thưởng thức được những làn gió thấm đượm hương hoa đồng cỏ… người da trắng phải đối xử với các muông thú sống trên mảnh đất này như những người anh em”.

Báo cáo “Sự gia tăng gần đây về áp lực của con người và mất rừng đe doạ nhiều Di sản Thiên nhiên Thế giới” đã được nhận giải thưởng Elsevier Atlas. “Hành động cấp bách rất cần thiết để cứu những nơi kỳ quan này trước khi quá muộn”, Tiến sĩ James Watson của trường UQ và Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã nói: “Đó là tài sản thế giới, được cộng đồng quốc tế thừa nhận như viên ngọc quý trên vương miện khi nó được đưa vào bảo tồn thiên nhiên, và nó đáng được bảo vệ cho toàn thể nhân loại”.

Đại sư Shayalpa Tenzin Rinpoche đã ra thông điệp được BBC trích dẫn: “Theo thiển ý của tôi thì tất cả chúng ta ai cũng đều có trách nhiệm bảo vệ môi trường chung và cuộc sống sẽ có ý nghĩa nếu chúng ta tìm ra cách thức tôn trọng môi trường tự nhiên tốt nhất trong khả năng của mình. Muốn chăm sóc bảo vệ môi trường thì cần chăm sóc bảo vệ chính chúng ta về lâu dài vì đó là điều đem lại lợi ích cho thế hệ sau… Thực sự, điều quan trọng nhất là biết tôn trọng và yêu quý vẻ đẹp thiên nhiên”.

Trước tình cảnh rừng Amazon sắp mất nửa số loài vì biến đổi khí hậu, và tình hình Trái đất đang trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết, 20.000 nhà khoa học đã ký vào một bức thư, đồng loạt cảnh báo về thảm họa diệt vong của nhân loại. Bức thư có tựa đề: Khoa học thế giới cảnh báo nhân loại: Lời cảnh tỉnh thứ hai (Nguyên văn: World Scientists’ Warning to Humanity: A Second Notice). Đây là thông báo tiếp sau lá thư đầu tiên vào năm 1992 do Uỷ ban khoa học quan ngại (UCS) phát hành, nhằm cảnh báo về vận mệnh của nhân loại.

Có khá đông người trẻ ở Hồng Kông đang từ bỏ những cơ hội tìm công việc có lương cao để chọn những công việc lương thấp nhằm giúp bảo vệ môi trường, thường gây nhiều thất vọng cho các bậc cha mẹ truyền thống.

Những hoạt động tích cực của các nhà khoa học, các tổ chức xã hội – chính trị và khoa học khắp thế giới đang nhằm vào cái đích mà đất nước được mệnh danh là “Quốc gia hạnh phúc nhất thế giới” đã đạt tới: “Đó là khu bảo tồn sinh thái tốt nhất trên hành tinh của chúng ta…. Costa Rica cũng không chạy theo đồng Đô-la của các viện bào chế thuốc tây Âu Mỹ hay của các tập đoàn khai thác năng lượng phương Tây để bán rẻ tài sản thiên nhiên của mình…”

Mơ ước tạo dựng nên những vùng đất hạnh phúc và đáng sống như thế, có biết bao ”kẻ mộng mơ” từ Đông sang Tây hàng ngày cặm cụi, đơn độc làm công việc tưởng như ”dã tràng xe cát” để đem lại dù chỉ một bóng cây, thậm chí có ông lão đã tạo nên cả một khu rừng nhiệt đới từ đám đất sỏi, có đôi vợ chồng già đã mất 15 năm để biến sa mạc thành ốc đảo… Và nhiều nhân vật có thực khác gây xúc động lòng người thấm thía trong bài báo ngắn của Phạm Thu Hương: Đời luôn sẵn kẻ mộng mơ (dotchuoinon.com)

4. Chúng ta tìm về thực trạng thiên nhiên VN giữa khi cả xã hội loài người đang xao xác tơi tả bởi những vấn đề Môi trường cùng các hệ lụy đau lòng bởi Môi trường bị tàn phá, Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, giữa khi con người trên khắp hành tinh đang bị Thiên nhiên trả thù đích đáng bởi sự thiển cận, độc ác, tham lam của chính mình...

Vào giữa thế kỷ trước, mục sư Martin Luther King, nhà hoạt động nhân quyền Mỹ được giải Nobel Hòa bình đã cay đắng thốt lên trước các thảm họa môi trường: "Quá muộn rồi. Sau đây, chúng ta sẽ đi về đâu, sự hỗn loạn hay một cuộc sống cộng đồng?"

Bảo vệ môi trường lâu nay không còn là vấn đề riêng của một quốc gia mà là vấn đề sống còn của toàn nhân loại. Từ ngày 5.6.1972 tại Stockholm (Thuỵ Điển) đã có Hội nghị môi trường thế giới lần đầu tiên để nhắc nhở “Con người hãy cứu lấy cái nôi của chúng ta”, lấy ngày 5.6 hàng năm là ngày Môi trường thế giới.

Sau đó, tháng 6.1992 tại Brazil, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường thế giới diễn ra với sự tham dự của hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, một lần nữa khẳng định tình trạng suy thoái môi trường nghiêm trọng, kêu gọi mọi quốc gia hãy hợp tác hiệp lực trong trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Nhưng cho đến nay, vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn là vấn đề nóng bỏng của mỗi quốc gia.

Ở VN, sự trì trệ, bảo thủ, tầm nhìn hẹp, yếu kém về chuyên môn, cộng với tình trạng tham nhũng khoa học đã khiến Sự nghiệp Môi trường trở nên lạc hậu so với thế giới hàng thập kỷ, và là căn nguyên của một hệ thống chính sách sai lầm về các vấn đề Môi trường. Điều đó dẫn tới hệ quả là môi trường ô nhiễm tràn lan khủng khiếp chưa từng thấy, Tài nguyên (tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người) bị khai thác bừa bãi phung phí khiến những ai có lương tri và hiểu biết đều phải đau xót đến đứt ruột.

Trong một công trình nghiên cứu công phu, cuốn Môi trường và con đường phát triển(18), lần đầu tiên những vấn đề lý luận về Môi trường ở nước ta mới được đặt ra một cách hệ thống; ở đây, PGS.TS. Nguyễn Đắc Hy đã phân tích khá kỹ lưỡng hai nội dung khái niệm: "Tài nguyên Thiên nhiên" và "Tài nguyên Con người", cùng khái niệm "Lượng giá trị của tài nguyên" và những vấn đề kinh tế học của Môi trường.

Sau khi nói đến tình trạng khai thác bừa bãi vốn thiên nhiên, vốn con người suốt những năm qua (sự bất cập, phi lý trong chuyện khai thác khu công nghiệp, sân golf... dẫn tới mất đất nông nghiệp, trong việc đầu tư, xuất khẩu lao động bừa bãi...), tác giả thốt lên: vốn tài nguyên đó của Đất nước nếu không biết quý trọng, không biết khai thác, quản lý một cách khoa học và có lương tâm thì sẽ có tội lớn với Dân tộc!

Ông bảo: ở nước ta, người nghiên cứu kinh tế thường chỉ quan tâm đến đồng tiền nhảy múa mà bỏ quên vấn đề Tài nguyên (Thiên nhiên và Con người). Theo ông, khi người ta mới làm chính trị về môi trường, chứ chưa làm môi trường thực sự, thì số phận thiên nhiên vẫn còn bị đe dọa.

Quả vậy, hiện tại ở VN, hàng ngày vẫn đang tràn ngập những câu chuyện tàn phá môi trường: Chất thải đổ ra biển, rừng bị tàn phá nặng nề, kênh rạch, sông hồ bị ô nhiễm... Ngoài việc đổ thuốc trừ sâu xuống các hồ tôm cá, thả chông và mảnh chai xuống ruộng, còn những “hành vi trả thù” tàn ác khác như đốt mía, đổ thuốc vào thân dừa, chặt chân trâu bò… Khủng khiếp nhất là thảm họa Formosa, rồi bãi chôn xỉ lấn biển của Formosa, chuyện các nhà máy thép DANA, chuyện phá rừng để nuôi bò và thi hoa hậu, các nhà máy gây ô nhiễm khắp nơi, sông chết, biển chết trên cả nước; Hà Nội, TP. HCM thi nhau chặt cây trong lúc đây là hai thành phố thuộc diện ô nhiễm nhất thế giới...

Đau đớn nhất là chuyện những con chim bị khâu mắt, cột chân giữa nắng để làm mồi nhử đồng loại giữa quê hương đại thi hào Nguyễn Du! Báo chí trong nước đưa tin về các công ty nước ngoài đổ chất thải xuống biển, đã tự kiểm duyệt cụm từ “chất thải”, thay thế bằng cụm từ “vật liệu nạo vét”.

Báo Thanh Niên cho biết, việc khai thác khoáng sản titan tràn lan ở Bình Thuận sẽ làm cạn kiệt nguồn nước ngọt tự nhiên... Báo Một Thế Giới có bài điều tra về nạn khai thác cát tặc đang hoành hành tại miền Tây, được chính quyền bảo kê, dẫn đến hiện tượng sạt lở khủng khiếp. Cũng báo Thanh Niên: “Việc Bộ Tài nguyên – Môi trường cấp phép nhận chìm gần 1 triệu m3 bùn thải xuống biển Bình Thuận, theo các chuyên gia, bản chất là xả thải. Nó sẽ hủy hoại vĩnh viễn cả một vùng biển giàu có và độc nhất vô nhị về nhiều mặt của Việt Nam”.

Theo báo Sài Gòn giải phóng, người dân “Bất an với gần 1 triệu m³ chất thải “chôn” xuống biển”. Còn tại Tây Nguyên, dẫn lời quan chức tỉnh Đắk Nông, báo Tuổi Trẻ cho biết, “người dân xã Nhân Cơ rất lo lắng trước hiện tượng chất bột màu trắng từ Nhà máy chế biến alumin Nhân Cơ phát tán và bám đầy trên cây trồng“.

Một trong những tiếng nói thấm thía nhất về sự tàn phá môi trường là loạt ký sự: Sơn Trà ký sự (Kỳ 6: Khoa học của sự tôn kính thiên nhiên) trên báo Một Thế Giới: ... “Có thể nói, trong máu của người Đà Nẵng có linh khí của Sơn Trà. Đó không phải là thứ “linh khí” của niềm tin tôn giáo, mà là thứ linh khí có thật từ thảm thực vật và các loài sinh vật, trong đó có vô số dược liệu hấp thu nguyên khí của đất đai trời biển, lan tỏa theo nắng gió đến với con người... Đó là chưa kể đến việc khôi phục rừng tại Sơn Trà có ý nghĩa khoa học như thế nào đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học và khôi phục rừng trong cả nước và tác động quốc tế của nó, vì như đã nói, Sơn Trà có hội đủ các điều kiện dung trú hầu hết các loài thực vật trong cả nước và trên hành tinh... Sơn Trà không bị bom và chất độc hóa học, rừng nguyên sinh bị hủy diệt từ lòng tham và lợi ích thiển cận của con người”.

Khi Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái ký bừa để kỷ luật một người bảo vệ Sơn Trà, ta có thể nhận thấy: đằng sau sự việc này là sự dửng dưng trước số phận Thiên nhiên của ông thứ trưởng, và đó là hệ quả đáng tiếc của cả một quá trình giáo dục mà ở đó, lòng yêu thiên nhiên không được coi trọng như các tiêu chí đạo đức khác.

Khi bệnh vô cảm và ích kỷ đã tràn lan khắp đất nước, đã có biết bao tiếng nói đau xót đến chảy máu mắt về thảm cảnh tàn phá thiên nhiên, như những tâm sự sau đây: “Hiện tại, U Minh Thượng hay U Minh Hạ, rồi Đất Mũi, tất cả rừng đước, sú, vẹt cả mấy trăm năm tuổi, thậm chí ngàn năm tuổi đang bị khai thác một cách vô tội vạ… Cả một cung đường dài từ Nam chí Bắc đều là cây cối trơ trọi. Thay vào đó là hàng quán, đi chừng 300 mét đã có quán thịt rừng, đặc sản rừng, khu nhà trọ, quán nhậu… Giờ có vẻ như Trường Sơn cũng chẳng còn bao nhiêu cây để chặt, người ta lại kéo về thành phố để chặt, mà đáng sợ nhất vẫn là chặt cây theo dự án! Có không biết bao nhiêu ngàn hecta rừng Trường Sơn bị chặt phá theo dự án thủy điện mà sự thật đằng sau cái dự án đó là bóng ma nhà buôn Trung Quốc…”

Vấn đề Môi trường và Thiên nhiên bị tận diệt cũng đã nóng lên trong các phiên họp Quốc hội. Theo Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội Đặng Thuần Phong, người dân Việt Nam hiện không thể an tâm khi nhiều nơi rừng đã hết, có chỗ biển gặp sự cố môi trường nặng nề, tài nguyên khoáng sản quốc gia cho các đời sau dần cạn kiệt… Đại biểu Phong quan ngại về tình trạng đưa công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường vào trong nước gây ô nhiễm môi trường. “Khi đất đã chết, sông chết, rừng sắp hết, biển gần chết… thì tiền có nhiều đến đâu đi nữa cũng không thể mua được môi trường tươi đẹp mà chúng ta đã mất và đang mất .

5. Tại VN, đã xuất hiện ngày một nhiều những tổ chức Mơ Mộng, những “người Mơ Mộng”, những hoạt động Mơ Mộng sẽ có khả năng giúp cho tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường sinh thái thoát khỏi nguy cơ rơi xuống vực thẳm. Như một vài nhà đầu tư đã dũng cảm tìm đến thiên nhiên còn nguyên sơ của huyện Vân Hồ làm du lịch sinh thái kết hợp với nông nghiệp xanh và quy trình công nghệ sinh học khép kín.

Như Diễn đàn Nhà báo Môi trường đã từng cử nhà báo tới vùng lõi Tam Đảo đứng trước nguy cơ bị xẻ thịt để có dữ liệu phản biện một cách quyết liệt (Người viết bài này là một trong hai nhà báo VN đầu tiên đã leo tới nơi xa xôi nguy hiểm nhất của Tam Đảo II để thực thi sứ mệnh trên của Diễn đàn này)(19). Như Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD), với Dự án “Thực tập sinh và đại diện cộng đồng chung tay nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại các khu dự trữ sinh quyển Việt Nam - Học hỏi và chia sẻ những bài học thực hành tốt giúp thúc đẩy sự tham gia của thanh niên trong thích ứng với BĐKH tại khu vực Vịnh Hạ Long”...

Như Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường TP.HCM, là một tổ chức quần chúng tự nguyện nhằm tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, phổ biến kiến thức về bảo vệ thiên nhiên và môi trường; thực hiện các hoạt động phản biện xã hội, tư vấn về công nghệ, sản xuất sạch trong lĩnh vực môi trường; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ thiên nhiên và môi trường…

Như GS.TS Đặng Huy Huỳnh, nhà khoa học đầu tiên của VN vừa được ASEAN vinh danh Anh hùng đa dạng sinh học ASEAN khi ngồi hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án lớn đã phản đối hoặc đề nghị bỏ không làm nhiều dự án để bảo vệ môi trường tự nhiên... Như nhóm yêu quý và bảo vệ Cát Tiên tổ chức triển lãm ảnh Rừng Việt: “Cát Tiên trong tôi”…

Như các sinh viên khoa ngữ văn Anh (ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM) đã bằng vật liệu cũ và tái chế thiết kế nhiều bộ trang phục thời trang độc đáo và bắt mắt trong cuộc thi trình diễn thời trang… Như Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường tỉnh Phú Yên đã đưa kiến nghị bảo vệ rừng trắc tại lưu vực suối Đá Bàn… Như Không Gian Chia Sẻ S.hub với định hướng tập trung vào hỗ trợ phát triển giáo dục, góp phần giúp giới trẻ kiến tạo tương lai, đã giúp mọi người vừa hưởng thụ thiên nhiên miễn phí vừa bảo vệ thiên nhiên (như Khám phá Sơn Đoòng qua trải nghiệm thực tế ảo)…

Như Hội thi “Chúng em bảo vệ thiên nhiên, môi trường” - một trong những hoạt động giáo dục môi trường trong trường học, là một hợp phần thuộc Chương trình Trồng rừng được triển khai tại 4 trường THCS thuộc địa bàn vùng đệm VQG Ba Vì… Như 22 bạn trẻ đã đoạt được giải thưởng lớn nhất trong Cuộc thi Tê giác hoang dã (Wild Rhino Competition) từ 1.500 bài dự thi và được tham quan Nam Phi 5 ngày để trải nghiệm thiên nhiên hoang dã…

Như Hội chợ triển lãm quốc tế về Sản phẩm sinh thái (EPIF 2008) tại Hà Nội, sau đó Việt Nam tiếp tục đăng cai tổ chức EPIF 2017 tại TP.HCM với chủ đề “Công nghệ và sản phẩm xanh - Hành động cho tương lai”… Như tổ chức cuộc thi vẽ tranh “Trẻ em với môi trường”, ghép tranh cổ động về môi trường, chương trình chiếu phim về khoa học và môi trường, thi tìm hiểu về sản phẩm sinh thái và công nghệ môi trường…

Như nhiều bậc phụ huynh đang kiên trì dạy con bảo vệ thiên nhiên môi trường, tìm cách kết nối con trẻ với môi trường tự nhiên, rồi chia sẻ giúp các phụ huynh khác khơi gợi tình yêu thiên nhiên ở trẻ… Như các nhà giáo, các nhà làm chương trình giáo dục đang vắt óc tìm cách lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường trong các bài giảng, trong các chương trình đào tạo giáo viên các cấp…

Như hoạ sĩ Văn Ngọc, người đã tìm mọi cách đưa thiên nhiên vào khung cảnh sống của gia đình mình ở Vũng Tàu - trong đó có cả những thứ phế phẩm như mẩu gỗ cháy dở, thanh côp-pha nham nhở vữa bỏ đi, nồi gốm sứt mẻ, ống thoát nước đất nung bị loại, v.v. Thế rồi, những con ong bay về tìm đến các hộp gỗ đục lỗ để làm tổ; dây leo cây dại mọc tự nhiên trên những hòn đá được bày làm ghế ngồi quanh sân…

Điểm sơ qua những việc, những người Mơ Mộng như thế để thấy: xu thế xây dựng nền văn hóa bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường đã bắt đầu trở thành một nhu cầu tự bên trong, có tính cấp thiết của xã hội.

6. Tạm kết.

Một học giả Mỹ nghiên cứu sâu về phương Đông đã tâm đắc với nhà phê bình phân tâm học Pháp nổi tiếng G. Bachelard khi bàn về chất thơ của không gian trong thiên nhiên có tầm quan trọng thế nào đối với cuộc sống: Không gian có một ý nghĩa tình cảm hoặc thậm chí một ý nghĩa duy lý do một loại tiến trình mang tính thơ (a kind of poetic process)(20). Nếu không gian con người mất đi cái chất thơ này, sẽ xảy ra hiện tượng đau lòng và khủng khiếp mà học giả người Nga B.I.Kozlov đã cảnh báo: Có thể dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa nhân văn và dứt khoát loại bỏ Homo Sapiens ra khỏi vũ đài lịch sử; Và khi đó, điểm cuối cùng sẽ được xác định: Máy móc sẽ là cái duy nhất trong vũ trụ mang Tinh thần và Lý trí (21).

Rất nhiều nhà khoa học có lương tâm trên thế giới đã lên tiếng gay gắt trước nguy cơ chủ nghĩa vị kỷ độc ác hủy diệt Thiên Nhiên và Môi Trường sinh thái, và họ nhấn mạnh tới chủ nghĩa nhân đạo mang tính toàn cầu trong sự nghiệp cứu vãn trái đất cả phần xác lẫn phần hồn ; xin dẫn ra một tiếng nói khá tiêu biểu giúp cho những người VN đang lo lắng cho vận mệnh Đất nước cùng suy ngẫm:

Quả Đất Mẹ còn vô số những vấn đề chưa được giải quyết... Trước tiên, cần giải quyết những vấn đề mà chúng ta phải chịu trách nhiệm do quan hệ tồi tệ của chúng ta đối với Thiên Nhiên trên hành tinh này gây ra. Thiên Nhiên là phần thân thuộc của chúng ta, là nguồn thường xuyên và thiết yếu của sự sống. Cải thiện mối quan hệ đó là mục đích chính của chúng ta (22).

Còn một trong những mục đích chính và cấp thiết của tất cả người Việt Nam lúc này là: Hãy cứu lấy tài nguyên Thiên Nhiên của Đất Nước chúng ta đang có nguy cơ bị tận diệt!

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn



Chú thích

1. Aurelio Peccei (Italia) và Daisaku Ikeda (Nhật). Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI, Trương Chính & Đông Hà dịch. Nxb Chính trị Quốc gia, H 1993, tr.25

2. L.Tolstoi. Đường sống-Văn thư nghị luận chọn lọc, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch, giới thiệu, chú giải (với sự tham gia của một số người khác). Nxb Tri thức, H 2015, tr.171

3. Đường sống… Sđd, tr.226

4. Đường sống… Sđd. Tr.200

5. Trần Văn Giàu. Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, H, 2011

6. Phan Ngọc. Một cách tiếp cận văn hóa, Nxb Thanh niên, H, 1999-tr.359-366

7. Phương Đình văn loại. Trần Lê Sáng dịch. Nxb văn học H 2001, tr.34

8. Lê Bá Thảo. Thiên Nhiên Việt Nam, Nxb KH &KT, H 1978

9. Pierre Gourou. Người nông dân châu thổ Bắc kỳ - Nghiên cứu địa lý nhân văn, nhiều người dịch. Nxb Trẻ, HCM 2003

10. Krishnamurti tinh yếu. Nguyễn Ước dịch. Nxb Văn học, H 2002

11. Trang Tử và Nam Hoa kinh. Nguyễn Hiến Lê giới thiệu và chú dịch. Nxb Văn hóa-Thông tin, H 1994

12. J.J. Rousseau. Emile hay là về giáo dục. Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương dịch. Nxb Tri Thức, H 2008. tr. 273, tr. 277

13. Maria Montessori. Bí ẩn tuổi thơ. Nghiêm Phương Mai dịch. Nxb Tri Thức, H 2014. tr.281, tr.326

14. Francois Jullien. Xác lập cơ sở cho đạo đức- Đối thoại của Mạnh Tử với một nhà triết học Khai sáng, Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới thiệu. Nxb Đà Nẵng, 2000-tr.132

15. Tiếng chuông cảnh tỉnh… Sđd, tr.30

16. Tiếng chuông cảnh tỉnh… Sđd, tr.62

17. Mác Ăng-ghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H 1994. tr. 655

18. Nguyễn Đắc Hy. Môi trường và con đường phát triển, Nxb Công an nhân dân, H 2011

19. http://vanviet.info/van/thin-duong-hay-dia-nguc/

20. Edward Wadie Said. Đông phương luận, Nxb Tri thức, H 2014. Tr.101.

21. Lương Việt Hải & I.K. Lixiev đồng chủ biên. Hiện đại hóa xã hội và sinh thái, Nxb KHXH, H 2008, tr. 211

22. Tiếng chuông cảnh tỉnh... Sđd, tr. 84

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1884)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1377)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1961)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1644)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1993)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1863)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1733)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1558)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2348)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2482)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9478)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16347)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15291)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15666)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1884)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1960)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1992)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2347)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4400)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6212)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5537)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6133)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1863)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2064)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1929)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1732)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1558)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1739)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1724)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12503)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28704)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35251)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35116)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10038)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12091)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1376)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1960)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2347)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2482)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2879)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7142)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6561)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8601)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.